Friday, January 13, 2012

Góp ý Dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI: Cần xây dựng luật về sự lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng

Sau khi bản góp ý của TS Lại Huy Phương được Dân trí đăng tải, qua ý kiến bạn đọc và góp ý của bạn bè, ông đã cẩn thận sửa lại bản góp ý của mình. Tôn trọng sự cẩn thận và trách nhiệm đó, Dân trí xin đăng tiếp bản góp ý thứ hai của ông.
 >>  Góp ý dự thảo Văn kiện Đại hội Đảng
Theo tôi một nội dung chính của cương lĩnh là: Xây dựng “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”  để  “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.”  nhằm mục tiêu  “xây dựng một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ;“. Các ý kiến của tôi dưới đây cũng tập trung vào nội dung này. (Phần chữ nghiêng trong dấu “…” của bài này là trích từ văn kiện dự thảo).
1 - Tôi cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội” (độc quyền), là một kế thừa tất yếu của lịch sử và cũng là lựa chọn đúng cho giai đoạn hiện nay nếu “độc quyền lãnh đạo” và “dân chủ-nhân dân làm chủ” được gắn với các quy định  pháp luật để không dẫn đến mâu thuẫn, đảm bảo “chính danh chính ngôn”.
- Là Đảng cầm quyền duy nhất, Đảng phải là Đảng của toàn dân, đại diện cho ý chí, quyền lợi của toàn dân. Dân phải thực sự quyết đinh việc cử ra, giám sát và bãi miễn các đ/c đứng đầu Đảng các cấp, để chọn được những người ưu tú nhất được dân tín nhiệm. Ví dụ như: thông qua bầu cử trực tiếp, dân bầu ra người đứng đầu chính quyền của cả nước, của cấp tỉnh, cấp xã; và Điều lệ Đảng (sửa đổi) quy định những người đó (nếu là Đảng viên) sẽ là người đứng đầu Đảng cấp tương ứng.
- Để thực sự dân chủ và phản ảnh thực chất trong bầu cử, phải đảm bảo tự do ứng cử, đề cử (kể cả người ngoài Đảng), giám sát tốt việc bầu cử, dân cần có các thông tin minh bạch của những người được đề cử, ứng cử, đủ căn cứ để người dân lựa chọn.
Ví dụ : Đề cương tranh cử, cam kết, đối thoại và tranh luận; kê khai tài sản của bản thân và vợ, con, bố mẹ... Cách thức này được áp dụng cho cả các cuộc bầu cử khác như quốc hội, toà án … Là đảng viên, tôi đề nghị cũng cần áp dụng cách này trong bầu cử của Đảng.
- Cần xây dựng luật về sự “lãnh đạo Nhà nước và xã hội” của Đảng (Điều 4 của Hiến pháp) - luật về Đảng cầm quyền; trong đó luật hoá các vấn đề như: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”; ; “Đảng chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”... 
Tôi nghĩ trong một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Luật về Đảng cầm quyền có vị trí đặc biệt (có thể nói là luật số 1) và xây dựng luật này cần tiến hành đồng thời, đồng bộ với xem xét bổ xung, sửa đổi hiến pháp, các luật liên quan.
Mục đích của việc xây dựng luật về Đảng cầm quyền chính là để đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội đạt hiệu quả cao nhất; đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng phát huy cao nhất vai trò của “Quốc Hội, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ”;  vai trò của "Chính phủ, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất “ và vai trò của nhân dân, người chủ thực sự của đất nước. (Ở địa phương là Hội đồng Nhân dân và Uỷ ban Nhân dân các cấp).
Làm tốt công việc này sẽ phát huy được sức mạnh thống nhất của toàn bộ hệ thống chính trị, củng cố lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước.
- Trong đoạn “ … , trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”  nên thêm “tầng lớp doanh nhân”
2 - “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ... “
- Có cần giữ từ định hướng khi khái niệm XHCN đã được nêu?  Bởi “định hướng” làm cho vấn đề có vẻ mơ hồ, thiếu kiên định, đặc biệt khi đã qua thực tế của 10 năm định hướng.
Khái niệm “kinh tế thị trường” là rõ còn khái niệm “xã hội chủ nghĩa” cơ bản là rõ, và có thể hoàn chỉnh tiếp.
Cụ thể tính  “xã hội chủ nghĩa “ của nền kinh tế thể hiện ở các ý đã nêu tại nhiều chỗ trong dự thảo : “do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo” , “chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu”,  “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, “Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”,  “Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất” v...v…
- “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” cần hiểu không chỉ là vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp nhà nước. Kinh tế nhà nước có nội hàm rộng hơn, sẽ đề cập dưới đây. Thực tế vừa qua cho thấy, trong môi trường pháp lí và quy chế quản lí hiện còn chưa hoàn thiện, hiệu qủa làm ăn của một số doanh nghiệp nhà nước là thấp, làm ăn thua lỗ, đã xảy ra tình trạng nợ nần siêu lớn, dễ thất thoát, tham nhũng; có thể trở thành gánh nặng và lực cản của nền kinh tế.
Kinh tế nhà nước có nội dung bao gồm tất cả các lực lượng kinh tế của Nhà nước: Đó là các doanh nghiệp nhà nước với 100% vốn thuộc sở hữu nhà nước; là phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần (Doanh nghiệp sở hữu hỗn hợp); các đầu tư của ngân sách nhà nước và của các quỹ đầu tư công, trong đó rất quan trọng là đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng; các chính sách tín dụng, thuế, chi tiêu công, các tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc chế độ công hữu v. .v… ( Tham khảo từ bài báo điện tử: “Kinh tế Nhà nước: "Hướng đạo", thay vì "chủ đạo" ” - Diễn đàn kinh tế Việt Nam VNR500 - 01/10/2010 - Lê Văn Tứ, Chuyên viên cao cấp Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương ).
Tôi cũng nhất trí với ý kiến và lập luận của ông Lê Văn Tứ là nên thay từ “Chủ đạo”.
Ví dụ như thay bằng “hướng đạo” hoặc“ đinh hướng” hoặc “ Kinh tế nhà nước giữ vai trò đinh hướng XHCN ”.  Thực vậy “Chủ đạo”, sẽ hiểu đồng nghĩa với nắm các vị trí then chốt (dẫn tới thâu tóm dành độc quyền), phải đi đầu về mọi mặt (dẫn tới đòi ưu tiên, đòi điều kiện thuận lợi); “Chủ đạo” có thể hiểu nặng về đòi hỏi đối với Nhà nước và xã hội.
Còn “định hướng” chính là nói về trách nhiệm, nghĩa vụ mà kinh tế nhà nước phải đảm nhiệm với Nhà nước và xã hội. Ví dụ như gánh vác việc đầu tư vào những lĩnh vực khó, cần vốn lớn, lãi suất thấp, nhưng là lĩnh vực có vai trò bảo đảm sự phát triển năng suất, hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế, nâng cao phúc lợi toàn xã hội…. Còn các lĩnh vực thuận lợi nên giành cho các Doanh nghiệp ngoài Nhà nước làm. Như vậy “định hướng” là san cao, lấp trũng, tạo dòng chảy thông thoát cho nền kinh tế quốc dân. 
- Tính chất XHCN của nền kinh tế, theo tôi không thực chất nằm ở tỷ trọng của các doanh nghiệp nhà nước (đầu vào) mà bản chất nằm ở khâu điều tiết phân phối của cải thu nhập xã hội (đầu ra).
Đó là, thông qua các chính sách khuyến khích đầu tư, thuế thu nhập, chính sách phúc lợi xã hội … , Nhà nước điều tiết, giảm dần chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các vùng đồng bằng miền núi, nông thôn thành thị, các dân tộc, các nhóm lợi ích, các tầng lớp xã hội mà đặc biệt cần quan tâm là đời sống nông dân, công nhân …
Còn cách nào giúp tạo ra nhiều, tăng nhanh và bền vững của cải thu nhập xã hội, thì cách đó cần được chọn và được khuyến khích bằng các chính sách thích hợp .
3 - “Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí”
Tham nhũng, hối lộ rất khó phát hiện. Người có chức có quyền mới có điều kiện tham nhũng, quyền chức càng to nếu tham nhũng thì thiệt hại cho đất nước càng nghiêm trọng, càng lớn. Để chống tham nhũng phải có cán bộ trong sạch. Như vậy chống tham nhũng thực là khó.
Tuy nhiên tham nhũng thường đi kèm với các biểu hiện thất thoát, lãng phí lớn, sai phạm về quản lí tài chính, sai phạm về quản lí tài nguyên … , đi kèm với tăng nhanh tài sản giầu không chính đáng (phần nổi của tham nhũng, phần dễ phát hiện hơn).
Theo tôi để phòng, chống tham nhũng có hiệu quả cần làm đồng bộ các biện pháp: phát huy mạnh mẽ cơ chế giám sát của dân; kiên quyết việc kê khai tài sản của các quan chức, của các lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước (cũng không quá kỳ vọng điều này, khi tài sản còn chưa thể hiện qua tài khoản); điều chỉnh luật để xử lí nặng các thất thoát, lãng phí, các sai phạm về quản lí tài chính, tài nguyên; điều tra sai phạm cần gắn với điều tra tài sản của các đương sự và điều tra phát hiện hành vi tham nhũng; … Bên cạnh đó, kiên quyết xử lí các tham nhũng đã được trực tiếp phát hiện và xử lí nặng đủ mức răn đe.
Còn giải quyết tận gốc lại là vấn đề nâng cao phẩm chất cán bộ, vấn đề xây dựng Đảng.
4 - “Hình thành một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi”.
Trong việc hình thành một cộng đồng xã hội văn minh, hoạt động của hệ thống Tuyên giáo của Đảng, hệ thống báo chí truyền thông của nhà nước, các đoàn thể chính trị xã hội , trường học … có vai trò quan trọng. Bên cạnh việc phát hiện phê phán cái xấu tiêu cực, theo tôi, toàn hệ thống cần làm tốt hơn, nhiều hơn việc tuyên dương, ca ngợi các gương người tốt việc tốt, các gương liêm chính, ứng xử văn minh, các gương-truyền thống văn hoá ứng xử tốt đẹp của cha ông … tạo một luồng gió chính khí át tà khí, để mọi người nghĩ, nói và làm theo.
Vừa qua nếu cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" được tiến hành cùng với các hoạt động nêu trên thì hiệu quả sẽ càng cao.
5 - Một số vấn đề cụ thể khác
- “Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, …” theo tôi đây là nguyên tắc của Đảng, còn bộ máy nhà nước phải tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật.
- “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị”. Theo tôi cần rất thận trọng vấn đề này, có các quy định sao cho vẫn đạt được ý tốt và miễn dịch với cái xấu. Thực tế thời gian qua cho thấy đây là một vấn đề dễ dẫn tới tệ nạn cơ hội, bè cánh, chạy chức chạy quyền.
Minh bạch, công khai các quy định tiêu chuẩn về đề cử, thi tuyển cán bộ chăng ?
Nên chăng bên cạnh việc giới thiệu các đảng viên ứu tú, Đảng nên làm mạnh hơn nữa việc “giám sát phát hịên những cán bộ thoái hoá, biến chất để đề nghị bãi miễn”.
- “Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân.”  
Tôi băn khoăn cơ chế - động lực nào để làm việc này. Đến nay tình hình tiêu cực vẫn “chưa được ngăn chặn, đẩy lùi;” dẫn đến “ làm tăng thêm bức xúc trong nhân dân, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước”; trong khi đó đại đa số đảng viên vẫn là người tốt.
Có một thực tế là, khi gánh vai trò đảng cầm quyền và độc quyền, Đảng cũng tự đặt mình vào thế “thách thức”. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, “duy nhất cầm quyền” và nhiều nhiệm kỳ, một bộ phận lãnh đạo dễ bị thoái hoá sa sút phẩm chất, mất dần cán bộ tốt, hình thành bè cánh-nhóm lợi ích, “biểu hiện "tự diễn biến" trong nội bộ” và thật nguy hiểm nếu càng lên cao, nguy cơ này càng tăng. Theo tôi giải pháp khả thi nhất là: phải dựa vào dân, giám sát góp ý của toàn dân để xây dựng Đảng, trước hết ở khâu bầu cử cán bộ, đã nêu ở điểm 1, và ở nội dung nêu ngay dưới đây.
- “Hoàn thiện cơ chế để nhân dân đóng góp ý kiến, phản biện xã hội và giám sát công việc của Đảng và Nhà nước, nhất là về các chính sách kinh tế, xã hội, về quy hoạch, kế hoạch, chương trình và dự án phát triển quan trọng”.
Đây là việc cấp bách và rất đúng; ngoài nội dung đã nêu, còn là những nội dung rất quan trọng khác như: “cương lĩnh, chiến lược, đặc biệt là vấn đề xây dựng đảng, đội ngũ cán bộ…” ;
Công việc này cần làm thường xuyên, như cần hơi thở, không chỉ vài tháng trước mỗi kì đại hội đảng.
Đảng cần coi vịêc giám sát, góp ý của dân là cứu cánh, là nguồn lực, là sức mạnh cũng là áp lực xã hội, để trợ giúp Đảng “xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao”;
Cần động viên, mời gọi toàn dân, các đoàn thể chính trị-xã hội, hệ thống thông tin, báo chí, báo điện tử… tham gia xây dựng Đảng. Khi và chỉ khi làm tốt công tác xây dựng Đảng, nâng cao phẩm chất đội ngũ cán bộ thì Đảng mới có thể đảm đương tốt vai trò lịch sử “ lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Hà Nội, ngày 04-11-2010
Lại Huy Phương, 67 tuổi, đảng viên, cán bộ hưu, TS Nông học

Một số trao đổi xung quanh vấn đề có hay không tổ chức HĐND cấp huyện, quận, phường


Một số trao đổi xung quanh vấn đề có hay không tổ chức HĐND cấp huyện, quận, phường trong bộ máy chính quyền ở địa phương

Việc tổng kết quá trình thực hiện Hiến pháp lần này là dịp để chúng ta thấy cái được, cái chưa được; cái có thể thay đổi và những cái không thể thay đổi trong cơ cấu tổ chức bộ máy của chính quyền ở địa phương. Quan trọng hơn là để thấy được những tồn tại, yếu kém trong quản lý điều hành của chính quyền các cấp. Và, điều cốt lõi là xác định rõ nguyên nhân: Do thiết chế của bộ máy có vấn đề hay do quá trình tổ chức thực hiện chưa tốt?
Theo quy định của Hiến pháp, chính quyền địa phương gồm có 03 cấp: Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương gọi chung là cấp tỉnh; Huyện, quận, thành phố, thị xã trực thuộc tỉnh gọi chung là cấp huyện; xã, phường, thị trấn gọi chung là cấp xã; chính quyền mỗi cấp bao gồm HĐND, UBND và đều là cơ quan hành pháp ở địa phương. Do yêu cầu của quá trình đổi mới và phát triển, việc nghiên cứu và xem xét lại tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và tổ chức HĐND huyện, quận, phường nói riêng là vấn đề khách quan, cần thiết. Đây là vấn đề hệ trọng vì thế được nhân dân hết sức quan tâm trong quá trình đánh giá lại quá trình gần 20 thực hiện hiến pháp năm 1992. Xung quanh vấn đề có hay không tổ chức HĐND huyện, quận, phường, có nhiều ý kiến khác nhau và có thể chia thành hai nhóm ý kiến chủ yếu: Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng để tinh gọn bộ máy không cần tổ chức HĐND huyện, quận, phường trong hệ thống chính trị; nhóm ý kiến thứ hai thì lại cho rằng cần phải tổ chức HĐND huyện, quận, phường trong hệ thống chính trị như mô hình hiện tại. Từ những ý kiến nói trên xin đưa ra một vài thông tin để cùng trao đổi:
Đối với nhóm ý kiến thứ nhất: Để lý giải cho việc không cần có tổ chức HĐND huyện, quận trong hệ thống chính trị, một số ý kiến cho rằng HĐND huyện, quận là cấp trung gian. Tuy nhiên nói như vậy là chưa chính xác. Bởi lẽ, trong 4 cấp hành chính, không chỉ cấp huyện mà cấp tỉnh, thành phố, cũng là cấp trung gian. Nhân đây cũng phải nói thêm: Cứ cho HĐND huyện, quận là cấp trung gian giữa tỉnh và xã, thì UBND, UBMTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội khác của huyện cũng là cấp trung gian giữa tỉnh với xã.
Tương tự cách nói thiếu chính xác như trên, đã có những ý kiến nên bỏ HĐND huyện, quận, phường vì hoạt động hình thức, không thực quyền, kém hiệu quả. Nhưng có ý kiến đặt vấn đề trở lại là dựa vào cơ sở với những thông tin thực tế nào để đánh giá HĐND huyện, quận, phường hoạt động hình thức, không thực quyền và kém hiệu quả thì chưa có câu trả lời. Không những thế, nếu đặt vấn đề thêm: Chất lượng hoạt động của HĐND tỉnh và HĐND xã hiện nay có những gì khác biệt so với chất lượng hoạt động của HĐND huyện, quận, phường - Thì câu trả lời lại càng khó hơn.
Nói đến không tổ chức HĐND huyện, quận, phường đã có ý kiến cho rằng như vậy bộ máy sẽ giảm bớt cồng kềnh, tốn kém. Cứ cho là HĐND huyện, quận, phường làm tăng gánh nặng biên chế thì điều đó vẫn chưa phải là lý do để bỏ tổ chức HĐND huyện, quận, phường. Vấn đề quan trọng hơn rất nhiều là: Cho dù HĐND các cấp nói trên làm tăng biên chế hành chính, nhưng nó là yếu tố cấu thành không thể thiếu trong thiết chế của bộ máy chính quyền nhà nước của nhân dân vì nhân dân thì cũng không thể bớt bỏ đi được.
Cũng với cách nhận định một chiều và duy ý chí, trong báo cáo tổng kết của một số địa phương thực hiện thí điểm không tổ chức HĐND huyện, quận, phường đã ghi: Qua thí điểm bỏ HĐND huyện, quận, phường cho thấy: “kinh tế - xã hội phát triển; đời sống của nhân dân được cải thiện; quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững”. Đây là một mệnh đề quen thuộc, rập khuôn mà báo cáo nào cũng ghi chứ không riêng gì ở những nơi thí điểm. Và, hàng chục năm về trước, khi chưa thí điểm bỏ HĐND thì các báo cáo cũng đã ghi như thế. Cách đánh giá như vậy làm cho dư luận buộc phải đặt lại câu hỏi: Khi đang có tổ chức HĐND thì HĐND đã làm gì để cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội? Vì sao có HĐND thì đời sống của nhân dân không được cải thiện? Và, lẽ nào HĐND lại làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ quốc phòng an ninh? Hoạt động của cơ quan dân cử lại có thể làm cho trật tự an toàn xã hội không được giữ vững sao? Những câu hỏi nói trên chắc chắn không ai có thể lý giải được. Thực tiễn không hoàn toàn như vậy và đang cho thấy, những địa phương có tổ chức HĐND hoạt động tốt thì ở đó UBND cũng vững vàng và tốt hơn trong quản lý điều hành; mạnh lên; hiệu lực và hiệu quả hoạt động được khẳng định - đáp ứng tốt hơn ý nguyện chính đáng của nhân dân.
Đối với nhóm ý kiến thứ hai: Đó là những lập luận cho rằng thiết chế của bộ máy chính quyền các cấp hiện nay đang là một thiết chế đồng bộ, thống nhất, bảo đảm cho định hướng xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, vì nhân dân.
Đồng tình với quan điểm nói trên, nhiều ý kiến cho rằng, một trong 3 cấp chính quyền ở địa phương không có tổ chức HĐND thì thiết chế của hệ thống bộ máy sẽ bị phá vỡ. Theo đó, pháp luật và hệ thống các văn bản sẽ khó để điều chỉnh một cách thống nhất giữa các cấp; việc quản lý điều hành vì thế cũng sẽ vướng mắc và không thể thông suốt. Xin được nêu một vài ý kiến để cùng trao đổi thêm về vấn đề này:
Trước hết là đối với HĐND phường, nhiều ý kiến cho rằng nếu bỏ HĐND phường thì sẽ rất khó nhận được sự đồng tình của nhân dân. Bởi lẽ, cũng như chính quyền xã, HĐND phường cùng với UBND cùng cấp tạo nên một thiết chế bộ máy chính quyền cơ sở gần gũi với nhân dân, sâu sát và trực tiếp hàng ngày với nhân dân, là chỗ dựa về tinh thần, vật chất và pháp lý cho mọi hoàn cảnh trong xã hội vì thế cùng với UBND, HĐND phường cần phải tiếp tục thực hiện theo mô hình hiện hành là đúng với nguyên lý và phù hợp với thực tiễn.
Về HĐND huyện, quận: Nhiều ý kiến cho rằng, không tổ chức HĐND cấp huyện thì giữa HĐND cấp tỉnh và HĐND cấp xã sẽ là một khoảng trống bất lợi về tính hệ thống. Trong thực tế, mối quan hệ giữa các cơ quan dân cử lâu nay vốn đã rời rạc và thiếu tính hệ thống. Vì thế, nếu bỏ HĐND của một trong 3 cấp chính quyền ở địa phương thì mối quan hệ nói trên sẽ càng rời rạc và thiếu tính hệ thống hơn.
Liên quan đến công việc của HĐND cấp tỉnh và cấp xã, nhiều ý kiến cho rằng, nếu không tổ chức HĐND cấp huyện thì khối lượng công việc của HĐND cấp tỉnh sẽ tăng thêm và đây là một thách thức rất lớn, tỉnh không chỉ quyết định và theo dõi quán xuyến đến cấp huyện mà còn phải thay thế huyện quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của huyện đối với cấp xã và phải quán xuyến đến cấp xã. Đồng thời, khi không còn HĐND cấp huyện, HĐND cấp xã nhất là các xã ở vùng sâu, vùng xa sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với HĐND cấp trên. Vì thế, HĐND cấp xã đã khó khăn, và chắc chắn sẽ càng khó khăn hơn.
Bàn về tính đồng bộ và thống nhất về mô hình bộ máy chính quyền ở địa phương, nhiều ý kiến băn khoăn về mô hình không tổ chức HĐND huyện, quận và phường. Bởi lẽ, nếu như vậy thì trong cùng một cấp chính quyền mà nơi này thì đầy đủ một thiết chế bộ máy gồm có HĐND và UBND; nơi kia lại chỉ có UBND. Theo đó, ở trong cùng một tỉnh: Các thành phố và thị xã trực thuộc thành phố thì có HĐND còn các huyện trực thuộc thành phố thì không có HĐND. Hoặc, trong cùng một thành phố: Gồm các đơn vị trực thuộc là xã và phường, ở xã thì có HĐND còn các phường không có HĐND. Theo đó, trong cùng một cấp chính quyền, cơ chế quản lý và điều hành cũng phải khác nhau giữa những nơi có HĐND và những nơi không có HĐND. Và, càng rối rắm hơn bởi lẽ các văn bản quy phạm pháp luật do trung ương và địa phương ban hành cũng phải quy định riêng cho từng loại chính quyền. Theo đó, quá trình tổ chức thực hiện rất khó để đảm bảo được sự rành mạch và thông suốt.
Trao đổi một số vấn đề nói trên chúng ta sẽ có cách nhìn khách quan hơn đối với những vấn đề liên quan đến tổ chức bộ máy HĐND và UBND mà Hiến pháp đã quy định. Việc tổng kết quá trình thực hiện Hiến pháp lần này sẽ là dịp để chúng ta nhận thấy cái được, cái chưa được; cái có thể thay đổi và những cái không thể thay đổi trong cơ cấu tổ chức bộ máy. Quan trọng hơn là để thấy được những yếu kém trong quản lý điều hành của chính quyền các cấp, xác định rõ nguyên nhân là do thiết chế của bộ máy có vấn đề hay do quá trình tổ chức thực hiện chưa tốt? Đây là vấn đề cốt lõi. Nếu thiết chế bộ máy có vấn đề thì phải nghiên cứu để xây dựng lại một thiết chế mới đáp ứng tốt hơn mục tiêu xây dựng một nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, vì nhân dân. Ngược lại nếu thiết chế đã đúng và không thể có một thiết chế mới nào tốt hơn thì phải xem lại cách thức tổ chức hoạt động của HĐND và UBND các cấp để làm cơ sở cho quá trình tiếp tục củng cố, và hoàn thiện bộ máy, nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính quyền các cấp, đáp ứng lòng mong mong đợi của nhân dân.
ĐBQH Trần Minh Diệu--ĐBND

Xã hội dân sự trong quá trình đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN tại Việt Nam



Xã hội dân sự trong quá trình đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN tại Việt Nam 


Những nghiên cứu về xã hội dân sự tại Việt Nam đã được các nhà khoa học nghiên cứu khá kỹ lưỡng, toàn diện và cụ thể trong những năm gần đây. Các công trình chuyên sâu trong lĩnh vực này cần phải kể đến bao gồm: Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay của TS. Thang Văn Phúc, TS. Nguyễn Minh Phương (Đồng chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia (năm 2007), Xã hội dân sự - Một số vấn đề chọn lọc của Vũ Duy Phú (chủ biên), Đặng Ngọc Dinh, Trần Chí Đức, Nguyễn Vi Khải, Nxb. Tri thức (năm 2008), Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam của GS.TS. Dương Xuân Ngọc, Nxb. Chính trị - Hành chính (năm 2009), Đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam của GS.TS. Lê Hữu Nghĩa, GS.TS. Hoàng Chí Bảo, PGS.TS. Bùi Đình Bôn (Đồng chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia (năm 2008), Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền (Sách tham khảo) của TS. Hồ Bá Thâm - CN. Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (Đồng chủ biên), Nxb. Chính trị quốc gia (năm 2009), Về quá trình dân chủ hoá XHCN ở Việt Nam (Sách chuyên khảo) của PGS.TS. Lê Minh Quân, Nxb. Chính trị quốc gia (năm 2011), Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay của PGS.TS. Lê Minh Thông, Nxb. Chính trị quốc gia (năm 2011). Trên cơ sở những luận cứ khoa học về xây dựng và phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam đã được công bố, bài viết này chỉ tập trung phân tích đặc thù của xã hội dân sự, mối quan hệ giữa pháp luật và xã hội dân sự và vai trò quản lý của Chính phủ đối với các tổ chức xã hội dân sự khi đất nước ta đang tiếp tục hoàn thiện nền dân chủ XHCN và đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
1. Nhận thức về xã hội dân sự
Xã hội dân sự (Civil society) được hiểu là một cơ chế bao gồm các loại tổ chức trung gian giữa nhà nước và cá nhân, giúp cho các cá nhân có thể cùng tham gia vào các hoạt động, hành động tập thể. Như vậy, xã hội dân sự có hai yếu tố cơ bản: Thứ nhất là vai trò cộng đồng: Đó chính là sự cố kết, liên kết bền vững về mặt đoàn thể. Thứ hai là vai trò của các cá nhân: Đó là sự bảo đảm cho tự do cá nhân. Tại tất các quốc gia trên thế giới, sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự đều phụ thuộc phần lớn vào thái độ và mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân sự. Có thể nói, trong khi nhà nước là địa hạt của sức mạnh cưỡng chế, của mệnh lệnh và sự tuân phục thì xã hội dân sự lại thuộc lĩnh vực của những hiệp hội tự quản, tự lực, tự nguyện, đồng thuận và cố kết bền vững. Về mặt lịch sử, “cuộc ly hôn” giữa nhà nước và xã hội dân sự khởi nguồn từ ước vọng tách bạch giữa quyền lực nhà nước và quyền lực xã hội từ kỷ nguyên Khai sáng. Từ đó cho đến nay, mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân sự luôn là điểm nhấn quan trọng trong nền chính trị thế giới.
Trong thực tiễn, mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội dân sự được thể hiện một cách biện chứng, qua lại. Thứ nhất, xã hội dân sự tồn tại và phát triển do sự quan ngại về nguy cơ xói mòn, suy yếu và lụi tàn của tinh thần cộng đồng (public spirit) trong một xã hội. Rõ ràng, sự cô lập, tách biệt, rời rạc của các cá nhân đơn lẻ với những suy nghĩ riêng rẽ, đơn độc sẽ là nguy cơ tiềm ẩn làm xói mòn, suy yếu sự cố kết, đoàn kết của xã hội. Vì vậy, bằng tính sinh động và sự mạnh mẽ của tinh thần cộng đồng và năng lực của các tổ chức xã hội dân sự, xã hội dân sự được nhận định là có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo những giá trị dân chủ, ngăn chặn nguy cơ độc đoán, chuyên quyền trong một xã hội. Xét về bản chất, cơ chế hoạt động của xã hội dân sự là cơ chế tương hỗ, qua lại giữa các cá nhân và chia sẻ ý thức, trách nhiệm cộng đồng cùng giúp đỡ lẫn nhau. Về mặt lý thuyết, nếu xã hội dân sự xây dựng được một hệ thống những quy định tự quản chặt chẽ, có hiệu lực và hiệu quả thì nhà nước không thể có quyền can thiệp một cách thô bạo vào cơ chế tự quản đó. Tuy nhiên, sự tương phản lại được thể hiện ở khía cạnh thứ hai, khía cạnh ủng hộ cho những quy định quản lý chặt chẽ của nhà nước. Đạo lý của khía cạnh này bắt nguồn từ quan ngại cho rằng cơ chế tự do, tự quản của xã hội dân sự sẽ tiềm ẩn dẫn đến sự tự tê liệt và xung đột. Trong thực tế, các lý do này không nói với chúng ta rằng nhà nước và xã hội dân sự là đối lập mà thực sự, chúng vừa giúp nhau phát triển, vừa nương tựa nhau, vừa chế ước lẫn nhau.
Tuy nhiên, sự phát triển của xã hội dân sự phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của nhà nước đối với vai trò của xã hội dân sự trong xã hội. Những người theo trường phái tự do lập luận rằng xã hội dân sự cần phải được tự do khỏi sự can thiệp của nhà nước bởi đây là biểu hiện của những quyền cơ bản của con người như quyền tự do lập hội hay quyền tự do bày tỏ quan điểm, chính kiến. Các tổ chức dân sự nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước thì rõ ràng đó là sự kiểm soát chính trị. Các tổ chức dân sự dựa dẫm vào sự kiểm soát của nhà nước thì sẽ biến tổ chức đó thành một cơ chế kiểm tra chính trị đối với xã hội. Tuy nhiên, có thể nói, một trong những giá trị của xã hội dân sự đó là sự tìm kiếm và đòi hỏi phải nâng cao trách nhiệm giải trình của nhà nước. Xã hội dân sự về cơ bản là địa hạt của của những tranh luận mà trong đó các phong trào xã hội có thể tận dụng, lợi dụng những tranh luận về các quyền để chống lại nhà nước. Mặc dù mục tiêu của xã hội dân sự không phải là tìm kiếm quyền lực của nhà nước nhưng những những bài học lịch sự về sự cố gắng của các tổ chức xã hội dân sự trong kiểm soát nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước đã làm cho các nhà nước luôn có thái độ cảnh giác, coi xã hội dân sự như một mối nguy hiểm tiềm ẩn.
Trong thế giới hiện đại ngày nay, vẫn tồn tại hiện tượng một số lực lượng khai thác mặt đối lập chính quyền của xã hội dân sự để tạo ra những xu thế mất ổn định. Rõ ràng, nếu trong một xã hội mà Nhà nước quá mạnh thì sẽ dẫn đến một xã hội độc đoán, thiếu tính năng động sáng tạo. Ngược lại, nếu xã hội dân sự quá mạnh thì sẽ dẫn đến tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ.Chính vì vậy, trong các xã hội hiện đại, việc quản lý xã hội dân sự cần phải được thể chế hoá bằng pháp luật. Xã hội dân sự không thể tồn tại đâu đó ngoài pháp luật. Luật pháp của Nhà nước có hai chức năng chính là quản lý xã hội và tự chế ước. Bằng pháp luật, nhà nước có thể quyết định số lượng, hình thức của các tổ chức xã hội dân sự mà một xã hội cụ thể cần có, mức độ tự quản và những hoạt động, biện pháp của chính phủ để kiểm soát cũng như thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự. Bằng pháp luật, nhà nước không thể can thiệp một cách tuỳ tiện vào những lĩnh vực hoạt động đoàn thể mang tính chất tự nguyện, tự quản của xã hội dân sự. Pháp luật sẽ chính là trọng tài giữa nhà nước và xã hội dân sự. Trong thực tế, chính sách pháp luật có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc kiểm soát, quản lý, thậm chí là đàn áp, ủng hộ, hay khuyến khích và thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức xã hội dân sự. Các nước trên thế giới thường tập trung chính sách pháp luật vào các điểm mấu chốt như Thủ tục đăng ký và địa vị pháp lý, Các vấn đề về mục đích tồn tại của tổ chức xã hội dân sự, Giải thể, quản lý, Chế độ tài chính, Huy động nguồn lực và hình thành nguồn vốn, Quản lý và trách nhiệm giải trình.
2. Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và định hướng quản lý xã hội dân sự tại Việt Nam
Kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự được xác định là ba cột trụ chính cho việc xây dựng và phát triển xã hội dân chủ tại Việt Nam. Trong lý luận về xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN được đánh giá là phương thức tổ chức quyền lực hợp lý, có điều kiện phát huy đầy đủ tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, có khả năng tạo môi trường và điều kiện cần thiết để người dân thực sự làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Nhà nước pháp quyền XHCN là phương thức tổ chức và vận hành quyền lực của nhân dân dưới hai hình thức chủ yếu là nhà nước và pháp luật theo nguyên tắc dân chủ nhằm bảo đảm các quyền và tự do của công dân. Một trong những nội dung đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN là Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XHCN; Hiến pháp và các đạo luật có vị trí tối cao trong việc điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc trưng nổi bật này thể hiện sự thay đổi căn bản mối quan hệ giữa nhà nước và pháp luật, theo đó, tuy pháp luật do nhà nước ban hành nhưng pháp luật lại có vai trò thống trị đối với chính nhà nước đã ban hành ra nó. Ngoài ra, Nhà nước pháp quyền XHCN phải giữ vai trò góp phần tạo dựng một không gian chính trị - pháp lý nhằm đảm bảo và phát huy các quyền cơ bản của con người. Nhà nước pháp quyền là Nhà nước phải phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.         
Tại Việt Nam, các tổ chức xã hội dân sự đã phát triển khá mạnh mẽ kể từ những năm 1990 sau khi Đảng ta thực hiện chính sách đổi đổi mới với trọng tâm là dân chủ hoá mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội và xã hội hoá hoạt động cung cấp dịch vụ công. Các hành động tập thể mà các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam hướng tới bao gồm: bảo thọ, bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai, khuyến học, đền ơn đáp nghĩa, hiến máu nhân đạo, ngày vì người nghèo, người tốt việc tốt, thanh niên lập nghiệp, toàn dân xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc… Hoạt động của các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam được đánh giá là có nhiều đóng góp tích cực trong việc cố kết và động viên các thành viên trong xã hội cùng với Nhà nước thực hiện có hiệu quả một số định hướng lớn của đất nước trong một số lĩnh vực quan trọng như xoá đói giảm nghèo, xoá mù chữ, phòng chống HIV... Tuy nhiên, theo đánh giá chung, xã hội dân sự tại Việt Nam có cấu trúc rộng nhưng không sâu, người dân thường là thành viên một tổ chức nào đó của xã hội dân sự (phụ nữ, thanh niên, đoàn viên…) nhưng tính tự nguyện còn thấp. Môi trường để xã hội dân sự hoạt động đã được thúc đẩy nhưng còn chưa thực sự khích lệ, phát huy sự tham gia của xã hội dân sự. Ngoài ra, do truyền thống nhiều năm chống giặc ngoại xâm, nên tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam còn mang màu sắc đoàn thể cách mạng, được hỗ trợ một cách đặc biệt từ phía chính quyền và có xu hướng bị hành chính hoá, vì vậy tính độc lập chưa cao. Năng lực và tính khách quan trong phản biện xã hội đối với chủ trương, chính sách và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức hành chính chưa cao. Định hướng đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi việc xây dựng và phát triển xã hội dân sự Việt Nam cần phải vượt qua những rào cản về nhận thức, có sự phân biệt rạch ròi giữa các tổ chức xã hội dân sự hiện đại với các tổ chức đoàn thể cách mạng truyền thống, loại bỏ tư duy coi các tổ chức xã hội dân sự là “cánh tay nối dài” của chính quyền, tiếp tục khắc phục tàn dư của tâm lý bao cấp, hành chính hoá còn khá nặng nề đối với các tổ chức xã hội dân sự hiện nay.
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN cũng đòi hỏi phải phân biệt hệ thống chính trị với xã hội dân sự, xác lập quan hệ dân chủ giữa hệ thống chính trị và xã hội dân sự. Đời sống dân chủ trong nhà nước pháp quyền XHCN đòi hỏi phải đa dạng hoá các hình thức tổ chức tập hợp quần chúng, đa dạng hoá các hình thức thực hành dân chủ của người dân. Các tầng lớp nhân dân không chỉ thuần tuý thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua nhà nước và các tổ chức của hệ thống chính trị mà còn có thể thực hiện các quyền dân chủ của mình thông qua các tổ chức xã hội, nghề nghiệp, hội đoàn, tôn giáo, cộng đồng. Do đó, hệ thống chính trị phải đổi mới quan hệ và phương thức tác động của mình lên xã hội dân sự; tạo điều kiện để xã hội dân sự hình thành và phát triển.
3. Một vài kiến nghị
1. Cùng với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xã hội dân sự được xác định là một trong những động lực chính đảm bảo sự ổn định của xã hội và thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam. Tuy nhiên, xã hội dân sự và vai trò tham gia quản lý xã hội của các tổ chức xã hội dân sự lại chưa được coi là một môn học trong các chương trình đào tạo cử nhân tại các cơ sở đào tạo luật học tại Việt Nam. Vì vậy, để trang bị đầy đủ những kiến thức cơ bản về cơ chế vận hành, hoạt động và quản lý của một xã hội phát triển, môn học “luật pháp và xã hội dân sự” cần được nghiên cứu, bổ sung vào chương trình đào tạo cử nhân luật học tại các cơ sở đào tạo tại Việt Nam.
2. Trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, đòi hỏi cần phải thay đổi căn bản nhận thức về các tổ chức xã hội dân sự, từng bước đổi mới quan hệ và phương thức tác động của hệ thống chính trị đối với các tổ chức xã hội dân sự, coi xã hội dân sự thực sự là bạn đồng hành, là đối tác bình đẳng trong quan hệ với Nhà nước, từng bước loại bỏ tư duy bao cấp, hành chính hoá. Trong một xã hội thượng tôn pháp luật, pháp luật phải là trọng tài giữa nhà nước và xã hội dân sự, pháp luật phải tạo dựng khuôn khổ pháp lý ổn định cho các hoạt động tự quản của các tổ chức xã hội dân sự, đồng thời pháp luật cũng phải là công cụ quan trọng để biểu đạt thái độ, định hướng của nhà nước đối với nhu cầu của xã hội đối với các tổ chức xã hội dân sự. Trong bối cảnh đó, để thể hiện tính dân chủ và pháp quyền trong quản lý các tổ chức xã hội dân sự, từng bước loại bỏ tâm lý bao cấp, hành chính hoá đối với các tổ chức xã hội dân sự, Nhà nước ta cần cân nhắc nghiên cứu, giao nhiệm vụ nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về xã hội dân sự, hoạt động thực hiện đăng ký và quản lý hoạt động của các hội và đoàn thể quần chúng về Bộ Tư pháp với tư cách là cơ quan của Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước về công tác xây dựng pháp luật và theo dõi chung tình hình thi hành Hiến pháp và pháp luật trong phạm vi cả nước.
Nguyễn Xuân Tùng - Thạc sỹ luật so sánh, Trưởng phòng Công tác cán bộ Vụ TCCB
Tài liệu tham khảo:
1. Một phần bài viết được trích từ bài thi tốt nghiệp môn Luật pháp và Xã hội dân sự trong Chương trình đào tạo thạc sỹ luật so sánh của tác giả tại Khoa Luật Đại học Melbourne Australia với sự giảng dạy, hướng dẫn của Giáo sư Mark Sidel Đại học Wisconsin Hoa Kỳ.
2. Vũ Duy Phú (chủ biên), Đặng Ngọc Dinh, Trần Chí Đức, Nguyễn Vi Khải: Xã hội dân sự - Một số vấn đề chọn lọc, Nxb. Tri thức, năm 2008.
3. GS.TS. Dương Xuân Ngọc: Xây dựng xã hội dân sự ở Việt Nam, Nxb. Chính trị - Hành chính, năm 2009.
4. GS.TS. Lê Hữu Nghĩa, GS.TS. Hoàng Chí Bảo, PGS.TS. Bùi Đình Bôn (Đồng chủ biên): Đổi mới quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2008.
5. TS. Thang Văn Phúc, TS. Nguyễn Minh Phương (Đồng chủ biên): Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ở nước ta hiện nay.
6. TS. Hồ Bá Thâm - CN. Nguyễn Tôn Thị Tường Vân (Đồng chủ biên): Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền (Sách tham khảo), Nxb. Chính trị quốc gia, 2009.
7. PGS.TS. Lê Minh Quân: Về quá trình dân chủ hoá XHCN ở Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2011.
8. PGS.TS. Lê Minh Thông: Đổi mới, hoàn thiện bộ máy nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2011.
CTTĐT Bộ Tưphap1


Hiến pháp mới thoát ly nền kinh tế tập trung, giới hạn quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền của người


Chức năng, vị trí, vai trò, ý nghĩa, phạm vi, nội dung, cách thức thể hiện và thực hiện của hiến pháp… là những vấn đề liên quan đến nhận thức về hiến pháp. Nhận thức đúng về hiến pháp sẽ giúp chúng ta có Hiến pháp đúng, tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp. Tất cả những nhận thức đó được gọi là lý thuyết hiến pháp, còn được gọi là chủ nghĩa Hiến pháp. Thuật ngữ “Chủ nghĩa Hiến pháp” hay “Chủ nghĩa hợp hiến” đều được dịch ra từ tiếng Anh là Constitutionalism. Nội dung ý tưởng của thuật ngữ này có từ thời triết học Hy Lạp cổ đại của Plato và Aristotle, sau đó được phát triển ở Tư tưởng Khế ước xã hội thế kỷ XVII và XVIII của Lokce, Montesquieu, J. Rousseau, J. Mill… với nội dung là những biểu hiện về một chính phủ hữu hạn, mà thẩm quyền tối hậu của Chính phủ luôn luôn phải tuân thủ sự đồng ý của nhân dân.
Học thuyết Chủ nghĩa Hiến pháp có nhiều dấu ấn như Học thuyết nhà nước pháp quyền/ The Rule of law, cho nên không ít ý kiến cho rằng nhà nước pháp quyền tương đương với chủ nghĩa hiến pháp, có người lại quan điểm chủ nghĩa Hiến pháp là 1 phần quan trọng của nhà nước pháp quyền. Cho dù là một phần hay là tương đương đi chăng nữa, một khi chúng ta đã nói đến nhà nước pháp quyền thì, kèm theo đó phải hiểu được chủ nghĩa hiến pháp.
Hiến pháp một văn bản tối cao của nhà nước như là một văn bản ghi nhận những biểu hiện của Chủ nghĩa hiến pháp; giữa chúng có sự khăng khít với nhau, nhưng là những thực thể khác nhau. Một nhà nước có hiến pháp thành văn chưa chắc ở đó đã có chủ nghĩa hiến pháp. Chủ nghĩa hiến pháp/ chủ nghĩa hợp hiến đòi hỏi không những có một bản Hiến pháp theo đúng nghĩa của từ này, mà còn phải thực thi nghiêm túc các quy định và cả tinh thần của hiến pháp. Có thể có quốc gia không có hiến pháp thành văn, nhưng đời sống của họ rất tuân thủ các quy định mà họ được hiểu ngầm là hiến pháp. Ví dụ như trường hợp nhà nước Anh. Nhiều nước có hiến pháp, và hiến pháp của họ được chỉnh lý nhiều lần, nhưng ở đó vẫn không thể hình thành một tinh thần của chủ nghĩa hiến pháp, cũng như tinh thần của một nhà nước pháp quyền. Vì ở đó vẫn còn hiện tượng vi phạm hiến pháp, tức là không có chủ nghĩa hiến pháp, không có tinh thần của một nhà nước pháp quyền.
Hiến pháp của nước Anh là hiến pháp bất thành văn. Bất thành văn nhưng không có nghĩa là không có hiến pháp. Nước Anh vẫn có hiến pháp bao gồm nhiều đạo luật, nhưng những đạo luật này không được thừa nhận là đạo luật cơ bản. Bên cạnh những đạo luật do Quốc hội Anh thông qua và được nhà Vua ban hành còn có các tập tục chính trị khác được hình thành từ xa xưa, mà khi thi hành quyền lực nhà nước, lực lượng cầm quyền buộc phải áp dụng.
Giới hạn quyền lực nhà nước đã trở thành chức năng căn bản của Hiến pháp Anh quốc. Chức năng này được hình thành trong những điều kiện trăn trở giữa các thế lực khác nhau. Thuở ban đầu giữa nhà Vua đang có quyền lực vô hạn định, với tầng lớp quý tộc đang lên. Muốn khẳng định quyền lực nhà nước, tầng lớp quý tộc đòi phải được chia sẻ với nhà Vua; Nhà Vua muốn giữ gìn quyền lực nhà nước buộc phải thỏa hiệp với quý tộc. Thời sau của Cách mạng Dân chủ tư sản, khi nhà Vua chỉ còn lại “quyền hành pháp tượng trưng”, mối quan hệ thỏa hiệp này được chuyển cho đảng cầm quyền và đảng đối lập. Hiến pháp có chức năng quan trọng trong việc thể hiện sự chuyển giao quyền lực giữa đảng cầm quyền và đảng đối lập, mà thay thế cho những biện pháp chuyển giao quyền lực bằng gươm đao, vũ khí thô sơ của thời trung cổ bằng vũ khí tối tân như bom đạn của thời hiện đại ngày nay.
Kể từ khi có bản manh nha của hiến pháp đến khi có một bản hiến pháp thành văn ở nghĩa hẹp nhất của Mỹ năm 1787 phải mất đến hơn một nửa thiên niên kỷ tiếp theo. Bản hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới cũng được thông qua trong một điều kiện trăn trở không kém, cho dù thời gian có ngắn hơn. Đó là những sự lo lắng cho tồn tại mà không bị quay trở lại thành thuộc địa một lần nữa của 13 bang, tiểu bang đang được tổ chức trong một điều kiện lỏng lẻo của một hợp bang vừa thoát khỏi sự phụ thuộc vào nước Anh mẫu quốc. Việc thành lập ra nhà nước liên bang của Mỹ cũng nằm trong điều kiện phải trăn trở giữa hai thế lực liên bang, muốn có một nhà nước liên bang mạnh mẽ bằng mọi giá để có thể phòng chống sự xâm lược của các cường quốc lúc bấy giờ, với phe chống liên bang muốn bảo vệ quyền của người dân và chủ quyền của các tiểu bang vừa mới giành được từ tay Anh quốc.
Sự giới hạn quyền lực nhà nước của Hợp chủng quốëc Hoa Kỳ được thể hiện 2 điểm nhấn cơ bản: Ghi nhận quyền con người trong 10 tu chính sửa đổi đầu tiên ngay sau khi thông qua và hệ thống phân quyền thành kiềm chế và đối trọng giữa các quyền. Đằng sau khái niệm “kiểm soát và cân bằng” là một quan điểm hiện thực sâu sắc về bản chất con người của Hiến pháp Hợp chủng quốc. Con người sinh ra bản chất có cái ác, trong con người luôn luôn có tính dễ bị tổn thương trước sự đam mê, cố chấp và ích kỷ, nhất là trong trường hợp con người có quyền lực nhà nước, mà không phải tính bản thiện như quan niệm Nho giáo chính thống (Khổng Tử: Nhân chi sơ tính bản thiện; Tuân Tử: Nhân chi sơ tính bản ác) đã ngự trị ở phương Đông, khi tin tưởng rằng con người luôn ở trạng thái hoàn thiện, luôn có lý trí, luôn kỷ luật và luôn luôn công bằng theo mẫu người quân tử hiền tài.
Giới hạn quyền lực nhà nước hay là kiểm soát quyền lực nhà nước như là một tiêu chí đầu tiên và quan trọng của Chủ nghĩa hiến pháp cũng như của lý thuyết nhà nước pháp quyền.
Sang đến thế kỷ XVIII, XIX và XX với sự thay đổi của thời gian, hiến pháp cũng có chức năng thay đổi nhất định, trở thành một văn bản phủ nhận quyền lực nhà nước của những thế lực cầm quyền, khẳng định nền dân chủ - quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quy định hình thức cơ cấu quyền lực của một nhà nước, hiến pháp nhiều khi không còn nguyên nghĩa của một bản văn giới hạn quyền lực, mà lại nghiêng về việc tổ chức quyền lực nhà nước, góp phần tạo nên sự chính đáng của nhà nước. Số lượng các nhà nước có hiến pháp tăng lên không ngừng, từ chỗ chỉ một số ít nước đến có chỗ có hàng trăm nước. Số lượng các quốc gia có hiến pháp gần bằng với số các quốc gia tự nhận hay phải xem mình là một nhà nước dân chủ.
Theo thời gian, chức năng của Hiến pháp có một sự biến đổi nhanh chóng, thường được thông qua trong điều kiện thành công của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong điều kiện khải hoàn ca của chiến thắng - thái lai, mà không phải ở giai đoạn khủng hoảng của bĩ cực, phải tính toán cẩn trọng để có điều kiện cho việc thoát ra khỏi thế khủng hoảng. Việc soạn thảo và thông qua bản hiến pháp của các nhà nước sau này rất vội vàng, mà không có sự trăn trở đẻ đau, thậm chí như là một sự thỏa hiệp giữa các quan điểm và nhận thức khác nhau, như của các hiến pháp trước đây, mà được gọi là Hiến pháp cổ điển. Lực lượng thắng thế khẳng định quyền lực thuộc về mình bằng cách thông qua một bản Hiến pháp mới, được gọi là Hiến pháp của thời kỳ hiện đại.
Cũng nằm trong trào lưu nói trên, Hiến pháp Việt Nam được thông qua sau chiến thắng của công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Và sau này tiếp theo, cùng với những nhận thức về chủ nghĩa xã hội có lúc còn xơ cứng, các bản Hiến pháp của các nhà nước XHCN đã làm cho hệ thống xã hội chủ nghĩa rơi vào tình trạng khủng hoảng, buộc phải nhận thức lại con đường phát triển của mình bằng các công cuộc cải tổ và đổi mới. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1980 được thay bằng Hiến pháp năm 1992. Khác với các Hiến pháp trước đây 1959 và 1980 đều được thông qua trong cao trào cảm xúc của sự chiến thắng, còn có yếu tố dễ dãi cho việc tiếp thu không tính toán các kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp năm 1992 có nhiệm vụ cao cả phải tính toán cho việc thay đổi những tư duy bảo thủ, tập trung của chủ nghĩa xã hội đang tạo cho một sự khủng hoảng cả về mặt KT - XH, mà kết quả của bản Hiến pháp này đã tạo ra một xã hội ít nhiều có sự phát triển như ngày nay. Sự thay đổi đó được khẳng định trong nhiều điều khoản hiện hành. Đó là điều khoản thừa nhận trở lại sự hiện hữu của sở hữu tư nhân, như là một trong nhữäng quyền cơ bản của công dân (Điều 58).  Với sự đổi mới công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều thắng lợi, chế độ chính trị ngày càng trở nên ổn định hơn, và hiện nay để tiếp tục cho công cuộc phát triển tiếp theo vững chắc hơn và bền vững hơn, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI khẳng định tiếp tục sửa đổi và bổ sung Hiến pháp.
Một trong những mục tiêu của việc sửa đổi Hiến pháp lần này là làm sao cho các quy định của Hiến pháp Việt Nam phải tính toán chi li không có sự rơi rớt lại biểu hiện của cơ chế cũ của CNXH, của nền kinh tế tập trung, và cần thể hiện hơn nữa chức năng cơ bản Hiến pháp là giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền của người dân, chống sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Nguyễn Đăng Dung--ĐBND

Tập quyền XHCN: một học thuyết đã lỗi thời?



Tập quyền XHCN: một học thuyết đã lỗi thời?

1. Tập quyền và phân quyền: Hai phương thức cơ bản tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước luôn gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Theo Will Durant trong cuốn Nguồn gốc văn minh (Bản dịch Nguyễn Hiến Lê, Nxb. Văn hoá thông tin, năm 2006) thì trong các xã hội sơ đẳng, khi các cộng đồng xã hội tỏ ra quá yếu ớt, bạc nhược, dễ bị tổn thương trước những thách thức của tự nhiên và các kẻ thù xã hội khác thì con người bắt đầu hợp quần, liên kết, thống nhất, đoàn kết lại để thực hiện các hoạt động chung mang tính chất cộng đồng, xã hội từ đó được tổ chức theo một trật tự nhất định trên cơ sở ý chí, nguyện vọng chung của cả cộng đồng đó. Người đứng đầu của mô hình này là những thủ lĩnh, tù trưởng, tộc trưởng, giáo trưởng và đây chính là phương thức hình thành quyền lực xã hội. Tuy nhiên, khi kinh tế - xã hội phát triển đến một trình độ nhất định, trong xã hội xuất hiện người giàu, kẻ nghèo, quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp xuất hiện cùng mới một loại quyền lực mới: quyền lực chính trị với mục tiêu là duy trì, bảo đảm sự thống trị của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội.
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, quyền lực nhà nước là một dạng đặc biệt của quyền lực chính trị, là năng lực hành động chính trị của giai cấp cầm quyền nhằm hiện thực hoá lợi ích của mình trên cơ sở đảm bảo ở mức độ nhất định việc thực hiện lợi ích chung của xã hội. Có thể nói, kể từ khi quyền lực nhà nước được xác lập, con người luôn tìm kiếm cách thức sử dụng quyền lực để quyền lực được tổ chức và thực thi có hiệu quả cao nhất. Trong thực tế, quyền lực nhà nước luôn gắn liền với bộ máy thực thi, nếu không có bộ máy đó thì quyền lực nhà nước không thể tồn tại. Các cơ quan nhà nước chính là sự thể hiện vật chất của quyền lực nhà nước. Mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và bộ máy nhà nước là mối quan hệ của cặp phạm trù nội dung - hình thức.
Trong lịch sử văn minh nhân loại, có hai dòng học thuyết chính thể hiện tư tưởng, nguyên tắc, phương thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước là học thuyết về tập quyền và học thuyết về phân quyền. Học thuyết phân quyền được xây dựng nhằm chống lại sự chuyên quyền, độc đoán với tư duy quyền lực nhà nước cần phải được phân chia thành những nhóm độc lập với nhau, kiềm chế và đối trọng lẫn nhau, không có một cơ quan nào nắm giữ toàn bộ quyền lực nhà nước. Trái với lý thuyết phân quyền, lý thuyết tập trung quyền lực cho rằng quyền lực nhà nước là thống nhất và không thể phân chia. Quyền lực thống nhất ở nguồn gốc và bản chất của nó là xuất phát từ nhân dân. Quyền lực nhà nước phải được tập trung đủ mức mới tạo ra đủ sức mạnh, đảm bảo cho xã hội hoạt động một cách bình thường, ổn định cũng như đảm bảo quan hệ hài hoà, chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước. Điều này còn được thể hiện ở chỗ quyền lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân và được tập trung ở cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. Việc phân chia quyền lực sẽ mâu thuẫn với yêu cầu dân chủ: toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Ở giữa hai thái cực này là mô hình hỗn hợp, trong đó thể hiện sự kết hợp, dung hoà giữa hai học thuyết. Trong thực tế, mỗi học thuyết đều có những giá trị lý luận và thực tiễn của riêng mình: Tập trung thống nhất quyền lực khẳng định giá trị chủ quyền tối thượng của nhân dân, phân quyền tạo ra tính chuyên nghiệp trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, làm cho quyền lực nhà nước được kiểm soát và không bị tha hoá.
Trong thực tế, các học thuyết về tập quyền và phân quyền có thể được hiểu theo cấu trúc chiều dọc hoặc chiều ngang. Theo cấu trúc chiều ngang, tập quyền phản ánh sự thống nhất của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vào một cơ quan hay một cá nhân còn phân quyền được phản ánh ở sự phân lập giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp rồi trao cho các cơ quan khác nhau. Hỗn hợp là sự phản ánh nguyên tắc thống nhất quyền lực đồng thời có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo cấu trúc chiều dọc, tập quyền được hiểu là sự tập trung quyền lực vào trung ương, còn địa phương chỉ là thực thể thực hiện quyền lực từ trung ương. Phân quyền được hiểu là sự phân định tương đối rõ ràng giữa quyền lực trung ương và địa phương. Hỗn hợp là sự kết hợp giữa tập trung quyền lực vào trung ương với phân cấp có giới hạn những quyền hành nhất định cho địa phương để quản lý lãnh thổ thông qua nhiều hình thức khác nhau như tản quyền, uỷ quyền, trao quyền.
Bài viết này sẽ tập trung phân tích phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước theo chiều ngang, đặc biệt là sự nguồn gốc, sự hình thành và cơ sở chính trị của học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa và quá trình tiếp nhận, thích ứng và phát triển học thuyết này tại Việt Nam. Các phân tích, đánh giá về tổ chức và thực thi quyền lực theo chiều dọc được đặt tại phần phụ lục để độc giả tham khảo, có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về các học thuyết này.
2. Học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa
Theo Will Durant, trong thời sơ khai, các quốc gia được hình thành trên hai cơ sở chính: sự hình thành chế độ tư hữu và các cuộc chiến tranh, cướp bóc triền miên giữa các bộ tộc, bộ lạc. Chế độ tư hữu đã phá bỏ những xã hội sơ khai, thuần nhất, đồng đều để tạo ra một xã hội có người giàu, kẻ nghèo với đủ các giai cấp, tầng lớp và quốc gia đã ra đời để làm trọng tài giữa các giai cấp. Có thể nói, chức năng cơ bản của quốc gia thời sơ khai là giữ được sự yên ổn bên trong nội bộ và chiến đấu với ngoại quốc, chống lại sự hỗn loạn của chiến tranh thời nguyên thuỷ. Để đưa dân tộc, quốc gia của mình phát triển, tránh khỏi quy luật tự nhiên tàn nhẫn trong lịch sử là loại trừ các dân tộc yếu ớt và bạc nhược, trong thời sơ khai, thủ lĩnh của mỗi quốc gia phải nắm đủ ba quyền: tướng lãnh, tộc trưởng và giáo trưởng. Có thể nói, tập quyền với ý nghĩa sơ khai của nó, đã là nguyên tắc chủ đạo trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của mọi quốc gia từ thuở khai thiên lập địa.
Trong lịch sử văn minh nhân loại, tập quyền đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội với nhiều biểu hiện và biến thể khác nhau. Tập quyền chuyên chế phong kiến là nơi thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vào cá nhân hoàng đế với sự hỗ trợ đắc lực của niềm tin tôn giáo rằng quyền hành của hoàng đế là “thiên mệnh”. Chế độ tập quyền toàn trị phát xít với biểu hiện là chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật với lý thuyết kích động tinh thần dân tộc cực đoan. Chế độ tập quyền độc tài mà phổ biến là độc tài quân sự, thông thường được hình thành sau những khủng hoảng, sụp đổ của các thể chế dân chủ như chế độ Pinôche ở Chilê (1973-1990), Apacthai tại Nam Phi…
Tư tưởng về chế độ tập quyền xã hội chủ nghĩa được hình thành trên nền tảng của yêu cầu xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản trong học thuyết của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Chuyên chính vô sản được hiểu là sự thống trị của giai cấp công nhân, do cách mạng xã hội chủ nghĩa sản sinh ra và có sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đưa nhân dân lao động lên địa vị làm chủ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội trong một xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản. Thuật ngữ “chuyên chính vô sản” chính thức ra đời năm 1850 và Công xã Pari được coi là hình thức thứ nhất, là hiện thực đầu tiên và Xôviết là hình thức thứ hai của nhà nước chuyên chính vô sản.
Trong các tác phẩm nghiên cứu của mình, qua phân tích bộ máy nhà nước tư sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã mạnh mẽ phê phán nguyên tắc phân quyền mà các triết gia pháp quyền tư sản vẫn thường ngợi ca. Theo các ông, đây chỉ là một sự phân công lao động bình thường trong công nghiệp, được vận dụng vào bộ máy nhà nước nhằm mục đích đơn giản hoá và kiểm soát. Qua sự so sánh hai thế lực của quyền lập pháp và quyền hành pháp, C. Mác cho rằng quyền hành pháp có ưu thế vượt trội, lấn át, lũng đoạn và là một quyền lực vô địch. Bộ máy hành pháp với những lực lượng vật chất hùng mạnh trong tay luôn gắn chặt với lợi ích vật chất và chính trị của giai cấp tư sản. Cơ quan lập pháp bị yếu thế hơn vì nó không nắm được bộ máy quan chức, không có quyền phân phối ghế bộ trưởng, không nắm các công cụ và phương tiện vật chất trong tay. Các dự luật do cơ quan hành pháp đề xuất và trình Nghị viện ban hành thực chất chính là ý chí của cơ quan hành pháp, Nghị viện chỉ là nơi thông qua có tính hình thức. Từ đó, C.Mác cho rằng Nghị viện chỉ là nơi bàn cãi suông, toà án chỉ độc lập giả dối, còn toàn bộ quyền lực tập trung ở cơ quan hành pháp. Định hướng cho các cuộc cách mạng của giai cấp vô sản, C. Mác đã nhận định: Quyền hành pháp, bộ máy chính quyền nhà nước phải là đối tượng chủ yếu và duy nhất của những cuộc tấn công của cách mạng. Do bộ máy hành pháp kiểm soát, chỉ huy và bảo vệ xã hội và công dân từ những biểu hiện sinh hoạt rộng lớn nhất cho đến những phương thức chung nhất của họ và cả đời sống riêng tư của các cá nhân nênquyền hành pháp phải thuộc về toàn thể nhân dân.
Từ nghiên cứu và phân tích về Công xã Pari - hiện thực đầu tiên của nhà nước chuyên chính vô sản, C.Mác đã chỉ ra rằng Công xã là một chính quyền của giai cấp công nhân, là công cụ xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản và là mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước kiểu mới. Hội đồng công xã là cơ quan tối cao của nhà nước có vai trò lập pháp và tổ chức 10 uỷ ban chịu trách nhiệm về hành pháp. Đứng đầu mỗi uỷ ban này là một uỷ viên Hội đồng công xã. Công xã không phải là một cơ quan đại nghị mà là một cơ quan công tác vừa lập pháp, vừa hành pháp, mọi quyền lực nhà nước đều tập trung vào công xã. Công xã có quyền chủ động trong tất cả những lợi ích chung và những lợi ích quốc dân. Mô hình công xã Pari là biểu hiện của thiết chế thực sự dân chủ và là một hình thức tổ chức chính trị hết sức linh hoạt. Bí quyết thực sự của công xã là về thực chất nó là một chính phủ của giai cấp công nhân, là hình thức chính trị để thực hiện việc giải phóng lao động về mặt kinh tế. Công xã là một tổ chức chính quyền hành động thật sự, kết hợp lập pháp và hành chính chứ không phải là nơi nói xuông theo kiểu nghị viện trong nền cộng hoà đại nghị tư sản. Từ đó, C.Mác đã đưa ra quan điểm mới cho rằng quyền lực nhà nước là thống nhất và nó phải tập trung về tay nhân dân.Theo cách thức thực hiện quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia, C.Mác đã đưa ra mô hình Công xã Pari với tổ chức bộ máy thực hiện tất cả các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Bộ máy này được tổ chức thành một mạng lưới từ trung ương đến địa phương và hoạt động theo cơ chế tự quản với nguyên tắc dân chủ và công khai.     
Nhất trí với quan điểm của C.Mác và tiếp tục phát triển quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, V.I.Lênin khẳng định yêu cầu cần xây dựng một bộ máy vững mạnh thích ứng được với mọi sự biến đổi. Muốn ứng biến một cách mềm dẻo thì bộ máy phải cứng rắn và hoàn toàn phục tùng chính trị. Thành phần tổ chức bộ máy phải đảm bảo được việc đông đảo quần chúng kiểm tra được mọi công việc nhà nước. Từ đó, ông đã tiếp tục vận dụng một cách sáng tạo quan điểm này vào quá trình tổ chức bộ máy nhà nước kiểu mới ở Nga sau khi giai cấp vô sản giành chính quyền với chủ trương: Phế bỏ chế độ đại nghị - chế độ tách rời công tác lập pháp và công tác hành pháp, hợp nhất công tác lập pháp và hành pháp của nhà nước lại. Hợp nhất công tác quản lý và công tác lập pháp. Từ đó, V.I. Lênin đã lãnh đạo Đảng cộng sản Nga thành lập chính phủ công nông với tên gọi thể hiện khá đầy đủ nguyên tắc này: Hội đồng bộ trưởng dân uỷ, trong đó các uỷ ban chuyên môn quản lý các ngành khác nhau trong sinh hoạt của nhà nước. Hoạt động của các Bộ trưởng dân uỷ do các Xôviết đại biểu của nhân dân lao động giám sát. Các xôviết là cơ quan đại diện của chính quyền nhà nước tập trung trong tay quyền lập pháp, kiểm soát việc chấp hành các luật lệ, đồng thời trực tiếp thực hiện các luật lệ thông qua tất cả các uỷ viên của các xôviết. Tuy nhiên, điểm sáng tạo của Lênin trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước là ở chỗ: các cơ quan trong bộ máy nhà nước có sự phân công, phối hợp để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Từ những di sản lý luận của các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác -Lênin, chúng ta có thể đưa ra những nét cơ bản của học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa như sau: Để đảm bảo xây dựng nhà nước chuyên chính mà hạt nhân của nó là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, người dân là người chủ thực sự trên tất các các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, quyền lực nhà nước là thống nhất và được tập trung ở cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân (Xô viết tối cao hay Quốc hội). Việc tập trung quyền lực nhà nước vào cơ quan đại diện của nhân dân đã làm cho quyền lực bảo đảm tính thống nhất của nó. Các cơ quan khác của nhà nước chỉ là cơ quan phái sinh do cơ quan quyền lực cao nhất thành lập và phải chịu sự kiểm tra, giám sát tối cao của cơ quan đó. Ở đây không có sự phân chia quyền lực cũng như không có sự kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực. Tính chịu trách nhiệm và luôn bị giám sát bởi cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và nhân dân chính là cơ sở để đảm bảo cho quyền lực nhà nước không bị tha hoá.
3. Quá trình hình thành bản thể văn hoá chính trị mới và việc áp dụng học thuyết tập quyền XHCN tại Việt Nam
Sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng năm 938, các thiết chế chính trị tự chủ đầu tiên của Việt Nam đã từng bước được hình thành và ổn định. Sự kiện Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, xưng là Hoàng đế với quyền chủ tể và đặt tên hiệu nước là Đại Cồ Việt năm 968 đã mở đầu sự tồn tại của chế độ quân chủ hàng trăm năm Việt Nam, cho đến khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp từ năm 1884. Theo đánh giá, đặc trưng thiết chế chính trị thời kỳ nhà Đinh - Tiền Lê thực chất là mô hình tập quyền quân sựthiếu tính bền vững, chủ yếu dựa vào lực lượng quân sự và hình phạt hà khắc, chỉ có tác dụng nhất thời trong hoàn cảnh chiến tranh hoặc trong tình trạng đất nước bị đe doạ nghiêm trọng trước nguy cơ ngoại xâm.  
 Trong giai đoạn nhà Lý - Trần, các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp không tách rời nhau và đều đặt dưới quyền tối cao của Hoàng đế. Mô hình tập quyền thân dân - quyền lực tập trung vào tay Hoàng đế nhưng quyền lực của Hoàng đế và triều đình phải dựa trên sự ủng hộ của nhân dân. Quân đội không còn là chỗ dựa duy nhất mà chính quyền trung ương đã tập trung khai thác mọi yếu tố thuận lợi nằm ngay trong nền tảng kinh tế - xã hội Việt Nam. Các quy định pháp luật khá khoan hoà với sự hỗ trợ, nâng đỡ của các giáo lý Phật giáo. Đặc trưng nổi bật của thiết chế tập quyền thân dân là sự hoà đồng trong nội bộ giới cầm quyền, trong nội bộ làng xã và giữa chính quyền với làng xã. Chính sách đoàn kết với các dân tộc thiểu số sống chủ yếu ở vùng biên viễn được quan tâm và phát triển nhằm cố kết các cộng đồng dân cư trong một quốc gia đa dân tộc. Chức năng giám sát quyền lực ở dạng sơ khai nhằm giúp hạn chế những quyết định cực đoan, thiếu sáng suốt của Hoàng đế cũng đã xuất hiện với chức quan Gián nghị đại phu.
Mô hình tập quyền quan liêu được xây dựng và phát triển từ đời Lê sơ với những đặc trưng cơ bản về một hệ thống cai trị bao gồm tổ chức bộ máy, hệ thống giám sát và hệ thống pháp luật khá hoàn bị, vai trò và quyền lực của Hoàng đế được tăng cường, củng cố thêm một bước. Chính quyền trung ương quản lý đất nước thông qua các bộ và cơ quan chức năng. Đội ngũ quan lại được đào tạo và trả lương theo hướng chuyên nghiệp, vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội được đề cao. Bộ máy hành chính được thiết lập đến tận cấp xã, từng bước hạn chế thiết chế tự quản của làng xã. Ngoài ra, nhà nước còn có quyền lực kinh tế to lớn do đã trực tiếp quản lý ruộng đất.
Mô hình tập quyền chuyên chế được hình thành khi triều Nguyễn được thành lập vào năm 1802. Hoàng đế là vị nguyên thủ tối cao của cơ quan hành pháp, là người đứng đầu cơ quan lập pháp, đồng thời nắm quyền tư pháp tối cao và độc quyền đối ngoại. Để tập trung cao độ quyền lực vào tay Hoàng đế, nhà Nguyễn đã đặt ra quy định “tứ bất”: Không ban tước vương để ngăn chặn sự can thiệp của hoàng tộc vào triều chính, không lập hoàng hậu để ngăn ngừa nguy cơ quyền lực có thể bị thao túng bởi dòng họ khác, không lập tể tướng, chức năng đứng đầu các quan này được trao cho một cơ quan là Cơ mật viện chứ không do một người thao túng và không lấy trạng nguyên nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của những người bằng uy tín và đặc quyền được triều đình ban cho chi phối xã hội bằng giáo dục, tư tưởng, văn hoá và các quan niệm chính trị cá nhân.
Cuộc khủng hoảng về bản thể văn hoá chính trị truyền thống ở Việt Nam diễn ra trong nửa sau thế kỷ 19, kể từ năm 1858 khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Phong trào Cần Vương mà trong đó người dân Việt Nam đã nổi dậy với tư cách là thần dân để chống giặc ngoại xâm nhằm khôi phục bản thể chính trị cũ thất bại và đây có thể được coi là sự trỗi dậy cuối cùng của nền văn hoá chính trị và bản thể chính trị Nho giáo. Thất bại của phong trào Cần Vương cũng là mốc đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của bản thể chính trị cũ - chế độ quân chủ dựa trên nền tảng Nho giáo. Việc tìm kiếm một bản thể văn hoá chính trị mới để giúp cộng đồng dân tộc tìm ra một phương sách khôi phục nền độc lập, tự chủ đã được đặt ra vô cùng cấp bách và điểm khởi đầu của cuộc tìm kiếm đó chính là sự phê phán có hệ thống đối với nền văn hoá chính trị cũ dựa trên nền tảng Nho giáo. Nguyễn Trường Tộ là nhân vật điển hình khi ông gay gắt chỉ ra những hạn chế to lớn của Nho học, coi đây là nguyên nhân căn bản nhất của tình trạng lạc hậu, yếu hèn của đất nước.
Đến đầu thế kỷ 20 các phong trào yêu nước Việt Nam đã mang lại những nhận thức hoàn toàn mới về quyền uy, thể chế chính trị và đặc biệt là vai trò chính trị của người dân, quốc dân đối với sự hưng vong của dân tộc. “Quốc dân” phải có đủ năng lực để chủ động tham gia vào quá trình chính trị và nắm lấy vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước. Quyền lực chính trị không còn nằm trong tay “chúa thánh, tôi hiền” mà nằm trong tay của “dân” như tư tưởng của Phan Bội Châu: “Người dân ta, của dân ta/ Dân là của nước, nước là của dân”. Từ năm 1925 đến năm 1945, việc tiếp thu chủ nghĩa cộng sản đã đưa phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam phát triển lên một bước mới. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc cũng đã chỉ ra rằng: Cách mạng là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người. Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 đã khẳng định bản thể văn hoá chính trị mới của Việt Nam, đó là bản thể chính trị cộng sản và bản thể giai cấp của nền văn hoá đó.
Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa cũng đã được du nhập và ứng dụng trong quá trình xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước tại Việt Nam. Qua các bản Hiến pháp, chúng ta có thể thấy rõ tính chất nhân dân của các nhà nước cách mạng, nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân và vai trò của Quốc hội với tư cách cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực cao nhất. Trong thực tế, thống nhất quyền lực không phải thực hiện bằng phương cách biến cơ quan đại diện thành một tập thể hành động như định nghĩa nguyên thuỷ của nó mà biến cơ quan đại diện thành một cơ quan tối cao so với các cơ quan còn lại. Thống nhất quyền lực được bảo đảm bằng sự tập trung quyền lực về Quốc hội. Tập quyền xã hội chủ nghĩa với nhận thức như trên đã được xem là nền tảng lý luận cho việc tổ chức chính quyền Việt Nam từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1980.
4. Học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa và một số nhận thức về kiểm soát quyền lực tại Việt Nam
Trong một thời gian dài, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đã giúp nhà nước ta làm tốt chức năng của một “nhà nước kháng chiến”, quyền lực nhà nước được bảo đảm tập trung, các quyết định và việc thực thi quyền lực được bảo đảm nhanh chóng, thống nhất. Nhưng khi đất nước ta bước sang giai đoạn đổi mới, hệ thống chính trị chuyển từ hệ thống chuyên chính vô sản sang hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc này cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Đó là sự thiếu phân định giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, là sự phủ nhận tính độc lập tương đối của các quyền, là thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực với quyền lập pháp, từ đó tiềm ẩn nguy cơ lạm dụng quyền lực từ phía các cơ quan nhà nước được trao quyền.
Kể từ Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) cho đến nay, với việc công nhận các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và yêu cầu phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các quyền này, một số nhà nghiên cứu gần đây đã cho rằng học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa đã bị suy yếu nhiều khi Việt Nam công nhận các quyền và yêu cầu phân công các quyền - hạt nhân của học thuyết phân quyền. Đến nay, Đảng Cộng sản tiếp tục khẳng định yêu cầu phân công, phối hợp, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Yêu cầu này là sự công nhận một hạt nhân hợp lý khác trong học thuyết phân quyền là kiểm soát giữa các quyền. Từ những nhận thức nói trên, một số nghiên cứu đã cho rằng học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa chỉ phù hợp với thiết kế tổ chức bộ máy trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và đã lạc hậu so với yêu cầu xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Một số nghiên cứu khác lại cho rằng nhận thức truyền thống đồng nhất tính thống nhất quyền lực với tập quyền, đề cao vai trò của Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất, các cơ quan hành pháp, tư pháp chỉ là cơ quan cấp dưới của Quốc hội, nhận quyền từ Quốc hội là một nhận thức sai lệch về bản chất. Lập luận này cho rằng thông qua Hiến pháp, các chế định về Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân đều là những cơ quan được nhân dân uỷ quyền. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất không có nghĩa là Quốc hội là cơ quan duy nhất nhận sự uỷ quyền để từ đó tiếp tục uỷ quyền lại cho Chủ tịch nước, Chính phủ…Về mặt lý luận, các cơ quan này đều nhận uỷ quyền từ cả phía nhân dân và uỷ thác từ Quốc hội, do đó, không có cơ sở để coi Quốc hội là “cơ quan mẹ” như hiện nay. Để thực hiện chức năng kiểm soát, một số nghiên cứu cho rằng việc coi Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất là không phù hợp với tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, không có quyền nào “cao” hơn quyền nào, không có quyền nào “mạnh” hơn quyền nào, các quyền đều phải mạnh và quan trọng như nhau, mỗi nhánh quyền lực cần phải có một vị thế độc lập tương đối, từ đó mới tạo ra cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực.
Có thể nói, yêu cầu về kiểm soát quyền lực tại Việt Nam chỉ có thể được nhận thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc khi chúng ta có sự nhận thức đầy đủ và rõ ràng về học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa và giá trị của nó trong nền chính trị Việt Nam. Tuy nhiên, dường như nhận thức về vấn đề tập trung và phân quyền tại Việt Nam còn bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm và mô hình truyền thống của Xôviết dẫn đến những cách hiểu phiến diện, chưa đầy đủ, thống nhất thậm chí là trái ngược nhau. Điều đó dẫn đến một thực trạng là các học thuyết về tập trung và phân quyền ở nước ta bị áp dụng một cách lúng túng, sai lệch, hiệu quả của việc sử dụng quyền lực chưa cao. Trong thực tiễn cuộc sống, hai học thuyết tập quyền và phân quyền hoàn toàn không có tính tuyệt đối hay loại trừ lẫn nhau. Vấn đề ở đây không phải là lý thuyết tập trung quyền lực hay lý thuyết phân chia quyền lực là tốt hay xấu mà là cách thức vận dụng cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng quốc gia, từng hệ thống chính trị.
Tập quyền xã hội chủ nghĩa là một học thuyết của Chủ nghĩa Mác - Lênin với những hạt nhân hợp lý bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, góp phần bảo đảm chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận và phát triển của đất nước ta. Yêu cầu tiếp tục duy trì, áp dụng học thuyết này với một số biện pháp khắc phục những hạn chế bất cập cố hữu của nó khi đất nước tiếp tục thực hiện đổi mới đã được thể hiện khá rõ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Để bảo đảm mối quan hệ hài hoà giữa ổn định và đổi mới, câu trả lời thấu đáo và thoả đáng cho việc thành lập tổ chức bảo vệ hiến pháp hay xây dựng các cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp cho phù hợp với thể chế chính trị và tình hình thực tiễn tại Việt Nam đòi hỏi chúng ta không áp dụng một cách máy móc cơ chế “kiềm chế và đối trọng”, “lấy tham vọng để kiềm chế tham vọng” của học thuyết phân quyền mà trước tiên, cần phải có một chủ thuyết rõ ràng với nhận thức thống nhất về các giá trị của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa tiếp tục được duy trì trong đời sống chính trị tại Việt Nam hiện tại và tương lai.
Ths Luật so sánh Nguyễn Xuân Tùng
Trưởng phòng Công tác cán bộ Vụ TCCB
Tài liệu tham khảo:
1. Viện Chính trị học Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: Chính trị học-Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị - hành chính, năm 2009.
2. Khoa Chính trị học Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia khu vực I: Chính trị học-một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2010.
3. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2008.
4. PGS.TS. Lê Minh Quân: Tư tưởng chính trị của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2009.
5. GS.TSKH. Vũ Minh Giang (chủ biên): Những đặc trưng cơ bản của bộ máy quản lý đất nước và hệ thống chính trị nước ta trước thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2008.
6. Phạm Hồng Tung: Văn hoá chính trị và lịch sử dưới góc nhìn của văn hoá chính trị, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2008.
7. Ths. Trần Thị Kim Cúc: Tìm hiểu di sản lý luận của các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2009.
8. Nguyễn Cửu Việt: Khái niệm tập quyền, tản quyền và phân quyền, Tạp chí Khoa học (luật học) Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 26, số 4 năm 2010.
9. Học viện Hành chính quốc gia: Giáo trình Quản lý và phát triển tổ chức hành chính nhà nước, Nxb. Đại học quốc gia, năm 2004.
10. Will Durant: Nguồn gốc văn minh (Nguyễn Hiến Lê dịch), Nxb. Văn hoá thông tin, năm 2006
CttĐT Bộ Tư pháp

Hiến pháp CHLB Đức Chủ quyền nhân dân và quyền con người

Đại biểu nhân dân...
07:35 | 13/01/2012
Lời nói đầu của hiến pháp bao giờ cũng phản ánh triết lý hiến pháp mà một quốc gia theo đuổi. Kỹ thuật viết lời nói đầu như thế nào cũng phụ thuộc vào nền tảng triết lý của bản hiến pháp. Theo thông lệ này, cách viết lời nói đầu của Hiến pháp Đức phản ánh quan niệm của người Đức về hiến pháp được thiết lập theo học thuyết chủ quyền nhân dân, theo đó mọi quyền lực trong quốc gia có nguồn gốc từ nhân dân, Hiến pháp được thiết lập bởi nhân dân.


Ngày 8.5.1949, các nhà lập pháp Đức thông qua Đạo luật cơ bản (Hiến pháp)
        
                      Nguồn: Spiegel
Ngay sau lời nói đầu, những điều khoản đầu tiên của Luật cơ bản là các quy định về “các quyền cơ bản” (chương 1). Các quy định về chính quyền được đặt sau các quy định về quyền con người, thể hiện một quan niệm hiến pháp coi quyền con người là mục tiêu mà hiến pháp cần bảo vệ, và chính quyền được xây dựng để bảo vệ quyền.
Các quy định về quyền cơ bản được xây dựng theo một nguyên tắc hiệu lực trực tiếp: “Các quyền sau đây sẽ ràng buộc các ngành lập pháp, hành pháp, và tư pháp như luật có hiệu lực trực tiếp” (Điều 1, khoản 3). Các quyền hiến định có giá trị ràng buộc đối với cả ba ngành quyền lực, toàn bộ các định chế của liên bang chỉ được sử dụng quyền lực theo những giới hạn hiến pháp. Do đó, các quy định về quyền thể hiện tinh thần là làm sao cho các quyền có thể thực thi được trên thực tế, chứ không chỉ là các tuyên ngôn chung chung nằm trên văn bản.
Để làm được điều đó, trước tiên ta thấy nội dung các quyền được định nghĩa cụ thể. Người ta không chỉ quy định chung chung rằng công dân có quyền tự do ngôn luận mà đã chỉ ra những nội dung cụ thể của quyền tự do ngôn luận đó: nói, viết, hình ảnh, nghiên cứu khoa học, giảng dạy, nghệ thuật... Không chỉ xác định nội dung của quyền, các phương tiện để thực hiện quyền cũng được chỉ ra: tiếp cận với các nguồn thông tin, đài phát thanh, phim ảnh... Ngoài ra, để bảo đảm cho quyền tự do ngôn luận được thực hiện, hiến pháp giới hạn hành vi của nhà nước trong việc áp đặt chế độ kiểm duyệt.
Một điều đáng lưu ý là, để bảo đảm tính khả thi của quyền, các nhà soạn thảo Hiến pháp Đức đã đưa ra những giới hạn cụ thể đối với quyền. Một trong những nguyên tắc của chủ nghĩa hợp hiến hiện đại là sự giới hạn trong những mong muốn của chính quyền. Cam kết với các giá trị xa vời và lãng mạn là một điều kiện cho chế độ toàn trị nẩy nở. Các nhà lãnh đạo toàn trị có thể lấy lòng dân chúng bằng những cam kết mỹ miều. Nhưng chính những cam kết này sẽ được viện dẫn để biện minh cho những hành động độc đoán: người ta có thể giải thích rằng những hành động độc đoán là cần thiết để thực hiện những cam kết vốn không được xác định. Chủ nghĩa hợp hiến hiện đại nhận thấy nguy cơ này nên yêu cầu rằng những mong muốn, những cam kết của chính quyền đối với các giá trị nhân quyền phải có những giới hạn.
Chính vì vậy, chúng ta thấy các nhà soạn thảo hiến pháp Đức không quá lãng mạn để cam kết một cách vô giới hạn đối với các quyền con người nói chung và quyền tự do ngôn luận nói riêng như được quy định ở trên. Các quyền tự do ngôn luận bị giới hạn bởi các quy định về quyền của người chưa thành niên, quyền được tôn trọng nhân phẩm, và sự trung thành đối với hiến pháp. Cụ thể như các quyền tự do ngôn luận không thể được sử dụng để cản trở sự phát triển về sau của những người chưa thành niên, để xâm phạm bí mật đời tư hay làm xói mòn những giá trị nền tảng của chính thể.
Hoài Thu

Hiến pháp CHLB Đức Sự ra đời của hiến pháp hậu phát xít

Đại biếu nhân dân...
07:37 | 13/01/2012
Sau khi đầu hàng đồng minh ở thế chiến thứ 2 năm 1945, nước Đức bị chia thành 4 vùng chiếm đóng, mỗi nước đồng minh chiếm cứ một vùng. Năm 1948, Tây Đức trở thành vùng bị chiếm đóng bởi ba bên Anh, Pháp, Mỹ. Ba nước đồng minh đã thống nhất việc thành lập Hội đồng lập hiến và xây dựng Hiến pháp cho Tây Đức, ban hành Các văn kiện Frankfurt chỉ đạo, hướng dẫn quá trình xây dựng Hiến pháp LB Đức gồm cấu trúc, các nội dung lớn.
Tuy nhiên, những người đứng đầu của các tiểu bang phản ứng lại những hướng dẫn đó. Họ cho rằng việc thành lập Hội đồng lập hiến cũng như việc soạn thảo Hiến pháp Đức phải được hoãn lại cho đến khi có đầy đủ điều kiện cho một Chính phủ toàn nước Đức và chủ quyền của nước Đức được khôi phục. Họ đề nghị các hội đồng lập pháp ở ba vùng chiếm đóng nên thành lập một cơ quan đại diện để soạn thảo một “Grundgesetz” (Luật cơ bản) cho việc quản lý thống nhất các vùng Tây Đức. Các chính phủ quân sự nhượng bộ về mặt thuật ngữ và chấp nhận “hội đồng nghị viện” với tư cách là hội đồng lập hiến, và “luật cơ bản” là văn bản mà hội đồng đó sẽ soạn thảo.
Trước khi đi đến cam kết cuối cùng với các nhà lãnh đạo quân sự, những người đứng đầu của các chính quyền tiểu bang ở Tây Đức đã cùng thỏa thuận triệu tập một cuộc họp của các chuyên gia luật hiến pháp với nhiệm vụ là đưa ra những nguyên tắc hướng dẫn cho việc soạn thảo Luật cơ bản. Ủy ban chuyên gia có 46 đại biểu hợp thành một ủy ban chính và 3 phân ủy ban không những đưa ra những nguyên tắc định hướng cho Luật cơ bản, mà còn soạn thảo một hiến pháp hoàn chỉnh, cùng với những báo cáo phân tích chi tiết về các đề xuất của ủy ban và từng điều khoản một.
Đại diện tham gia Hội đồng nghị viện được lựa chọn từ các tiểu bang khác nhau, gồm 65 người được bầu cử và 5 đại biểu không bỏ phiếu từ Tây Berlin. Các đảng phái chính trị chính đều có mặt trong Hội đồng theo thế mạnh của họ ở cơ quan lập pháp tiểu bang. Hội đồng Nghị viện họp ngày 1.9.1948 ở Bonn dưới sự lãnh đạo của Konrad Adenauer, người sau này trở thành Thủ tướng của Cộng hòa Liên bang Đức. Những công việc chính của Hội đồng được triển khai ở ủy ban chính và các ủy ban chuyên gia.
Cuộc thương thảo về Luật cơ bản trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Hiến pháp sau khi được chấp thuận bởi Hội đồng Nghị viện được chuyển cho các lãnh đạo quân sự và họ đã chấp thuận ngày 12.5.1949. Sau đó, trừ hội đồng lập pháp của bang Bavaria cho rằng Hiến pháp (Luật cơ bản) không bảo đảm đầy đủ quyền tự trị của tiểu bang, tất cả các nghị viện tiểu bang đều phê chuẩn Hiến pháp. Sau đó, Hội đồng Nghị viện đã phê chuẩn Hiến pháp, công bố hiến pháp vào ngày 23.5.1949 và Hiến pháp CHLB Đức có hiệu lực vào thời điểm cuối cùng của ngày đó.
Kể từ ngày có hiệu lực đến nay, Hiến pháp của Đức đã trải qua 57 lần sửa đổi, nhưng cấu trúc cơ bản của chính quyền vẫn được giữ lại. Nhiều sửa đổi Hiến pháp liên quan đến các vấn đề kỹ thuật như tư nhân hóa đường sắt, các dịch vụ bưu chính viễn thông. Một số sửa đổi khác liên quan đến việc khôi phục lại chủ quyền toàn vẹn của nước Đức và việc nước Đức trở thành thành viên của Liên minh châu Âu. Năm 1990, sự hợp nhất cộng hòa liên bang Đức và cộng hòa dân chủ Đức được diễn ra dưới hình thức sửa đổi Luật cơ bản chứ không phải xây dựng một Hiến pháp mới với sự phê chuẩn của nhân dân theo thủ tục trưng cầu dân ý.
Lê Anh