Wednesday, January 11, 2012

Các mô hình bảo hiến trên thế giới và khả năng lựa chọn của Việt Nam



Lượt xem: 9
Cập nhật ngày: 11/01/2012


Các mô hình bảo hiến trên thế giới và khả năng lựa chọn của Việt Nam

Cơ chế bảo hiến hiểu theo nghĩa hiện nay lần đầu tiên xuất hiện ở Mỹ đầu thế kỷ 19, và không phải trên cơ sở hiến pháp mà từ án lệ. Chánh án Toà án Tối cao J. Marshall phán quyết về vụ Marbury v. Madison (Marbury kiện Madison) năm 1803: “Chỉ có toà án mới có quyền và có nghĩa vụ tuyên bố cái gì được gọi là luật”, “một văn bản luật trái với Hiến pháp không phải là luật”[1]. Tiền lệ này đã đặt nền tảng cho mô hình Mỹ về hoạt động bảo hiến với đặc điểm chính là xem xét tính hợp hiến của các đạo luật do các toà án bình thường thực hiện.
Sau đó, sau Đại chiến thế giới lần thứ I, ở châu Âu đã xuất hiện mô hình của mình, một mô hình mới về nguyên tắc, do học giả người Áo Hans Kelsen sáng tạo ra[2]. Khác biệt chủ yếu của mô hình này so với mô hình Mỹ là hoạt động bảo hiến tách khỏi hệ thống tòa án nói chung và do cơ quan chuyên trách thực hiện: toà án hiến pháp. Mô hình này được gọi là mô hình châu Âu.
Đến nay, sau các giai đoạn phát triển, chế định này đã lan truyền rộng rãi, được khẳng định ở các nước châu Âu, ở nhiều quốc gia mới thành lập sau Đại chiến thế giới lần thứ II tại châu Á, châu Phi, châu Mỹ La tinh, ở các nước Đông Âu cũ, các nước đang phát triển mà trước đó chế định này hoặc bị huỷ bỏ hoặc không hề tồn tại[3]. Đến năm 2008, trong số 191 nước được khảo sát, 158 nước có các quy định liên quan đến cơ chế bảo hiến. Trong đó, 79 nước có quy định trực tiếp trong Hiến pháp về Tòa án hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến; 60 nước quy định về cơ chế bảo hiến của tòa án thường hoặc Tòa án tối cao; một số ít nước như Trung Quốc, Việt Nam, Miến Điện quy định cơ quan lập pháp có thẩm quyền kiểm tra tính hợp hiến[4]. Bên cạnh hai mô hình chính trên đây, còn có mô hình hỗn hợp, mô hình Pháp với Hội đồng bảo hiến, và một số hình thức bảo hiến khác [5].
Chú dẫn
Toà án Hiến pháp
Toà án tối cao
Hội đồng bảo hiến
Các dạng khác
 Kiểu châu Âu




Kiểu Mỹ




Kiểu hỗn hợp Âu – Mỹ




Kiểu Pháp




Các hình thức khác




 Không có giám sát Hiến pháp




 Khối thịnh vượng chung mới




 Không xác định




Bài viết này điểm lại các mô hình bảo hiến tiêu biểu trên thế giới theo trục các vấn đề sau đây: thẩm quyền của cơ quan bảo hiến; cơ cấu tổ chức; bổ nhiệm thẩm phán, nhất là chánh án; các chủ thể có quyền đưa vấn đề ra cơ quan bảo hiến; đánh giá vị trí, vai trò của cơ quan bảo hiến. Bên cạnh đó, bài viết cũng đưa ra một vài nhận định ban đầu về khả năng lựa chọn của ViệtNam.
I- GIỚI THIỆU CHUNG
1- Các nước tòa án thẩm quyền chung thực hiện bảo hiến
Tại khá nhiều nước, hoạt động bảo hiến không tách khỏi hệ thống tòa án bình thường, mọi vụ việc về những vấn đề liên quan đến hiến pháp đều do các toà có thẩm quyền chung xem xét.
Đến lượt mình hình thức này lại có hai dạng: ở một số nước hoạt động bảo hiến  (hiểu theo nghĩa rộng) do tất cả các toà có thẩm quyền chung thực hiện (Mỹ, Nhật Bản, Philippins, các nước Bắc Âu). Bất kỳ toà nào cũng có thể phán quyết về tính hợp hiến của văn bản luật. Nhưng các quyết định của cấp toà cao nhất có ưu thế hơn vì chỉ những quyết định đó mới có tính bắt buộc đối với mọi toà khác. Chỉ sau khi cấp toà cao nhất phủ nhận tính hợp hiến của văn bản luật thì văn bản đó sẽ thực chất mất hiệu lực. Hình thức giám sát bảo hiến do tất cả các toà có thẩm quyền chung thực hiện được gọi là giám sát bảo hiến phi tập trung (decentralized constitutional review)[6].
Ở nhóm khác giám sát bảo hiến pháp cấp toà cao nhất thực hiện (Ghana, Namibia, Papua – New Ginea, Srilanca, Estonia). Hình thức này được gọi là giám sát hiến pháp tập trung(centralized constitutional review).
Ở một số nước liên bang, bên cạnh cấp toà cao nhất của quốc gia, cấp toà cao nhất của các chủ thể liên bang cũng có quyền giám sát bảo hiến (nhưng thông thường chỉ liên quan đến pháp luật của tiểu bang). Ví dụ như ởCanada-các toà cao nhất của các tỉnh, ở Ấn Độ – các toà án tối cao của tiểu bang. Nhưng tại những nước này toà án tối cao liên bang là cấp toà chung thẩm khi giải quyết một vấn đề về tính hợp hiến của luật. Tuy nhiên có thể nói ở đó có mức độ phi tập trung hoá nhất định.
Nhưng dù cho đó là sự giám sát tập trung hay phi tập trung thì vai trò quyết định ở các nước nói trên đều thuộc về cấp toà cao nhất (gọi chung là toà án tối cao) với cơ cấu tổ chức do hiến pháp quy định.
2 – Các nước có cơ quan bảo hiến chuyên trách
Những nước thuộc nhóm này có các toà chuyên trách về hoạt động bảo hiến gồm các toà án hiến pháp và những cơ quan bán tư pháp (hội đồng bảo hiến, ban hiến pháp của toà án cấp cao có thẩm quyền chung). Đây cũng được coi là giám sát bảo hiến tập trung.
a) Toà án hiến pháp: Tòa án hiến pháp hoạt động với những trình tự tố tụng gần giống với các toà có thẩm quyền chung. Hiến pháp nhiều nước quy định về những toà này tại chương về quyền lực tư pháp (Bồ Đào Nha, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, CH Séc, Slovakia, Armenia, Uzbekistan…). Như Garlicki nhận định, qua điều này “nhà sáng lập hiến pháp muốn nhấn mạnh mối quan hệ giữa hoạt động bảo hiến với hệ thống tư pháp truyền thống và công nhận toà án hiến pháp là một trong số các toà, nhưng có thẩm quyền đặc biệt”[7].
Cũng theo lời Garlicki, trong hoạt động của toà án hiến pháp “bộc lộ xu hướng tiến gần với các toà án nói chung”[8] như trình tự xét xử dựa trên các nguyên tắc tranh tụng và công khai (mặc dầu ở một số nước những nguyên tắc này được giới hạn trong những vụ việc nhất định). Các nguyên tắc chung trong xét xử được áp dụng một cách đầy đủ nhất ở Toà án Hiến pháp LB Nga gồm tính độc lập, tính tập thể, tính công khai, tính tranh tụng và sự bình đẳng giữa các bên (Điều 5, Hiến pháp LB Nga).
b) Các cơ quan bảo hiến khác
Các cơ quan bảo hiến chuyên trách còn bao gồm Hội đồng bảo hiến (Pháp, Mozambic, Marocco, Kazakhstan), Ban hiến pháp thuộc Toà án tối cao (Costa- Rica, Burkina – Faso, Estonia), Hội đồng điều tra bảo hiến (Ethiopia). Những cơ quan này không khác với toà án hiến pháp về trình tự thành lập và thành phần. Trong giới lý luận có hai quan điểm về bản chất của chúng. Một số cho rằng đó là những cơ quan bán tư pháp, chủ yếu dựa trên lý lẽ về các thủ tục tố tụng – sự thiếu vắng tính tranh luận và tính công khai. Nhưng trong các công trình nghiên cứu của mình họ đặt những cơ quan này cùng với các toà án hiến pháp. Các tác giả khác không phân biệt sự khác nhau giữa hội đồng bảo hiến và toà án hiến pháp. Ví dụ như Favoreu khi nói về Hội đồng Bảo hiến Pháp đã nhấn mạnh rằng Hội đồng “không khác với những toà án hiến pháp về thành phần, về thẩm quyền lẫn hoạt động của mình” (ông cho rằng những khác biệt về thủ tục tố tụng nói trên không có ý nghĩa)[9].
3. Tóm tắt tình hình chung
Chế định bảo hiến hiện nay có nhiều hình thức thể hiện, bởi vậy ngày càng khó có thể đưa chúng vào một trong hai mô hình – mô hình Mỹ và mô hình châu Âu. Ngày càng rõ nét hơn xu hướng xuất hiện các mô hình hỗn hợp, trong đó với những mức độ khác nhau kết hợp những nét đặc trưng của mỗi mô hình cổ điển. Vẫn giữ những khác biệt có tính nguyên tắc về mặt tổ chức (toà có thẩm quyền chung và toà chuyên trách), ở nhiều nước trên mọi phương diện còn lại có thể thấy tính chất “pha trộn” trong chế định này (về thẩm quyền, về hình thức và thể loại giám sát bảo hiến…). Bên cạnh đó, tại một số nước đã thiết lập “mô hình hỗn hợp thực sự” với đặc điểm là trong đó kết hợp cả những hình thức và thể loại giám sát bảo hiến khác nhau và các toà án khác nhau thực hiện sự giám sát đó như ở Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Nam Phi.
Xét đến tính tương đối của khái niệm, có thể nói trong giai đoạn hiện nay mô hình châu Âu đang chiếm ưu thế so với mô hình Mỹ vì những nguyên nhân lịch sử, chính trị, pháp lý khác nhau. Ví dụ như nhiều nước châu Âu từ bỏ mô hình Mỹ do những đặc điểm của hệ thống luật pháp châu Âu lục địa, vì sự “tôn thờ” luật của các luật gia châu Âu như một nguồn của luật pháp[10]. Ngoài ra, những nhược điểm của mô hình Mỹ trở nên rõ ràng, như sự ràng buộc của toà án với các tình huống trong các vụ việc dân sự và hình sự trong khi giải quyết các vấn đề hiến định, thời gian xét xử kéo dài, các phán quyết chỉ có tính chất bắt buộc đối với các bên tham gia vào vụ việc cụ thể, quyền nghi ngờ tính hợp hiến của các văn bản pháp luật và các hành vi chỉ được trao cho các cá nhân. Những nhược điểm trên đây đều được mô hình châu Âu khắc phục.
Bảng: So sánh mô hình bảo hiến Mỹ và châu Âu[11]
Các yếu tố
Mô hình Mỹ
Mô hình châu Âu
Về mặt thể chế(Ai có thẩm quyền)
Phi tập trung: Các tòa án bình thường có quyền giám sát bảo hiến – có thể tuyên một văn bản pháp luật vi hiến.
Tập trung: Chỉ có Tòa án hiến pháp có quyền giám sát bảo hiến; các tòa khác chuyển các vấn đề bảo hiến đến Tòa án Hiến pháp.
Về mặt thời điểm (Diễn ra lúc nào?)
Giám sát sau (Posteriori hoặc Ex Post): Tòa án thực hiện bảo hiến chỉ sau khi văn bản được ban hành hoặc có hiệu lực.
Cả giám sát trước (Priori hoặc Ex Ante) và giám sát sau: Một số tòa án hiến pháp giám sát bảo hiến trước khi văn bản được thông qua hoặc có hiệu lực; một số thực hiện giám sát cả trước và sau.
Cụ thể hay trừu tượng?
Cụ thể: Tòa án thực hiện bảo hiến trong các vụ việc cụ thể.
Cả trừu tượng và cụ thể: Hầu hết các tòa án hiến pháp thực hiện bảo hiến mà không cần có vụ việc cụ thể; một số thực hiện bảo hiến đối với cả vụ việc cụ thể.
Ai có quyền khởi kiện?
Các bên có tranh chấp trong vụ án bình thường có thể nêu vấn đề bảo hiến.
Các chủ thể khác nhau có thể khởi kiện bảo hiến, từ các thiết chế hành pháp, nghị sỹ, cho đến cá nhân công dân.
Hoạt động của các cơ quan bảo hiến trong việc bảo vệ hiến pháp ở mỗi nước có những đặc điểm riêng. L. Favoreu khi phân tích thực tiễn của các toà hiến pháp châu Âu có nhận xét là mỗi nước đều đi theo phương hướng nhất định. Ví dụ như ở Đức và Tây Ban Nha việc xem xét các đơn khiếu nại về những vấn đề quyền con người chiếm khối lượng chính trong hoạt động của các toà án hiến pháp, cho thấy vai trò của các toà này trong việc bảo vệ các quyền và tự do chính yếu của con người. Ở Áo khối lượng công việc chính của Toà án Hiến pháp bao gồm những vụ việc về tính hợp hiến trong các văn bản hành chính, có nghĩa là trọng tâm dồn vào giám sát các văn bản của hành pháp v.v…
II- THÀNH PHẦN, CÁCH THỨC THÀNH LẬP
Như đã nói, ở các nước hiện nay hoạt động bảo hiến được thực hiện bởi các cơ quan khác nhau có thể xếp vào hai nhóm: các toà có thẩm quyền chung và các toà chuyên trách. Hai dạng các cơ quan bảo hiến này khác nhau về trình tự thành lập cũng như về thành phần.
1. Tòa án Tối cao
Thành phần của Toà án tối cao ở các nước có số lượng không lớn và dao động từ 7 – 20 thẩm phán. Thành viên của toà án tối cao là những thẩm phán chuyên nghiệp, đáp ứng được những yêu cầu đối với cấp bậc của họ. Yêu cầu chính là có thâm niên làm việc cao trong các cơ quan toà án hoặc trong ngành luật sư. Ví dụ như ở Ấn Độ thẩm phán của Toà án Tối cao là công dân Ấn Độ, được biết đến như một luật gia xuất chúng, có ít nhất 10 năm làm luật sư, thẩm phán ở toà phúc thẩm hoặc ở hai toà bình thường trở lên (Khoản 3, Điều 124 Hiến pháp Ấn Độ).
Trừ những ngoại lệ hiếm hoi, thẩm phán của Toà án tối cao do nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm. Ở một số nước đòi hỏi phải có sự đồng ý của nghị viện về việc bổ nhiệm đó; ở các nước khác nguyên thủ quốc gia hành động theo suy xét của mình, nhưng trước khi bổ nhiệm ông ta tham khảo ý kiến với các cơ quan nhà nước khác.Tuy vậy, nói chung có thể nói vai trò quyết định trong việc thành lập Toà án tối cao ở những nước này đều thuộc về nguyên thủ quốc gia.
Ở phần lớn các nước, thẩm phán Toà án tối cao có nhiệm kỳ cho đến độ tuổi theo luật định (thường là từ 65- 70 tuổi), nhưng ở Mỹ thẩm phán Toà án Tối cao được bổ nhiệm suốt đời – được coi là một trong những yếu tố củng cố sự độc lập của thẩm phán[12].
Thẩm phán Toà án tối cao chỉ bị bãi nhiệm trong những trường hợp theo luật định. Cơ sở cho sự phế truất thường là hành vi không chính đáng hoặc vì nguyên nhân “sự bất lực về trí tuệ hoặc thể chất”. Hiến pháp các nước thường quy định trình tự phế truất phức tạp đối với Thẩm phán toà án tối cao – ở một số nước theo thủ tục luận tội (impeachment), ở nước khác theo quyết định của đa số tuyệt đối trong nghị viện, ở nước thứ ba một uỷ ban điều tra đặc biệt được thành lập và trên cơ sở kết luận của uỷ ban, nguyên thủ quốc gia sẽ đưa ra quyết định.
Hiến pháp một số nước quy định khả năng bổ nhiệm các thẩm phán tạm thời vào Toà án tối cao. Ví dụ ởNamibiatrong những vụ việc về bảo vệ quyền công dân, theo đề nghị của Chánh án, Tổng thống có thể bổ nhiệm tạm thời luật gia “có kiến thức chuyên sâu hoặc kinh nghiệm về lĩnh vực đó” làm quyền thẩm phán.
2- Nhóm các nước có toà chuyên trách

2.1. Cơ cấu tổ chức và thành phần

Các cơ quan bảo hiến ở phần lớn các nước đều có tổ chức đơn giản: ngoài bộ máy hành chính, những cơ quan đó không có thêm một bộ phận tổ chức nào khác. Tòa án hiến pháp có bộ máy hành chính giúp việc phụ trách những việc như tiếp nhận, rà soát đơn kiện, giữ mối liên hệ với công chúng, báo chí; quản lý kinh phí hoạt động của Tòa; quản lý trang thiết bị, thư tín v.v… Tòa cũng có các chuyên gia pháp lý phục vụ chung, ví dụ đề xuất phân công thẩm phán xét xử vụ kiện. Bên cạnh đó, mỗi thẩm phán của Tòa án hiến pháp có một “thư ký”- thường là luật gia đã có nhiều kinh nghiệm, uy tín. Đứng đầu bộ máy này là một quan chức hành chính có trách nhiệm báo cáo với Chánh án[13].
Những vụ việc thuộc thẩm quyền của chúng thường được toàn bộ thành viên xem xét trong phiên họp chung (chỉ cần có số lượng thành viên hợp lệ). Nhưng ở một số nước luật pháp quy định những dạng vụ việc nhất định do một hội đồng hẹp hơn xét xử. Ví dụ ở Áo có thực tiễn không được quy định trong luật là việc tiến hành các phiên xét xử của “phòng nhỏ” ngày càng có ý nghĩa…Các phiên xét xử công khai, toàn thể được dành cho những vụ việc có ý nghĩa chính trị đặc biệt”[14].
Ở một số nước các cơ quan bảo hiến chuyên trách có cơ cấu tổ chức phức tạp hơn (Tây Ban Nha, Đức, Nga, CH Séc…). Tại những nước này toà hiến pháp xem xét và giải quyết vụ việc cả trong các phiên toàn thể cũng như trong các phiên của hai phòng – là những bộ phận tổ chức thường trực của toà hiến pháp. Ở Tây Ban Nha và Đức mỗi phòng có số lượng thẩm phán ngang nhau (ở Tây Ban Nha – 6 người, ở Đức – 8 người). Ở Nga một phòng có 9, phòng khác có 10 thẩm phán với trình tự xác định thành phần do Quy chế của Toà án Hiến pháp thiết lập. Luật pháp những nước này quy định thẩm quyền cho từng phòng cũng như cho đoàn chủ tịch của toà.

2.2. Vị trí pháp lý của các thành viên

Vị trí pháp lý của các thành viên cơ quan bảo hiến chuyên trách không khác với của các thẩm phán toà bình thường. a) Trước hết, đối với họ cũng có yêu cầu về sự không kiêm nhiệm. Thành viên cơ quan bảo hiến không được là nghị sỹ cũng như của bất cứ cơ quan đại diện nào, không được là thành viên chính phủ, công chức nhà nước, không được hoạt động kinh doanh hay hoạt động chuyên nghiệp khác(trừ hoạt động sáng tạo hoặc giảng dạy), không được giữ ghế lãnh đạo trong các đảng phái chính trị (hoặc nói chung không phải là thành viên của đảng).[15]
b) Thứ hai, thành viên của cơ quan bảo hiến chuyên trách, cũng giống như thẩm phán bình thường không bị bãi nhiệm trong suốt thời gian họ được bổ nhiệm, trừ một số trường hợp luật định.
Luật pháp các nước quy định những trình tự, thủ tục khác nhau về việc chấm dứt trước thời hạn quyền hạn của các thành viên cơ quan bảo hiến chuyên trách[16]. Ở đây có thể nhận thấy hai điểm. Một, ở nhiều nước áp dụng các trình tự khác nhau tuỳ theo cơ sở chấm dứt thẩm quyền – trình tự đơn giản hơn (ví dụ khi từ chức tự nguyện) cho đến phức tạp hơn trong trường hợp mất năng lực hành vi, có những hành vi vi phạm kỷ luật hoặc làm mất danh dự, phẩm giá quan toà. Hai, trừ một số ngoại lệ, ở phần lớn các nước, quyết định về việc chấm dứt thẩm quyền của thành viên cơ quan bảo hiến do chính cơ quan đó đưa ra hoặc với sự tham gia của cơ quan đó. Điều này cũng có tác dụng tăng cường tính độc lập của cơ quan bảo hiến chuyên trách.
c) Thứ ba, vị trí pháp lý của thành viên các cơ quan nói trên cũng đảm bảo quyền miễn trừ (trình tự đặc biệt để quy trách nhiệm pháp lý). Trên phương diện này vị trí pháp lý của họ cơ bản giống với vị trí pháp lý của nghị sĩ. Ví dụ ởHungary, thành viên Toà án Hiến pháp có “quyền miễn trừ giống như quyền của nghị sĩ”. Còn Luật về Toà án Hiến pháp Bungary quy định thẩm pháp Toà án Hiến pháp “có vị trí pháp lý như Chủ tịch Quốc hội” (Điều 10).
Số lượng thành viên của các cơ quan bảo hiến chuyên trách không lớn, dao động từ 6 – 19 người tuỳ từng nước ( Pháp – 9, Ý- 15, Nga- 19…). Hiến pháp phần lớn các nước đều quy định số lượng thành viên của những cơ quan đó. Điều này có ý nghĩa chính trị quan trọng, bởi lẽ “trong trường hợp đó sẽ không thể đưa vào thành phần của toà những người ủng hộ cho một đường lối chính trị nào đó bằng cách tăng số lượng quan toà lên”[17]. Để thay đổi số lượng thì cần phải sửa đổi hiến pháp – điều không hề đơn giản.
3. Những điểm khác biệt
Các cơ quan bảo hiến chuyên trách khác biệt một cách căn bản so với các toà án thẩm quyền chung về trình tự thành lập và thành phần. Có thể nói đến một số điểm khác nhau chủ yếu sau đây:
a) Thứ nhất, thông thường có một vài nhánh quyền lực tham gia vào việc hình thành các cơ quan bảo hiến chuyên trách. Ví dụ ở những nước như Áo, Nga, Pháp… các cơ quan này được hình thành với sự tham gia của nhánh lập pháp và hành pháp. Ở nhiều nước các cơ quan nói trên được hình thành với sự tham gia của ba nhánh quyền lực là lập pháp, hành pháp, tư pháp như ở Tây Ban Nha, Ý, Bungary, Hàn Quốc…
Việc phân chia quyền hạn giữa các nhánh quyền lực khi thành lập cơ quan bảo hiến chuyên trách có mục đích nhằm bảo đảm sự độc lập của cơ quan này và tránh khả năng phải phục tùng một nhánh[18]. Nếu có nhiều cơ quan tham gia vào việc bổ nhiệm thẩm phán, thẩm phán không bị phụ thuộc vào một cơ quan, tăng cơ hội độc lập của thẩm phán. Ngoài ra, trên một mức độ nào đó, nó mang lại cho cơ quan bảo hiến tính chất đại diện chính trị, nhất là với sự tham gia của nghị viện có thành phần chủ yếu theo các đảng phái chính trị. Chẳng hạn, quy trình bổ nhiệm thẩm phán Tòa án hiến pháp ở nhiều nước như Hungary được thiết kế nhằm dung hòa tương quan lực lượng giữa các chính đảng[19]. “Ưu thế của nghị viện và gắn liền với nó là chính phủ đảng phái trong quá trình hình thành toà hiến pháp đã phản ánh quan điểm cho rằng thành phần của toà phải là kết quả của sự thương lượng giữa các thế lực chính trị”[20]. Sự thể hiện trên thực tế quan điểm này là việc phân chia các ghế thẩm phán giữa các đảng phái chính trị chủ chốt theo thoả thuận trước.
Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ là ở một số nước cơ quan bảo hiến pháp do nghị viện thành lập (như ở Đức một nửa thành viên Toà án Hiến pháp Liên bang do Thượng viện bầu chọn, một nửa – do Hạ viện).
b) Thứ hai, khác với các thẩm phán của toà có thẩm quyền chung, thành viên của các cơ quan bảo hiến chuyên trách được bổ nhiệm và bầu ra trong một nhiệm kỳ nhất định, tương đối ngắn (nhiều nhất là ở Nga – 12 năm). Chỉ ở một số nước, thời gian giữ chức của họ kéo dài suốt đời đến độ tuổi nhất định (Áo, Thổ Nhĩ Kỳ, LB Nga hiện nay). Trong đó, ở một số nước thành phần của các cơ quan này không thay đổi trong suốt nhiệm kỳ (Bungary, Ý, Nga), ở một số nước khác – luật pháp quy định sự thay đổi thành phần (Tây Ban Nha, Pháp, Ba Lan). Ở phần lớn các nước, thành viên của các cơ quan bảo hiến chuyên trách được bổ nhiệm hoặc bầu chỉ trong một nhiệm kỳ. Chỉ ở một số ít các nước cho phép bổ nhiệm thêm một nhiệm kỳ nữa (Hungary, Hàn Quốc).
Nguyên tắc bổ nhiệm suốt đời (cho đến độ tuổi nào đó) và thành phần không đổi trong thời hạn nhất định dĩ nhiên tăng cường tính độc lập của các cơ quan bảo hiến, nhưng nó cũng cản trở sự thích ứng của các cơ quan đó đối với những diễn biến trong đời sống chính trị, có thể là nguyên nhân dẫn đến những mâu thuẫn hiến pháp sâu sắc và khó giải quyết giữa chúng và các cơ quan quyền lực nhà nước khác.
Ngược lại, những mâu thuẫn như vậy sẽ được giảm thiểu đáng kể khi các thành viên của các cơ quan dạng này được bổ nhiệm trong thời gian nhất định, nhất là khi thành phần của chúng được thay đổi. Ngoài ra, như Garlicki nhận định, “sự thay đổi thành phần theo định kỳ đã làm cho các toà án hiến pháp thích ứng dễ dàng hơn với tương quan thay đổi giữa các lực lượng chính trị trong nước”[21] Tuy nhiên, trong phương thức hình thành như vậy tiềm ẩn khả năng mất sự độc lập của các cơ quan bảo hiến, nguy cơ lôi kéo cơ quan này vào các cuộc đối đầu giữa các lực lượng chính trị, mà tương quan thay đổi giữa các lực lượng đó tất yếu được phản ánh trong thành phần và do vậy – trong hoạt động của các cơ quan bảo hiến. Sự lựa chọn nguyên tắc nào là phụ thuộc nhiều vào những điều kiện cụ thể của mỗi nước.
c) Thứ ba, khác với thẩm phán của các tòa có thẩm quyền chung thường được bổ nhiệm và thăng tiến từ thấp lên cao nhờ thâm niên và đóng góp trong ngành tòa án, các thẩm phán Tòa án hiến pháp thường được bổ nhiệm từ bên ngoài, nhiều nhất là từ giới học thuật[22]. Ví dụ, cho đến thời điểm 2006, tất cả các thẩm phán Tòa án hiến pháp LB Nga đều là giáo sư luật trước khi được bổ nhiệm.
Không những thế, các cơ quan bảo hiến chuyên trách được thành lập trên cơ sở rộng hơn về “nhân sự”: thành viên của những cơ quan này có thể là giảng viên luật có tiếng, công chức nhà nước, chính trị gia và thậm chí những người không có học vấn pháp lý. Tuy nhiên, hiện nay có xu hướng hình thành các cơ quan này từ các nhân vật có học vấn đại học luật, có thời gian hoạt động chuyên nghiệp lâu năm. Ví dụ như Hiến pháp của Áo quy định mọi thành viên của Toà án Hiến pháp đều phải có “học vấn đại học trong lĩnh vực các khoa học về nhà nước – pháp luật và ít nhất có 10 năm giữ chức vụ theo chuyên nghành nói trên” (Khoản 3, Điều 147).
Thứ tư, bổ nhiệm chánh án
Một trong những vấn đề chính trong tổ chức của các cơ quan bảo hiến chuyên trách là trình tự, thủ tục bổ nhiệm chánh án – nhân vật giữ một trong những vị trí cao nhất trong bảng thứ bậc các chức vụ nhà nước. Quy trình bổ nhiệm Chánh án Tòa án hiến pháp cũng khác với bổ nhiệm Chánh án Tòa án Tối cao.
Có thể nói đến hai phương thức chính: (1) tại nhiều nước chánh án do các thành viên của cơ quan này bầu ra từ các thành viên, điều này bảo đảm đáng kể sự độc lập của cơ quan bảo hiến; (2) ở một số nước nguyên thủ quốc gia bổ nhiệm chánh án mà không cần tham khảo ý kiến hay sự thoả thuận với một cơ quan quyền lực nhà nước nào khác, kể cả với cơ quan bảo hiến chuyên trách. Trong trường hợp này nguyên thủ quốc gia có khả năng bổ nhiệm người của mình. Tổng thống Pháp, người có “quyền lực vô hạn” trong việc bổ nhiệm thành viên Hội đồng Bảo hiến, có thể “bổ nhiệm những nhân vật đồng quan điểm hoặc thậm chí cùng một đảng với ông ta”[23].
Sự luân phiên các nhân vật đứng đầu cơ quan bảo hiến chuyên trách được quy định trong luật pháp nhiều nước. Ở nhiều nước có Tòa án hiến pháp, các thẩm phán của Tòa này bầu Chánh án và Phó Chánh án, với nhiệm kỳ ngắn hơn khá nhiều so với nhiệm kỳ chung của thẩm phán Tòa án hiến pháp. Ví dụ, nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án hiến pháp LB Nga và Hungary là 3 năm. Bên cạnh đó, nếu chưa hết nhiệm kỳ, các nhân vậy này vẫn có thể phải từ nhiệm nếu các đồng nghiệp bỏ phiếu bất tín nhiệm. Do đó, Chánh án và Phó Chánh án phải giữ được uy tín để có được sự ủng hộ của các đồng nghiệp trong Tòa án hiến pháp, nhưng không chịu tác động của các lực lượng chính trị đã đưa họ vào đây[24].
Ngoài ra còn có những phương án khác: chánh án do Nghị viện bầu (Đức), do Tổng thống bổ nhiệm theo đề nghị của Chính phủ (Áo), với sự đồng ý của Nghị viện (Hàn Quốc), do Nghị viện bầu theo đề nghị của Tổng thống ( Litva).
Người đứng đầu cơ quan bảo hiến chuyên trách có những quyền hạn nhất định. Ở một số nước những quyền hạn đó rất đáng kể (như lá phiếu quyết định), ở nước khác chúng lại có giới hạn. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp vai trò thực sự của nhân vật này còn phụ thuộc nhiều vào các phẩm chất cá nhân của ông ta.
III. THẨM QUYỀN BẢO HIẾN VÀ CÁCH XÁC ĐỊNH THẨM QUYỀN
1. Các thẩm quyền của cơ quan bảo hiến [25]
Các cơ quan bảo hiến của từng nước có thẩm quyền khác nhau tùy hoàn cảnh của từng nước. Nhưng nói chung, có thể phân loại các thẩm quyền đó thành bốn nhóm.
a) Thẩm quyền liên quan tới việc bảo đảm tính tối thượng của hiến pháp trong hệ thống luật pháp quốc gia: giám sát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật; giải thích hiến pháp. Theo thẩm quyền này, nếu cơ quan bảo hiến cho rằng một đạo luật không hợp hiến, đạo luật đó không còn hiệu lực pháp lý.
Về thẩm quyền giải thích hiến pháp, ở đây nói đến sự giảng giải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc này đưa ra, có tính chất bắt buộc cho từng vụ kiện hoặc cho tất cả các vụ tương tự, chứ không phải chỉ đơn thuần làm sáng tỏ quy phạm hiến pháp.
b) Thẩm quyền liên quan tới việc bảo đảm sự tuân thủ nguyên tắc phân công quyền lực: xem xét những tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước (giữa lập pháp, hành pháp, tư pháp), giữa nhà nước và các phần lãnh thổ cấu thành (giữa liên bang và các chủ thể liên bang, giữa các chủ thể liên bang với nhau ở nhà nước liên bang, giữa các cơ quan nhà nước trung ương với các đơn vị lãnh thổ).
c) Thẩm quyền liên quan tới việc bảo vệ các quyền và tự do hiến định: Gồm các quy trình “habeas corpus”, “mandamus” (tiếng Latinh- tôi ra lệnh, có nghĩa là Toà án ra phán quyết buộc người của công quyền phải thực hiện hành vi nào đó đáp ứng quyền lợi của công dân, có hiệu lực chung); “amparo” (tương tự như quy trình “habeas corpus”, nhưng chỉ có hiệu lực trong phạm vi một vụ kiện cụ thể); khiếu kiện bảo hiến. Có thể coi giám sát tiến trình bầu cử và trưng cầu dân ý, giải quyết những tranh chấp về bầu cử thuộc nhóm này, bởi lẽ ở đây nói đến việc bảo vệ một trong những quyền chính trị quan trọng nhất của công dân – quyền bầu cử.
d) Thẩm quyền liên quan tới việc bảo vệ hiến pháp khỏi sự vi phạm của các quan chức nhà nước cao cấp. Tại nhiều nước, các cơ quan bảo hiến có thẩm quyền giải quyết những vấn đề liên quan tới việc truy tố các quan chức cao cấp (nguyên thủ quốc gia, các thành viên chính phủ, các quan tòa…), nhưng ở đây chủ yếu nói tới quy trình luận tội đối với nguyên thủ quốc gia.
Hộp: Thẩm quyền của Tòa án hiến pháp Hàn QuốcTừ khi được thành lập năm 1988 đến 2009, Tòa án hiến pháp Hàn Quốc thụ lý gần 17500 vụ, trong đó khoảng 94% vụ liên quan đến khiếu kiện về các quyền hiến định theo quy định của Điều 68, Luật về Tòa án hiến pháp; 598 vụ về tính hợp hiến của các quy định pháp luật; 61 vụ về tranh chấp thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước; và chỉ có 1 vụ về luận tội Tổng thống[26].
2. Xác định thẩm quyền
Mỗi mô hình cơ quan bảo hiến có phương thức xác định thẩm quyền của mình. Dưới đây xin trình bày thẩm quyền của cơ quan bảo hiến theo từng mô hình: mô hình Mỹ, mô hình châu Âu, mô hình hỗn hợp.
2.1. Mô hình Mỹ
Theo mô hình Mỹ cổ điển, hoạt động bảo hiến không tách rời khỏi hệ thống toà án nói chung. Tại đây không có dạng vụ việc đặc biệt về các vấn đề hiến định, chúng có thể có mặt ở bất cứ vụ việc nào, cho dù đó là vụ hình sự, dân sự,hành chính, và được phán xét ở các toà có thẩm quyền chung, theo một trình tự chung. Hiến pháp và các luật về tổ chức toà án chỉ xác định thẩm quyền chung, chứ không xác định thẩm quyền về các vụ việc hiến pháp (mặc dầu ở các nhà nước liên bang những tranh chấp giữa liên bang và các chủ thể liên bang và giữa các chủ thể liên bang với nhau được quy định riêng). Theo mô hình Mỹ, bất kỳ tòa án liên bang nào cũng có thẩm quyền xem xét, phán quyết về các vấn đề hiến pháp liên bang.
Như vậy, tại những nước này luật pháp không xác định cụ thể phạm vi thẩm quyền của các toà có thẩm quyền chung trong lĩnh vực hiến pháp. Phạm vi đó phụ thuộc vào tính chất của vụ việc được xem xét và trong nhiều trường hợp – vào sự suy xét của toà. Toà án có thể né tránh không xem xét các vấn đề hiến pháp do những nguyên nhân khác nhau. Ví dụ như Toà án tối cao Hoa Kỳ lập nên một số nguyên tắc hạn chế thẩm quyền của Toà trong lĩnh vực hiến pháp. Một trong những nguyên tắc đó là từ chối xem xét những vấn đề “có tính chất chính trị”. Đó là những vấn đề đả động đến chính sách ngoại giao, chiến tranh, vị trí pháp lý của các bộ lạc da đỏ. Như thực tiễn cho thấy nguyên tắc này được Toà án tối cao sử dụng để “tránh né việc xem xét những xung đột về hiến pháp mà Toà không muốn bị lôi kéo vào đó vì những lý lẽ khác nhau”.[27]
Tại những nước theo mẫu của Mỹ nhưng được cải biên, trong các quy định của pháp luật có những điều khoản về thẩm quyền giải quyết một số vấn đề của hiến pháp: giải thích hiến pháp; bảo vệ các quyền và tự do hiến định; giám sát bầu cử; tư vấn về các vấn đề pháp lý…Tại các nhà nước liên bang còn bổ sung thêm tranh chấp giữa liên bang và các chủ thể của liên bang. Việc quy định trong hiến pháp về thẩm quyền bảo hiến của các toà có thẩm quyền chung tại những nước đó đã mang lại cho các toà này tính rõ ràng hơn so với mô hình Mỹ cổ điển. Điều này cũng một phần nào đó xích gần mô hình cải biên với mô hình châu Âu.
2.2. Mô hình châu Âu
Thẩm quyền của các cơ quan bảo hiến chuyên trách theo mô hình châu Âu giới hạn trong việc chỉ xem xét những vụ việc liên quan đến hiến pháp. Ở các nước có tòa án hiến pháp, chỉ có tòa này mới có thẩm quyền phán xét về các vấn đề hiến pháp. Trên thực tế, ví dụ ở Đức, Áo, Nga, không hiếm khi tòa có thẩm quyền chung tạm dừng và chuyển vụ việc mà tòa đang xét xử đến Tòa án hiến pháp để Tòa án Hiến pháp xem xét vấn đề hiến pháp; sau khi Tòa án Hiến pháp có phán quyết về vấn đề hiến pháp, tòa có thẩm quyền chung mới tiếp tục xét xử vụ việc[28].
Tòa án hiến pháp cũng chỉ xem xét các vấn đề hiến pháp, mà không xem xét các vấn đề thuộc các lĩnh vực pháp luật khác[29]. Phán quyết của Tòa án hiến pháp có tính chất chung thẩm chỉ đối với vấn đề hiến pháp. Do tính chất này, mô hình Tòa án hiến pháp chuyên trách không có ảnh hưởng lớn đối với các ngành khác của hệ thống pháp luật như Tòa án Tối cao ở Mỹ hay Úc, Canada[30]. Mặt khác, đây là một trong những ưu thế của mô hình châu Âu so với mô hình Mỹ, bởi lẽ nhờ đó mà cơ quan bảo hiến chuyên trách không phải đồng thời giải quyết những vấn đề chuyên môn hẹp nhiều lúc rất phức tạp về dân sự, hình sự… và chỉ tập trung vào khía cạnh hiến pháp trong những vụ việc được xem xét.
Ở các nước theo mô hình này, trong việc pháp luật quy định thẩm quyền của cơ quan bảo hiến có hai cách tiếp cận:
i) Ở phần lớn các nước, hiến pháp liệt kê đầy đủ, cụ thể những quyền hạn của cơ quan bảo hiến và danh mục đó được lặp lại trong luật tương ứng về cơ quan bảo hiến. Như vậy, không một đạo luật nào, kể cả luật nói trên không thể thay đổi thẩm quyền của cơ quan bảo hiến bằng cách mở rộng hay thu hẹp danh mục về những quyền hạn đã được hiến pháp thiết lập. Nói cách khác, việc thay đổi thẩm quyền của cơ quan bảo hiến ở những nước này chỉ có thể bằng cách thay đổi những điều khoản thích hợp trong hiến pháp. Một số nhà lý luận cho rằng điều đó bảo đảm tính ổn định cho vị trí pháp lý của cơ quan bảo hiến, bởi lẽ nhà lập pháp không thể thay đổi cốt lõi của vị trí pháp lý của cơ quan bảo hiến bằng thủ tục thông thường. Tác giả Favoreu L. còn phát biểu một cách triệt để hơn: “Bất cứ một định chế nào mà sự tồn tại, hoạt động hay các thẩm quyền của nó có nguy cơ bị thay đổi bởi nhà lập pháp hay chính phủ đều không thể được xem xét như toà án hiến pháp, còn với bình diện rộng hơn như hoạt động bảo hiến”[31].
Tuy nhiên, một số nước thuộc nhóm này không phải mọi lúc đều theo đuổi nguyên tắc nói trên một cách triệt để. Ví dụ, CH Pháp, nơi mà thẩm quyền của Hội đồng bảo hiến được mở rộng bằng các đạo luật, thậm chí bằng các sắc lệnh và bởi bản thân Hội đồng[32].
ii) Ở một số nước, hiến pháp không liệt kê danh mục các thẩm quyền của cơ quan bảo hiến, chúng có thể được bổ sung hoặc thu hẹp bằng đạo luật (Tây Ban Nha, Séc, Đức). Ví dụ như ở Tây Ban Nha Toà án hiến pháp có thể đưa ra các phán quyết về những vấn đề không chỉ được quy định trong Hiến pháp, mà còn trong các đạo luật. Hay Đạo luật cơ bản của CHLB Đức quy định Toà án Hiến pháp hành động “trong những trường hợp do luật pháp liên bang chỉ ra” (Điều 93, Phần 2). Ngược lại, ở CH Séc luật có thể quy định những trường hợp mà theo đó Toà án Hành chính tối cao có thể thay Toà án Hiến pháp giải quyết một số vấn đề thuộc hiến pháp.
2.3. Mô hình hỗn hợp
Mô hình hỗn hợp kết hợp cả hai phương thức xác định thẩm quyền của các cơ quan bảo hiến. Tại các toà án bình thường, hoạt động bảo hiến không tách rời khỏi hoạt động xét xử truyền thống, còn các cơ quan bảo hiến chuyên trách theo hình mẫu châu Âu có thẩm quyền xét xử về những vấn đề hiến pháp riêng biệt đã được quy định trong hiến pháp và các luật ( Bồ Đào Nha, Nam Phi, Hy Lạp). Một vấn đề quan trọng đặt ra ở đây là phân định thẩm quyền giữa toà hiến pháp và các toà bình thường về các vấn đề hiến pháp. Ví dụ điển hình là các quy định của Hiến pháp Nam Phi 1994 về thẩm quyền của Toà án hiến pháp, Toà án Tối cao và các bộ phận của Toà này ở các tỉnh, các toà cấp dưới khác.

IV- GIÁM SÁT TÍNH HỢP HIẾN CỦA VĂN BẢN PHÁP LUẬT

1- Đối tượng giám sát
Đối tượng của giám sát bảo hiến là những văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền xem xét của cơ quan bảo hiến. Tùy thuộc vào phạm vi hiến định của cơ quan bảo hiến được xem xét những văn bản nào mà người ta phân biệt giám sát tổng thể và giám sát có giới hạn. Đối với loại thứ nhất không hề có sự giới hạn đối tượng, mọi dạng văn bản pháp luật đều thuộc thẩm quyền xem xét của cơ quan bảo hiến (luật, văn bản của nguyên thủ quốc gia, của nhánh hành pháp, của chính quyền địa phương). Đối với loại thứ hai luật pháp quy định cụ thể những dạng văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền xem xét của cơ quan bảo hiến.
Thông thường người ta cho rằng giám sát tổng thể tiêu biểu cho mô hình Mỹ, còn giám sát có giới hạn – cho mô hình Châu Âu. Nhưng hiện nay sự phân biệt đó không còn rõ ràng như vậy nữa: ngày càng rõ nét xu hướng mở rộng đối tượng giám sát ở các nước theo mô hình Châu Âu, ngày càng có nhiều hơn các dạng văn bản pháp luật thuộc thẩm quyền xem xét của cơ quan bảo hiến, trong đó đặc biệt có ý nghĩa là các văn bản trong lĩnh vực lập pháp uỷ quyền. Trên phương diện này, có thể nói đã có sự xích lại gần hơn giữa hai mô hình.

2. Các dạng giám sát tính hợp hiến

Để phân loại các dạng giám sát tính hợp hiến, có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau: thời điểm tiến hành giám sát, tính chất giám sát, giám sát hình thức hay nội dung…Trong bài viết này xin tập trung vào hai dạng giám sát.
2.1. Theo thời điểm tiến hành giám sát
Người ta phân biệt hai hình thức giám sát tính hợp hiến theo thời điểm giám sát: giám sát trước và giám sát sau. Hình thức thứ nhất là kiểm tra tính hợp hiến của văn bản pháp luật trước khi thông qua, công bố hoặc có hiệu lực, hình thức thứ hai – kiểm tra tính hợp hiến của những văn bản pháp luật đang có hiệu lực.

Giám sát trước

Trước hết, hình thức giám sát này hạn chế việc thông qua những văn bản không hợp hiến. Ngoài ra, bằng hình thức này có thể tránh được việc huỷ bỏ những văn bản liên quan đã được ban hành trên cơ sở văn bản không hợp hiến và như vậy bảo đảm sự ổn định của lập pháp, hạn chế lãng phí về thời gian, tiền của, công sức.
Chố yếu lớn nhất của hình thức giám sát trước là nó tạo điều kiện cho cơ quan bảo hiến can thiệp vào công việc lập pháp của Nghị viện, mà điều này lại chứa nguy cơ tiềm ẩn chính trị hoá cơ quan bảo hiến. Ngoài ra, nếu ở một nước chỉ có giám sát trước, trong quá trình áp dụng pháp luật phát hiện thấy tính không hợp hiến thì văn bản đó vẫn không bị huỷ bỏ vì không có quy trình để huỷ bỏ và vẫn được coi là hợp hiến.

Giám sát sau

Nhược điểm của giám sát trước lại là ưu điểm của giám sát sau và ngược lại. Không can thiệp vào quá trình lập pháp, khả năng kiểm tra tính hợp hiến của văn bản pháp luật có tính đến thực tế áp dụng của toà án và các cơ quan hành chính (mà điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ các quyền và tự do hiến định) – những đặc điểm này tạo nên ưu thế chính của giám sát sau.

Việc áp dụng hai hình thức này ở các nước

Tại những nước theo mô Mỹ cổ điển không có hình thức giám sát trước. Ở những nước theo mô hình Mỹ cải biên hình thức này được áp dụng có giới hạn và phần lớn mang tính chất tư vấn, theo yêu cầu của nguyên thủ quốc gia.
Các nước theo mô hình châu Âu chủ yếu dùng hình thức giám sát sau. Giám sát trước được áp dụng rất hạn chế, chỉ trong những trường hợp như: đối với những điều ước quốc tế chưa có hiệu lực nhằm tranh xung đột pháp luật giữa luật quốc tế và nội luật; khi có tranh chấp về thẩm quyền lập pháp mà đối tượng tranh chấp là các văn bản luật…
Tại Pháp và một số nước nói tiếng Pháp lại chỉ áp dụng hình thức giám sát trước và chủ yếu trước khi Tổng thống ký công bố.
Bên cạnh đó có xu hướng áp dụng cả hai hình thức. Ví dụ ở Bồ Đào Nha các toà thẩm quyền chung thực hiện giám sát sau, còn Toà án Hiến pháp áp dụng cả hai hình thức.
2.2. Giám sát trừu tượng và giám sát cụ thể

Khái niệm chung

Giám sát trừu tượng – cơ quan bảo hiến xem xét tính hợp hiến của văn bản pháp luật không liên quan đến vụ việc cụ thể hay quyền lợi cụ thể. Lý do để tiến hành sự kiểm tra như vậy là bất kỳ sự nghi ngờ nào về tính hợp hiến của văn bản pháp luật[33]. Những chủ thể nào có quyền đề nghị giám sát trừu tượng ? Thông thường đó là các cơ quan nhà nước và các quan chức, nghị sỹ. Nhưng ở một số nước công dân và hiệp hội của họ cũng có quyền đề nghị cơ quan bảo hiến giám sát trừu tượng. Ở hầu hết các nước có hệ thống này, Hiến pháp quy định chỉ một số chủ thể như Tổng thống, Chủ tịch hai viện của nghị viện, hoặc một số lượng nghị sỹ nhất định mới có quyền đề nghị Tòa án hiến pháp xem xét tính hợp hiến của văn bản pháp luật (Ví dụ như Hiến pháp LB Nga, điều 125(2). Nhưng cũng có số ít nước như Hungary, Hiến pháp trao cho cá nhân công dân quyền này (Hiến pháp Hungary, điều 32A(3). Nếu cho rằng luật, điều luật trái Hiến pháp, Tòa án hiến pháp sẽ tuyên hủy bỏ luật, điều luật đó; hoặc buộc nghị viện hoặc chính phủ chỉnh lý trong một thời gian nhất định. Như vậy, các phán quyết của Tòa án hiến pháp hướng đến chính phủ, chứ không chỉ đơn thuần các bên kiện tụng.
Giám sát cụ thể – cơ quan bảo hiến kiểm tra tính hợp hiến của văn bản pháp luật liên quan đến một vụ việc cụ thể bảo vệ lợi ích cụ thể. Chủ thể có quyền đề nghị tiến hành giám sát bảo hiến ở đây chủ yếu là các pháp nhân và thể nhân.
Áp dụng các dạng giám sát
Việc áp dụng hai dạng giám sát này khác nhau ở các nước. Mô hình Mỹ cổ điển chỉ áp dụng giám sát cụ thể, do các toà có thẩm quyền chung thực hiện trong quá trình xét xử các vụ án hình sự và dân sự. Các nước mô hình Mỹ cải biên áp dụng có giới hạn giám sát trừu tượng (chủ yếu cùng với việc ra đời chế định thanh tra Quốc hội).
Đối với các nước mô hình châu Âu và mô hình hỗn hợp (ngoài Pháp và một số nước châu Phi nói tiếng Pháp chỉ áp dụng giám sát trừu tượng), hai dạng giám sát nói trên được kết hợp với nhau. Trong đó giám sát cụ thể có hai trường hợp:
i) Toà án thẩm quyền chung dừng xét xử vụ án khi cho rằng quy phạm cần áp dụng không hợp hiến và chuyển kiến nghị lên cơ quan bảo hiến về việc kiểm tra tính hợp hiến của quy phạm đó[34]. Toà có thể chủ động làm điều này hoặc theo yêu cầu của một bên tranh chấp. Trường hợp này phổ biến hơn trường hợp thứ hai;
ii) Cơ quan bảo hiến kiểm tra tính hợp hiến của văn bản pháp luật trong quá trình xem xét đơn khiếu kiện về quyền con người. Một mặt, có thể coi đây không phải là giám sát cụ thể, bởi lẽ tính hợp hiến của văn bản pháp luật  là vấn đề phát sinh ra khiếu kiện bảo hiến, chứ không phải phái sinh từ khiếu kiện bảo hiến. Nhưng mặt khác, ở đây nói đến việc bảo vệ những quyền lợi cụ thể – những quyền chủ quan của công dân. Và như vậy, trên bình diện này đó lại là giám sát cụ thể.

Lợi thế của việc kết hợp: Kết hợp cả hai dạng giám sát nói trên là giải pháp tối ưu, bởi lẽ cho phép cơ quan bảo hiến “dung hoà giữa bảo vệ các quyền của công dân và bảo vệ tính thống nhất của hệ thống pháp luật, trong đó có cả tính tối cao của Hiến pháp”[35]. Như vậy nó nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này trong việc thực hiện hai nhiệm vụ chính của tư pháp bảo hiến.

Thực tiễn hoạt động của toà án hiến pháp nhiều nước châu Âu cho thấy giám sát cụ thể chiếm khối lượng chính trong công việc của những toà này, đặc biệt ở Đức, Áo, Italia. Ví dụ như Toà án Hiến pháp Liên bang Đức từ năm 1953 đến 1984 chỉ có 82 phán quyết theo trình tự giám sát trừu tượng, nhưng có tới 2200 – theo trình tự giám sát cụ thể, còn Toà án Hiến pháp Italia từ 1948-1976 là 406 và 5761[36].

3. Hệ quả pháp lý của giám sát tính hợp hiến

3.1. Tính chất bắt buộc của phán quyết

Trừ một số trường hợp[37], phán quyết của cơ quan bảo hiến về tính hợp hiến của văn bản pháp luật có tính chất bắt buộc. Và ở đây có sự khác biệt giữa các mô hình:

Theo mô hình Mỹ

Phán quyết của toà có thẩm quyền chung chỉ bắt buộc đối với các bên tham gia một vụ việc cụ thể liên quan đến kiểm tra tính hợp hiến. Bên cạnh đó, ở các nước thông luật, phán quyết của toà án tối cao có tính bắt buộc đối với các toà cấp dưới (nhưng không nhất thiết bắt buộc đối với các phán quyết của chính toà án tối cao và toà có thể huỷ bỏ phán quyết trước đó của mình. “Toà án Tối cao – Hiến pháp Ấn Độ quy định trong Điều 137- có quyền xem xét lại bất kỳ phán quyết hoặc lệnh của Toà đưa ra trước đó”. Trong một phán quyết của mình, Toà án Tối cao Ấn Độ cũng bày tỏ quan điểm: “Hiến pháp Ấn Độ không cấm Toà huỷ bỏ phán quyết trước đó nếu Toà tin chắc rằng phán quyết sai trái và sẽ gây ra những hậu quả tai hại cho các quyền lợi xã hội”.

Mô hình châu Âu và mô hình hỗn hợp

Theo mô hình này, phán quyết của cơ quan bảo hiến về tính hợp hiến của văn bản pháp luật có tính chất bắt buộc chung đối với mọi đối tượng, có tính chung thẩm, không được khiếu kiện. Những văn bản được coi là không hợp hiến sẽ bị huỷ bỏ và điều này được quy định rõ ràng trong luật pháp.
Tuy nhiên, trên thực tế, khác biệt nói trên giữa hai mô hình không đến nỗi lớn lắm, nhất là ở những nước có truyền thống lâu đời và vững chắc trong lĩnh vực này. Nếu toà án tối cao ở những nước như Mỹ, Canada, Na Uy cho rằng một đạo luật không hợp hiến, về hình thức đạo luật đó vẫn tiếp tục có hiệu lực, nhưng không một toà nào sẽ áp dụng nó nữa. Như vậy, đạo luật không còn được toà án bảo vệ, sẽ không còn hiệu lực pháp lý thực tế. Do đó, mặc dầu về lý thuyết phán quyết của toà án tối cao không bắt buộc chung cho mọi đối tượng, nhưng không một cơ quan hành chính nào sẽ áp dụng nó, bởi lẽ sẽ vô ích: quyết định hành chính có thể bị khiếu kiện lên toà, mà đối với toà, đạo luật mà cơ quan hành chính dựa vào đã không còn tồn tại. Và thông thường Nghị viện sẽ nhanh chóng huỷ bỏ đạo luật đó.
V- LỰA CHỌN CHO VIỆT NAM: MỘT VÀI BĂN KHOĂN
Dường như ở Việt Nam không còn tranh luận về sự cần thiết thành lập cơ chế bảo hiến nữa, nhất là khi đã có những tuyên bố, quy định của Hiến pháp và pháp luật về nhà nước pháp quyền, tính tối thượng của Hiến pháp v.v…Từ cấp cao nhất là văn kiện của Đảng Cộng sản ViệtNamđã có chủ trương nghiên cứu thành lập cơ chế này. Ý nghĩa, tầm quan trọng của nó đã được thừa nhận. Như vậy, có thể nói, ViệtNamđã có sự lựa chọn giữa không và có trong việc thành lập cơ chế bảo hiến.
Vấn đề cần phải bàn nhiều hiện nay là lựa chọn mô hình bảo hiến nào ở ViệtNam. Tác giả bài viết này chưa đề xuất một mô hình cụ thể đối với Việt Nam, vì không đủ tự tin, nhận thấy thiết lập cơ chế bảo hiến ở Việt Nam hiện nay quá khó. Trước khi lựa chọn mô hình thích hợp cho ViệtNam, cần phải giải đáp sáng rõ vài băn khoăn liên quan đến việc áp dụng cơ chế bảo hiến vào ViệtNam.
Trước hết, cần làm rõ sự tương thích của cơ chế bảo hiến với nguyên tắc thống nhất quyền lực ở Việt Nam[38]. Có tác giả đề xuất cần nhìn nhận vấn đề một cách linh hoạt hơn: khi Hiến pháp đã được đặt ở hệ cấp tối thượng thì tất cả các định chế quyền lực đều dưới Hiến pháp, kể cả Quốc hội. Vấn đề thống nhất quyền lực chỉ còn là vấn đề không tạo ra một cơ chế mâu thuẫn, đối trọng giữa Quốc hội và Chính phủ như: Chính phủ không được yêu cầu giải tán Quốc hội, và Quốc hội cũng không được lật đổ Chính phủ, Chính phủ không được từ chức tập thể[39]. Trong bối cảnh nhận thức như vậy về thống nhất quyền lực, tài phán hiến pháp không mâu thuẫn với nguyên tắc căn bản này của việc tổ chức quyền lực nhà nước ở ViệtNam. Ngược lại, cũng không ít ý kiến cho rằng, cơ chế bảo hiến không phù hợp với nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước.
Hơn nữa, nếu không mâu thuẫn với nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, vậy vị thế của cơ quan bảo hiến ở đâu? Chẳng hạn, đối với mô hình tòa án bảo hiến chuyên trách, một số nhà nghiên cứu giải thích tại sao mô hình này lan truyền rộng rãi như vậy trên thế giới, nhất là sau khi có thay đổi đột biến về chính trị-xã hội. Theo họ, bối cảnh lúc ra đời mô hình này thôi thúc các nước phải thành lập một thiết chế kiểm soát quyền lực đứng ngoài lập pháp, hành pháp và đặc biệt là đứng ngoài tư pháp[40]. Thực tế này đặt ra một số câu hỏi đối với ViệtNam như: liệu bối cảnh hiện nay đã đến độ phải có một thiết chế kiểm soát quyền lực như vậy hay chưa? Nếu có, thiết chế đó đứng ngoài như thế nào để hoạt động được? v.v…
Băn khoăn thứ hai liên quan đến năng lực để thực hiện cơ chế bảo hiến. Như đã thấy, thẩm phán cơ quan bảo hiến ở các nước phải là những người có uy tín rất cao về chuyên môn luật và đạo đức; đó là những chuyên gia hàng đầu trong giới luật. Không những thế, năng lực của cơ quan bảo hiến còn phải được bảo đảm bằng những yếu tố hỗ trợ như bộ máy, con người, thư ký, thông tin v.v…Ở Việt Nam, dường như tiêu chí chuyên môn nhiều khi nhường chỗ cho yếu tố chính trị, có thể ảnh hưởng đến yếu tố chuyên môn của công tác bảo hiến. Mặc dù cơ chế bảo hiến ở các nước không phải không liên quan đến chính trị, nhưng cơ bản nó mang tính chuyên môn pháp lý rất cao. Hơn nữa, đây lại là cơ chế rất mới ở ViệtNam, vì vậy yếu tố năng lực càng cần được chú trọng.
Băn khoăn thứ ba về tính độc lập của cơ chế bảo hiến, dù đó là Tòa án bảo hiến, Tòa án tối cao, hay là một mô hình khác. Qua các phần trình bày trên, có thể thấy cần có những yếu tố để bảo đảm sự độc lập này như: cách thức thành lập, bổ nhiệm thẩm phán, nhất là chánh án, nguồn lực v.v…Một nghiên cứu về hai chánh án nổi tiếng của Tòa án hiến pháp LB Nga và Hungary đầu những năm 1990 cho thấy, hai chánh án này luôn giữ được sự độc lập trước các sức ép khác nhau trong bối cảnh chính trị phức tạp[41]. Đó là nhờ các yếu tố nói trên, cộng với phẩm chất cá nhân của hai thẩm phán. Mà các phẩm chất đó là của những cá nhân được chọn lựa một cách đúng đắn nhờ một quy trình minh bạch.
Bên cạnh đó, ở Việt Nam, liên quan đến tính độc lập, một trong những yếu tố hết sức quan trọng là sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với các thiết chế nhà nước như cơ quan bảo hiến. Đã có khá nhiều ý kiến, trong đó có những ý kiến của các nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản qua các thời kỳ về việc không nên để xảy ra tình trạng Đảng bao biện làm thay công việc của Quốc hội, của Chính phủ, không đặt Quốc hội trước sự đã rồi[42]. Cũng như vậy, đối với hoạt động của cơ quan bảo hiến sau này, đây là yếu tố hàng đầu bảo đảm sự độc lập của cơ quan này.
Băn khoăn thứ tư liên quan đến nhu cầu sử dụng cơ chế bảo hiến. Như đã nói, mặc dù trong những năm gần đây, sự cần thiết thành lập cơ chế bảo hiến không còn là vấn đề tranh luận nhiều, nhưng khi đã thành lập, nhu cầu sử dụng cơ chế bảo hiến sẽ ở mức độ nào? Có cao không? Hay là thành lập ra nhưng chỉ xét xử mỗi năm vài vụ? Tâm lý chung của xã hội, người dân và các chủ thể công ở ViệtNamđều ngại ra tòa nói chung, chứ chưa nói đến một thiết chế hoàn toàn mới lạ như cơ quan bảo hiến.
Băn khoăn thứ năm liên quan đến sự phân định giữa cơ quan bảo hiến và những thiết chế hiện có ở Việt Namđể thực hiện kiểm soát tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật như thẩm định, thẩm tra. Khi tìm hiểu các sự lựa chọn đối với các nước về mô hình bảo hiện, một số nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến những thiết chế có tính chất tư vấn như các cơ quan quốc gia phụ trách quyền con người, Thanh tra nghị viện, các Ủy ban thông tin, Ủy ban bầu cử, Ủy ban về hiến pháp của nghị viện v.v…[43] Đây là thông tin đáng chú ý đối với Việt Nam, khi mà những băn khoăn như đã nói vẫn còn nhiều.
Cuối cùng, dù theo mô hình nào thì mục đích cuối cùng của những cơ quan này là bảo vệ hiến pháp – đạo luật tối cao của đất nước; bảo đảm nhà nước pháp quyền. Tính tối thượng của hiến pháp không chỉ bao hàm sự tuân thủ của những nguồn luật pháp khác, mà còn của tất cả các nhánh khác của quyền lực nhà nước, trong đó có quyền lập pháp. Hoạt động bảo hiến dù với hình thức hiến định nào chăng nữa đều thực hiện những nhiệm vụ chung về bảo vệ hiến pháp: bảo đảm sự ổn định và tối cao của hiến pháp, sự tuân thủ những mối quan hệ hữu cơ giữa các cơ quan quyền lực nhà nước, bảo vệ những quyền và tự do hiến định của con người.

[1] Marbury v. Madison, 5 U.S. 137, 177–78 (1803); xem thêm: John E. Ferejohn,Constituional Review in the Global Context, Legislation and Public Policy, Vol. 6:49, p. 50, Richard C. Schroeder (ed.), An Ouline of American Government, 1990, P. 95.
[2] John E. Ferejohn, tlđd; xem thêm về mô hình bảo hiến của Áo trong bài viết: Bùi Huy Tùng, Mô hình Tòa án Hiến pháp ở Cộng hòa Áo, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 173, thang 6/2010.
[3] Tom Ginsburg, The Global Spread of Constitutional Review, in OXFORD HANDBOOK OFLAW AND POLITICS, Keith Whittington and Daniel Keleman, eds., 2008; John E. Ferejohn, tlđd.
[4] Dữ liệu của University of Illinois Comparative Constitutions Project, có tại địa chỉ: netfiles.uiuc.edu/zelkins/constitutions
[5] A. Mavčič, The Constitutional Review, 2001.
[6] Xem thêm về giám sát bảo hiến tập trung  giám sát bảo hiến phi tập trung trong Aurel Croissant, Provisions, Practices and Performances of Constitutional Review in Democratizing East Asia, paper presented at the Conference: Whatever Happened to North-South? Section: Transitional Justice, Reconciliation and the Quality of Democracies, Panel: Constitutional Courts – Advocates or notaries of democracy?Sao Paulo, February 19th, 2011.
[7] Garlicki L., Chế độ hiến pháp một số nước châu Âu, Moskva, 1987, tr. 61.
[8] Như trên.
[9] Favoreu L., Toà án hiến pháp, sách dịch từ tiếng Pháp, Moskva, 1992, tr. 22.
[10] Bobotov S.V, Hoạt động bảo hiến, Moskva, 1994, tr. 54-57; Favoreu L. tlđd, tr. 6-16.
[11] Lee Epstein; Jack Knight; Olga Shvetsova, The Role of Constitutional Courts in the Establishment and Maintenance of Democratic Systems of Government, Law & Society Review, Vol. 35, No. 1. (2001), pp. 117-164, p. 121; Wojciech Sadurski, Constitutional Review in Europe and in theUnited States: Influences, Paradoxes, and Convergence,SydneyLawSchool Legal Studies Research Paper No 11/15, 2011.
[12] Erik S. Herron; Kirk A. Randazzo, The Relationship between Independence and Judicial Review in Post-Communist Courts, The Journal of Politics, Vol. 65, No. 2 (May, 2003), pp. 425-426.
[13] Kim Lane Scheppele, Guardians of the Constitution: Constitutional Court Presidents and the Struggle for the Rule of Law in Post-Soviet Europe, University ofPennsylvania Law Review [Vol. 154: 1757], p.
[14] Favoreu L., Tlđd, Tr. 36.
[15] Tuy nhiên, ở Đức cho phép thẩm phán Toà án Hiến pháp là thành viên của đảng chính trị.
[16] Aurel Croissant, tlđd.
[17] Luật hiến pháp các nước trên thế giới, Chủ biên Strashun, Moskva, 1996, tr. 73.
[18] Erik S. Herron; Kirk A. Randazzo, The Relationship between Independence and Judicial Review in Post-Communist Courts, The Journal of Politics, Vol. 65, No. 2. (May, 2003), pp. 425-426.
[19] Kim Lane Scheppele, Guardians of the Constitution: Constitutional Court Presidents and the Struggle for the Rule of Law in Post-Soviet Europe,University ofPennsylvania Law Review [Vol. 154: 1757], p.1767.
[20] Garlicki L., Tlđd, tr. 94.
[21] Garlicki L, tlđd, tr. 85.
[22] Kim Lane Scheppele, tlđd, tr.1768.
[23] Favoreu L. Tlđd, tr. 17.
[24] Kim Lane Scheppele, tlđd, tr.1768.
[25] Xem cụ thể hơn về các thẩm quyền này trong các bài viết: “Thẩm quyền của cơ quan bảo hiến các nước”, Nguyễn Đức Lam, NCLP số 7/2001; “Pháp luật các nước về kiểm tra tính hợp hiến của văn bản pháp luật”, Nguyễn Đức Lam, NN&PL, số 12/2002.
[26] Aurel Croissant, tlđd.
[27] Jidkov O. A. Toà án tối cao Hoa Kỳ: pháp luật và chính trị, Moskva, 1985, tr. 122.
[28] Kim Lane Scheppele, tlđd, tr.1762.
[29] Kim Lane Scheppele, tlđd, tr.1761, 1762.
[30] Kim Lane Scheppele, tlđd, pp.1761, 1762.
[31]  Favoreu L. Toà án hiến pháp, Moskva, 1992. Tr. 17.
[32]  Favoreu L., Philip L. Hội đồng bảo hiến, Moskva, 1991, tr. 159.
[33] Kim Lane Scheppele, xem chú thích số, p.1762.
[34] Kim Lane Scheppele, tlđd, tr.
[35] Garliski L., tldd, tr.234.
[36]  Như trên, tr.318.
[37] Nếu cơ quan bảo hiến đưa ra phán quyết về tính hợp hiến của văn bản pháp luật khi thực hiện chức năng tư vấn, theo đề nghị của Chính phủ, phán quyết đó không có tính chất bắt buộc, chỉ mang ý nghĩa như một ý kiến có uy tín về đạo luật mà Chính phủ muốn thăm dò trước khi đưa ra thông qua.
[38] Xem thêm Bùi Ngọc Sơn, Tài phán hiến pháp và viễn cảnh chủ nghĩa hợp hiến ở Việt Nam, Nghiên cứu lập pháp số 4 (141) tháng 2/2009; Võ Trí Hảo – Hà Thu Thủy, Những vấn đề lý luận của việc thành lập tài phán hiến pháp ở Việt Nam, Nghiên cứu lập pháp số 121, tháng 4 năm 2008.
[39] Bùi Ngọc Sơn, như trên.
[40] John E. Ferejohn, tlđd. Tr.56.
[41] Kim Lane Scheppele, tlđd.
[42] Ví dụ như: Nguyễn Như Du, “Đồng chí Nguyễn Văn Linh với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội”, Nghiên cứu Lập pháp, số 9,2002; Nguyễn Như Du, “Đồng chí Võ Chí Công với đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội”, Nghiên cứu Lập pháp, số 11, 2002; Vietnamnet ngày 20/4/2006, “Đảng đổi mới lãnh đạo bằng dân chủ và pháp quyền”, http://vietnamnet.vn/ ; Tuổi Trẻ ngày 26/4/2006, “Tổng bí thư Nông Đức Mạnh: Đẩy lùi, chặn đứng tham nhũng, tiêu cực”http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=134681&ChannelID=3
[43] Christopher S.Elmendorf, Advisory Counterparts to Constiutional Courts, Duke Law Journal, Vol 56, N.4, 2/2007.

TCNCLP--Nguyễn Đức Lam - Văn phòng Quốc hội

Sunday, January 1, 2012

Truyền thống pháp luật XHCN tại Việt Nam: Đôi điều suy ngẫm

Truyền thống pháp luật XHCN tại Việt Nam: Đôi điều suy ngẫm
1. Pháp luật chính là truyền thống
Văn hoá pháp luật (legal culture), hệ thống pháp luật (legal system), dòng họ pháp luật (legal family), bản đồ pháp luật (geo-jurisprudence), kiểu pháp luật (pattern of law), truyền thống pháp luật (legal tradition) là những thuật ngữ đã được sử dụng khá thông dụng trong lĩnh vực luật học so sánh của nền khoa học pháp lý trên thế giới. Trong các cách tiếp cận nêu trên, truyền thống pháp luật là phương pháp giúp các luật gia so sánh tiếp cận được các hệ thống pháp luật quốc gia từ chiều sâu văn hoá, lịch sử cũng như các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội khác. Giáo sư Pierre Legrand thuộc Đại học Panthéon-Sorbonne Cộng hoà Pháp đã khẳng định: Văn hoá là một thứ ngôn ngữ lặng câm, có vai trò vô cùng quan trọng giúp chúng ta không chỉ hiểu luật pháp về mặt vật chất (các định đề, các quy định luật pháp thực định) mà điều quan trọng hơn nó giúp chúng ta hiểu được lý do, phương thức ra đời và tồn tại của mỗi hệ thống pháp luật, những mục tiêu mà một cộng đồng dân cư kỳ vọng đạt được qua việc ban hành đạo luật đó. Luật pháp là một hiện tượng văn hoá, các luật gia sẽ không thể hoàn toàn hiểu được một hệ thống pháp luật nếu đặt hệ thống đó bên ngoài bối cảnh văn hoá mà nó tồn tại.
Truyền thống chính là yếu tố cốt lõi và là bộ phận bền vững nhất của mỗi nền văn hoá, đây cũng chính là là bộ phận ổn định nhất của văn hoá, giúp cho văn hoá có tính kế thừa từ thế hệ này sang thế hệ khác. Văn hoá và truyền thống có mối quan hệ biện chứng với nhau. Nói một cách cô đọng, văn hoá chính là những khoảnh khắc hiện tại của truyền thống và truyền thống là những lớp trầm tích lắng đọng của văn hoá. Truyền thống chính là quá trình chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác những yếu tố văn hoá và xã hội, những tư tưởng, chuẩn mực xã hội, phong tục, tập quán, lễ nghi.. và được duy trì trong các tầng lớp xã hội trong một thời gian dài. Truyền thống chính là quá trình đối thoại giữa các thế hệ. Truyền thống tốt đẹp góp phần tích cực xây dựng xã hội mới, con người mới. Ngược lại, truyền thống xấu có tác dụng duy trì chế độ xã hội, văn hoá lỗi thời. Sự nguy hiểm của của thói quen cố thủ đằng sau thành luỹ tập quán, truyền thống pháp luật đã được Thomas Jefferson - Tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ đã nhận định trong lá thư gửi Samuel Kercheval ngày 12 tháng 7 năm 1816:
Luật pháp và các định chế của nó luôn bước song hành với sự tiến bộ của tâm thức nhân loại. Khi yếu tố tâm thức ấy được phát triển và khai sáng đến một mức độ cao hơn, khi các phát kiến tân kỳ được hình thành, khi các chân lý mới mẻ được phơi lộ, và khi tập quán và các quan điểm nhìn nhận đổi thay cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh, thì các định chế đó cũng phải tiến bộ để bước cùng một nhịp với thời đại. Có thể nào chúng ta buộc con người tiếp tục khoác chiếc áo mà anh ta đã từng bận thuở còn bé…”.
Trong quá trình phát triển của lịch sử, những truyền thống cũ, không phù hợp với tình hình mới sẽ mất dần, những yếu tố mới sẽ nảy sinh và dần dần trở thành truyền thống. Tuy nhiên, tính bền vững của truyền thống cũng là tương đối. Có thể nói, các hệ thống pháp luật đều có đầy đủ các yếu tố của một truyền thống, bao gồm tính quá khứ, khả năng chi phối hiện tại và tính truyền tải các giá trị từ quá khứ đến hiện tại. Pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính truyền thống sâu sắc, chúng ta có thể tìm thấy những yếu tố truyền thống ở hầu hết các hệ thống pháp luật. Luật pháp của các quốc gia, do đó, chính là truyền thống, là một hiện tượng, biểu hiện văn hoá sâu sắc.
2. Truyền thống pháp luật XHCN
Truyền thống pháp luật được hiểu là các quan điểm có nguồn gốc lịch sử sâu xa quy định bản chất của pháp luật, vai trò của pháp luật trong xã hội và chính thể, quy định cấu trúc và hiệu lực của hệ thống pháp luật và cách mà pháp luật được hoặc có thể làm ra. Trong nền khoa học pháp lý thế giới, truyền thống pháp luật nói chung, truyền thống pháp luật xã hội chủ nghĩa nói riêng luôn là một đề tài giành được sự quan tâm, phân tích, so sánh của các luật gia trên thế giới.
Sự kiện ngắn ngủi của Công xã Pari từ ngày 18 tháng 3 đến ngày 28 tháng 5 năm 1871 được coi là sự kiện đầu tiên gợi nhớ về cội nguồn của chủ nghĩa xã hội. Truyền thống pháp luật XHCN là một truyền thống pháp luật non trẻ, khởi nguồn từ năm 1917 tại nước Nga Sôviết. Ngọn lửa cách mạng đã nhanh chóng lan sang Mông Cổ năm 1920 và Mông Cổ đã trở thành quốc gia có chế độ XHCN lâu đời thứ 2 trên thế giới, tiếp theo là các quốc gia Đông Âu bao gồm Đông Đức, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Rumani, Bulgari, các quốc gia Châu Á bao gồm Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên. Ngoài ra, chế độ xã hội chủ nghĩa còn lan rộng đến Cu Ba và một số quốc gia khác trên thế giới.
Có thể nói, mục tiêu ban đầu của các nhà kiến trúc sư hệ thống pháp luật XHCN là thiết lập một trật tự pháp lý xoá bỏ mọi sự bất bình đẳng về pháp luật của chế độ Sa hoàng. Hệ thống pháp luật riêng này không được có bất cứ một sự liên hệ lịch sử nào với một “quá khứ suy đồi”trước đây, chính vì vậy, hệ thống pháp luật này “đoạn tuyệt”, không chấp nhận bất cứ án lệ nào ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
Trong giai đoạn khởi đầu xây dựng xã hội chủ nghĩa từ năm 1917 đến giữa những năm 1930, nhà nước Xô viết chưa thiết lập được một hệ thống pháp luật XHCN theo đúng nghĩa của nó mà mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng được một trật tự pháp luật (legal order). Từ năm 1936 đến năm 1953, Joseph Stalin - người khởi xướng hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa hiện đại nhận thấy những yếu tố ổn định của luật pháp phương Tây, trong đó, hệ thống dân luật (civil law) có thể được mở rộng hoặc cô đọng cho phù hợp với những yêu cầu củng cố bộ máy Đảng và nhà nước. Chính vì vậy, hầu hết các nghiên cứu ngày nay đều cho rằng hệ thống pháp luật XHCN có nhiều điểm gần gũi và tương đồng với những khía cạnh thực định của hệ thống dân luật.
Học thuyết Mác - Lê nin quan niệm pháp luật là một hiện tượng lịch sử, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, pháp luật xã hội chủ nghĩa là một sản phẩm của hành động có ý thức của con người, là biểu hiện tập trung của chính trị và là ý chí của giai cấp thống trị trong một xã hội. Pháp luật luôn có mối quan hệ lịch sử chặt chẽ, không thể tách rời với nhà nước và là một loại hoạt động của nhà nước. Pháp luật sẽ vô nghĩa nếu không có bộ máy có đủ sức mạnh thực hiện việc cưỡng chế tuân thủ pháp luật. Trong một thời gian dài trước khi nền kinh tế kế hoạch thất bại, Chủ nghĩa Mác - Lênin có xu hướng phân tích mọi hiện tượng dựa trên quan điểm giai cấp. Nhà nước và pháp luật luôn được coi là công cụ để thực hiện nhiệm vụ chuyên chính vô sản. Chính bản thân cụm từ Nhà nước XHCN là “Nhà nước chuyên chính vô sản”, theo Giáo sư Michael Bogdan của Đại học Lund Thuỵ Điển nhận định,  trong một thời gian dài đã bị hiểu sai khi coi đó là nhà nước có xu hướng trở thành một chính quyền dựa trên sự sợ hãi và một xã hội không có quyền và tự do cá nhân.
Học thuyết Mác-Lênin coi pháp luật là một yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc và cũng như những yếu tố thuộc thượng tầng kiến trúc khác, pháp luật có tính độc lập tương đối và có ảnh hưởng trở lại, biện chứng đối với sự phát triển của các yếu tố kinh tế. Trong lịch sử, quá trình phát triển của pháp luật đã chuyển qua các giai đoạn chính là pháp luật của xã hội nô lệ, pháp luật của xã hội phong kiến, pháp luật của xã hội tư sản và pháp luật của xã hội chủ nghĩa. Ba kiểu pháp luật đầu đều có chung một đặc điểm là chúng cùng được hình thành trên cơ sở quyền sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất và phân phối và dựa trên cơ sở người bóc lột người, là công cụ để thiểu số giai cấp thống trị thực hiện đàn áp đa số giai cấp bị trị. Điều này là phi lý, phi đạo đức, do đó, pháp luật xã hội chủ nghĩa phải dựa trên hai nguyên tắc cơ bản là sở hữu nhà nước về các tư liệu sản xuất cơ bản và hoạt động phân phối và việc loại bỏ không khoan nhượng đối với việc bóc lột giữa người với người.
Truyền thống pháp luật XHCN phản đối học thuyết phân chia quyền lực và thay vào đó, chấp nhận học thuyết quyền lực thống nhất. Đặc điểm cơ bản nhất của học thuyết này là quyền lực trong tổng thể là một và không thể phân chia. Chức năng kiểm soát tối cao việc thực thi quyền lực của các cơ quan chính phủ thuộc về Đảng cộng sản với các cơ chế vô hình. Tuy nhiên, các chức năng của nhà nước có thể được phân công cho các cơ quan khác nhau nhưng không có nghĩa là các cơ quan này có vị trí bình đẳng như nhau. Trong sơ đồ hình tháp quyền lực, theo truyền thống, quyền lực của cơ quan lập pháp đứng ở đỉnh chóp, tiếp theo là quyền lực của cơ quan hành pháp, hoạt động tư pháp được coi là nhánh quyền lực ít nguy hiểm nhất, được xếp ở những nấc cuối của phân công lao động quyền lực trong bộ máy nhà nước XHCN. Ngoài ra, quyền công tố, mặc dù xét về bản chất là chức năng thi hành của Chính phủ, nhưng dần dần đã được coi là nhánh thứ tư trong bộ máy nhà nước XHCN, trực thuộc cơ quan lập pháp mà không thuộc Chính phủ. Tuy nhiên, do thẩm quyền của cơ quan này không thể với tới những cơ quan cấp cao của nhánh chính phủ, cũng như lập pháp nên đây cũng được coi là nhánh yếu thế trong bộ máy nhà nước.    
Theo truyền thống pháp luật XHCN, các nhà nước XHCN không coi Hiến pháp như một tín điều pháp lý mà là cơ sở pháp lý cho các mục tiêu chính trị. Chính vì vậy, các điều khoản của Hiến pháp có thể được sửa đổi khá dễ dàng theo yêu cầu của những mục tiêu chính trị.
Một trong những đặc điểm nổi bật khác của học thuyết Mác - Lênin về pháp luật là quan niệm pháp luật là một trật tự bắt nguồn từ chủ quyền làm luật, vì vậy, mỗi cá nhân công dân không có quyền “bất tuân pháp luật” cho dù việc bất tuân pháp luật đó trên cơ sở phản đối có ý thức hoặc bất tuân dân sự nào đó. Học thuyết về pháp chế XHCN với nội dung chính là yêu cầu về sự nghiêm ngặt, kỷ luật thép trong thực thi pháp luật được hình thành một phần quan trọng trên cơ sở luận điểm này. Ngoài ra, do hoạt động làm luật xuất phát từ chủ quyền tối cao, được xây dựng trên cơ sở đạo đức xã hội mới xã hội chủ nghĩa nên học thuyết Mác - Lênin không chấp nhận luật tự nhiên - một học thuyết được cho là có thể là suy yếu chủ quyền làm luật tối cao của nhà nước XHCN.
Ngoài ra, sự không phân biệt rạch ròi ranh giới giữa luật công và luật tư trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa cũng là một đặc điểm nổi bật của truyền thống pháp luật XHCN. Dựa trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin về yêu cầu vai trò của nhà nước trong quản lý kinh tế; tư liệu sản xuất phải được tập thể hoá, quốc hữu hoá nên một số lĩnh vực đáng lẽ ra là những quan hệ được điều chỉnh bởi luật tư - giữa cá nhân với cá nhân, đã bị hạn chế đáng kể. Những lĩnh vực cho sự tồn tại của luật tư không còn nhiều không gian để tồn tại, một số lĩnh vực chủ yếu còn lại là các quan hệ hôn nhân, thừa kế, sở hữu tài sản cá nhân. Chính vì vậy, trong hệ thống pháp luật XHCN, luật tư bị mất đi tính nổi trội của mình và bị chuyển hoá thành luật công.
3. Truyền thống pháp luật XHCN tại Việt Nam
Cho đến nay, chưa có nhiều nghiên cứu sâu sắc và toàn diện về truyền thống pháp luật XHCN tại Việt Nam. Gần đây, giáo trình Luật So sánh của Trường Đại học Luật Hà Nội mới dành 27/497 trang (từ trang 301-327) để phân tích về hệ thống pháp luật XHCN. Trong khi đó, phần giới thiệu dân luật civil law (từ trang 99 đến trang 192) và luật án lệ common law (từ trang 193 đến trang 300) đã dành trên dưới 100 trang cho mỗi bài. Điều này phần nào cho thấy tại Việt Nam, truyền thống pháp luật XHCN chưa được thực sự đầu tư quan tâm nghiên cứu đúng mức.
Các nghiên cứu hệ thống pháp luật Việt Nam cho thấy hệ thống pháp luật XHCN tại Việt Nam kế thừa nhiều đặc điểm của truyền thống pháp luật XHCN khởi nguồn từ Nhà nước Nga Xô viết. Theo Giáo sư John Gillespie của Đại học Monash Australia, hệ thống pháp luật Việt Nam bị thống trị bởi 03 học thuyết quan trọng (1)  Pháp chế XHCN, (2) Tập trung dân chủ và (3) Làm chủ tập thể. Ba học thuyết này đã đưa ra 04 nguyên tắc cơ bản của pháp luật XHCN tại Việt Nam: Thứ nhất, luật pháp khởi nguồn từ nhà nước và không cao hơn nhà nước. Thứ hai, Đảng và Nhà nước sở hữu những đặc quyền dùng chính sách thay pháp luật. Thứ ba, tuy pháp luật hoạt động nhưng không kiểm soát quyền lực nhà nước. Thứ tư, những quyền pháp lý cá nhân phải dành sự ưu tiên cho lợi ích tập thể công cộng.
Trong giai đoạn đổi mới, một số lý luận nhà nước và pháp luật của Việt Nam đã được nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới. Những bổ sung và phát triển nổi bật trong thời gian 25 năm đổi mới tại Việt Nam cần phải kể đến là sự thừa nhận yêu cầu quản lý xã hội bằng pháp luật, chấp nhận và phát triển lý luận về nhà nước pháp quyền XHCN, quyền con người, quyền công dân được ghi nhận và bảo đảm, vai trò của xã hội dân sự trong quá trình xây dựng nền dân chủ XHCN được nhìn nhận, từng bước minh bạch vai trò lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của nhà nước, nhận thức được yêu cầu xây dựng và phát triển một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai và minh bạch. Trong công tác xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, mặc dù vẫn tiếp tục khẳng định nguyên tắc tập quyền XHCN, quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng bước đầu cũng đã thừa nhận ba khái niệm của học thuyết phân quyền là lập pháp, hành pháp, tư pháp, thừa nhận yêu cầu “kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”. Đây chính là những bước tiến mới về tư duy lý luận xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân tại Việt Nam.
Quá trình du nhập và phát triển hệ thống pháp luật XHCN tại Việt Nam cũng thể hiện những yếu tố đặc thù của truyền thống văn hoá dân tộc. Trong nghiên cứu về phân loại hệ thống pháp luật, Giáo sư Ugo Mattei đã chia các hệ thống pháp luật trên thế giới thành ba nhóm chính: Nhóm luật mang tính chất chuyên môn (Rule of professional law) mà đại diện là truyền thống pháp luật phương Tây, Nhóm luật mang tính chất chính trị (Rule of Political law) mà đại diện là pháp luật của các quốc gia đang phát triển hoặc chuyển đổi, trong đó có hệ thống pháp luật XHCN và Nhóm luật truyền thống (Rule of Tradition law). Mặc dù hầu hết các quốc gia theo hệ thống pháp luật XHCN được coi là có hệ thống pháp luật chính trị nhưng Trung Quốc, Việt Nam, Mông Cổ, Lào và Bắc Triều Tiên lại được coi là quốc gia có hệ thống pháp luật truyền thống bởi hệ thống pháp luật của các quốc gia này chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hoá, tôn giáo và truyền thống phương Đông. Ở Việt Nam, chúng ta có thể thấy rõ hai đặc điểm truyền thống ảnh hưởng đến hệ thống pháp luật XHCN sau: 
Thứ nhất, mối quan hệ giữa đạo đức và luật pháp. Truyền thống và triết lý đạo đức và pháp luật của Việt Nam được cô đọng khá rõ nét trong Bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị học tập của cán bộ ngành Tư pháp năm 1950. Theo Người, mỗi một hệ thống pháp luật phải được hình thành trên cơ sở nền tảng đạo đức của xã hội mà hệ thống pháp luật đó tồn tại. Pháp luật phong kiến dựa vào đạo đức phong kiến: tôn vua, kính thầy, hiếu với cha. Pháp luật tư sản dựa trên nền tảng đạo đức gian ngoan và tinh vi hơn: tự do, bình đẳng nhưng thực sự chỉ có được đối với bọn tư bản. Trong chế độ mới - pháp luật phải được dùng để bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động, ngăn chặn những kẻ lợi dụng quyền tư hữu để bóc lột nhân dân lao động, bảo vệ quyền tự do, dân chủ cho nhân dân lao động. Người nói: “Nghĩ cho cùng, vấn đề tư pháp, cũng như mọi vấn đề khác, là vấn đề ở đời và làm người. Ở đời và làm người là phải thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức. Phải làm sao đóng góp làm cho nước được độc lập, dân được tự do, hạnh phúc, nhân loại khỏi đau khổ”. Có thể nói, đạo đức cách mạng phải là cái gốc, xây dựng hệ thống quan điểm pháp luật XHCN phải phù hợp với quan điểm đạo đức mới. Đây chính là quan điểm pháp luật thấm sâu quan điểm đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh. “Thương nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức” phải là những giá trị đạo đức cơ bản, phải được lấy làm chỗ dựa cho việc xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật trong chế độ mới. Tôn trọng quyền được hưởng hạnh phúc tự do không chỉ cho số ít người mà là cho tuyệt đại đa số nhân dân lao động là chính là đạo lý “ở đời và làm người”, đồng thời cũng là trách nhiệm và nghĩa vụ pháp lý của mỗi công dân.  
Thứ hai, các yếu tố phi quan phương. Có một nghịch lý lớn trong lịch sử Việt Nam là những bộ luật thành văn đầu tiên được áp dụng trên đất Việt lại do chính quyền đô hộ Trung Hoa soạn thảo và ban hành. Chính vì vậy, dưới con mắt người Việt, luật pháp - một sản phẩm của xã hội văn minh, lại là công cụ nô dịch, áp bức và đồng hoá của ngoại bang. Ý thức chống đối pháp luật xuất hiện ngay từ những buổi đầu và phát triển ngày càng mạnh mẽ trong suốt thời kỳ Bắc thuộc - một thời kỳ khá đặc biệt kéo dài tới trên một nghìn năm. Truyền thống coi tục lệ là luật còn luật pháp của nhà nước là cái đối lập với mình để tìm mọi cách lẩn tránh hoặc chống đối đã được hình thành trong thời kỳ này. Các chính quyền độc lập sau này khi xây dựng pháp luật đã lường tính khả năng để pháp luật được dân chúng tôn trọng và thi hành thì phải luôn chú ý tới tính chất dung hoà giữa luật và tục. Quyền lập pháp của vua và triều đình thực ra đã bị hạn chế ngay từ cơ chế ban đầu. Luật Hồng Đức là một dấu ấn đậm nét của những phong tục, tập quán truyền thống và những sự nhượng bộ của nhà nước trước các phong tục tập quán lâu đời. Một số nhà khoa học đã gọi tục lệ Việt Nam là những định chế phi quan phương, đưa tục lệ vào pháp luật chính thống với các định chế phi quan phương là một đặc điểm quan trọng trong lịch sử pháp luật Việt Nam.
4. Đôi điều suy ngẫm
Trong thực tế, mỗi hệ thống pháp luật đều có những điểm mạnh yếu, ưu điểm, nhược điểm khác nhau nhưng một tinh thần cầu thị, một cách nhìn nhận thẳng thắn trong quá trình đánh giá, hoàn thiện hệ thống pháp luật cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội là một yếu tố hết sức quan trọng trong việc kế thừa, phát huy các truyền thống pháp luật.
1. Hiến pháp là đạo luật gốc và là một văn bản chính trị - pháp lý quan trọng nhất của mỗi quốc gia. Trong thực tế chúng ta đã có Hiến pháp ngay từ những ngày đầu thành lập Nhà nước cách mạng nhân dân, bản Hiến pháp đầu tiên của toàn cõi Đông Á. Nhưng cho đến ngày hôm nay, chúng ta vẫn chưa xây dựng được một tinh thần thượng tôn, một cơ chế bảo vệ Hiến pháp hữu hiệu. Quá trình hình thành và phát triển hệ thống pháp luật XHCN tại Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm, biến cố lịch sử và để lại nhiều bài học lịch sử về nhận thức, vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội. GS. Văn Tạo trong Công trình được tặng giải thưởng nhà nước năm 2000 “Chúng ta kế thừa di sản nào? đã nhận định:
Trong quá trình xây dựng xã hội chủ nghĩa, về mặt khoa học, trong một thời gian khá dài chúng ta đã coi nhẹ pháp lý, coi nó như một môn “khoa học tư sản”. Còn trong thực tế, do chúng ta phải đấu tranh lâu dài bảo vệ miền Bắc, giải pháp miền Nam, thống nhất đất nước - một cuộc đấu tranh vô cùng gay go, phức tạp, nên có lúc, có nơi pháp luật đã bị buông lỏng. Cơ chế quan liêu, bao cấp tồn tại lâu dài cộng với tệ vô chính phủ từ bên dưới đã gây tác hại không nhỏ tới tinh thần pháp luật. Có nơi, cái tàn bạo, dã man đã tạm thời lấn át cái văn minh, văn hiến đã xây đắp được từ nghìn đời. Nhân quyền và dân quyền có lúc bị vi phạm tới mức ít ai lường tới được”.
2. Việc không phân định rõ luật công và luật tư, dùng luật công thay thế luật tư để xử lý các mối quan hệ cá nhân trong một thời gian dài đã dẫn đến các hiện tượng hình sự hoá các quan hệ dân sự, kinh tế hoặc ngược lại, dân sự hoá, hành chính hoá những quan hệ hình sự, từ đó dẫn đến việc bỏ sót tội phạm, pháp luật không được thực hiện nghiêm minh. Trong thực tế, tư duy phân định giữa luật công và luật tư có thể giúp Việt Nam khắc phục được hiện tượng tiêu cực này. Tại Australia, có một án lệ về việc phân biệt giữa luật công và luật tư thể hiện vai trò của việc phân định này trong việc bảo vệ các quyền cơ bản của cá nhân:
“Một chàng trai người Trung Quốc thường xuyên đến một sòng bạc tư nhân để thử vận may rủi mong sớm trở thành một triệu phú trẻ. Và quả thật, chàng trai này thường xuyên thắng lớn sau mỗi lần thử vận may rủi tại sòng bạc. Chủ của sòng bạc  sau khi kiểm tra an ninh thấy rằng chàng trai này thực hiện đúng quy định của sòng bạc. Tuy nhiên, để tránh thua lỗ, chủ sòng bạc đã không cho chàng trai được vào sòng bạc vì lý do tài sản, đất đai, nhà cửa của sòng bạc là thuộc sở hữu cá nhân. Nếu không được phép của chủ sở hữu, chàng trai đó sẽ phạm tội xâm phạm tài sản, đất đai của cá nhân khác.
Chàng trai người Trung Quốc đã kiện ra Toà án của Australia về lệnh cấm của chủ sòng bạc. Toà án đã phán quyết bác lệnh cấm của chủ sòng bạc với lập luận cho rằng việc cấp phép mở sòng bạc là độc quyền của chính phủ Australia. Những hoạt động kinh doanh liên quan đến hoạt động phân phối độc quyền của Chính phủ Australia cần được điều chỉnh bằng luật công và sòng bạc cần được coi là nơi công cộng để các cá nhân có thể tiếp cận. Chủ sòng bạc không có quyền viện dẫn luật tư để hạn chế quyền tiếp cận nơi công cộng của chàng trai người Trung Quốc mặc dù sòng bạc là tài sản thuộc sở hữu cá nhân. Ngoài ra, trên địa hạt của bang, chỉ có duy nhất một sòng bạc, vì vậy chàng trai Trung Quốc không thể có lựa chọn khác”.
3. Việc không cho phép các cá nhân trong xã hội “bất tuân pháp luật” đòi hỏi Chính phủ phải tích cực nâng cao tính dân chủ và pháp quyền trong công tác quản lý, điều hành của mình. Trong một quyết định hành chính nhà nước, tính hợp pháp và tính hợp lý có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đảm bảo cho một quyết định có khả năng thực thi và được xã hội đồng thuận, chấp nhận. Tính hợp pháp chính là hiện thân của nguyên tắc pháp chế, trong khi đó tính hợp lý lại tạo ra sức sống của một văn bản thông qua tính khả thi và hiệu quả về kinh tế - xã hội của văn bản. Theo nguyên tắc pháp chế, trong trường hợp có sự không đồng thuận giữa hai thuộc tính nói trên, trong mọi trường hợp tính hợp pháp đều có ưu thế hơn so với tính hợp lý. Tuy nhiên, khi xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, yêu cầu tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người cần được tôn trọng. Khi đất nước ta đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, tính dân chủ và tính hợp lý đã ngày càng giành được một vị trí quan trọng, đảm bảo cho một quyết định hành chính mang đầy đủ bản chất khoa học, dân chủ và “vì nhân dân”. Ví dụ về phản ứng “bất tuân pháp luật” tại Quảng Ninh là một ví dụ điển hình về yêu cầu nâng cao tính dân chủ và pháp quyền trong công tác quản lý, điều hành của chính phủ:
“Sáng ngày 10/6/2011, hơn 500 tàu du lịch tham quan vịnh Hạ Long đã từ chối chở khách nhằm phản ứng lại quy định mới siết chặt quản lý tàu du lịch của UBND tỉnh Quảng Ninh mặc cho hàng trăm du khách chờ đợi và phải huỷ tour du lịch. Theo đánh giá, hiện nay có khoảng 500 tàu hoạt động kinh doanh vận chuyển khách du lịch trên vịnh, trong đó có 150 tàu lưu trú qua đêm, Nếu áp dụng quy định mới sẽ có khá nhiều tàu lưu trú nghỉ đêm trên vịnh Hạ Long sắp hết thời hạn bảy năm khai thác phải năm bờ hoặc phải chuyển xuống hạng thấp hơn để khai thác thêm một năm. Ông Bùi Huy Trường, chủ 02 tàu du lịch Sóng Biển 05 và Sóng Biển 08 cho rằng quy định mỗi tàu phải có 05 thuyền viên có bằng THPT nhưng mỗi tàu chỉ có ba thuyền viên mà tất cả đều chưa có bằng nên phải ngừng chạy. Ngoài ra, các quy định mới về chứng chỉ chuyên môn, thiết bị tàu thuyền nhất là phòng cháy, chữa cháy đòi hỏi cao nên chủ tàu cần có khoảng thời gian dài mới có thể điều chỉnh kịp.
Sau khi sự việc xảy ra, ông Trịnh Đặng Thanh, Phó Giám đốc Sở VH-TT&Du lịch tỉnh Quảng Ninh đã có văn bản đề nghị UBND tỉnh Quảng Ninh lùi thời gian thực hiện các quy định về trang thiết bị phòng cháy chữa cháy. Mặc dù quyết định hành chính đã có hiệu lực thi hành nhưng ông Đặng Huy Hậu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh vẫn chỉ đạo các cơ quan chức năng tiếp tục bàn bạc với chủ tàu, xem xét lại các quy định, nếu có điểm nào chưa phù hợp sẽ điều chỉnh chứ không quá cứng nhắc”.
Tài liệu tham khảo:
1. GS.Văn Tạo: Chúng ta kế thừa di sản nào?, Nhà xuất bản lý luận chính trị, năm 2007.
2. GS. TSKH. Vũ Minh Giang (chủ biên): Những đặc trưng cơ bản của bộ máy quản lý đất nước và hệ thống chính trị nước ta trước thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2008, tr. 106-109.
3. Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật so sánh, Nxb. Công an nhân dân, năm 2008.
4. GS.TS. Phạm Xuân Nam (Chủ biên): Triết lý phát triển ở Việt Nam: Mấy vấn đề cốt yếu, Nxb. Khoa học xã hội, năm 2008, tr. 315.
5. Bộ Tư pháp: Xây dựng hệ thống pháp luật và nền tư pháp nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nxb. Tư pháp, năm 2005, tr. 20.
6. Michael W. Alssid và William Kenney: Các vấn đề tư tưởng căn bản, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, năm 2008.
7. Gerald L. Bruns: What is Tradition? Hermeneutics Ancient and Modern, New Haven: Yale University Press, 1992, p. 195-212.
8. Mary Ann Glendon, Comparative Legal Traditions (1985) 691.
9. Martin Krygier: Law as Tradition (1986) 5 Law and Philosophy, p.237-262.
10. Michael Bogdan: Luật so sánh, Kluwer Law and Taxation, PGS.TS.Lê Hồng Hạnh và Th.S. Dương Thị Hiền (dịch) dưới sự tài trợ của SIDA.
11. Pierre Legrand: Comparative legal Studies and the matter of authenticity (2006) 1 Journal of Comparative Law, 365.
12. John Gillespie: Changing Concépt of Socialist Law in Vietnam.
13. John Quigley: Socialist law and the Civil Law Tradition (1989) The American Journal of Comparative Law, Vol.37, No 4, 781.
14. Ugo Mattei: Three patterns of law: Taxonomy and Change in the World’s Legal System (1997) The American Journal of Comparative Law, Vol.45, No 1, 5.
Nguồn: www.moj.gov.vn

Ths. Luật so sánh Nguyễn Xuân Tùng - Bộ Tư pháp