Sunday, January 15, 2012

Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 - Những vấn đề đặt ra

Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 - Những vấn đề đặt ra
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là vấn đề đã được quy định trong các bản Hiến pháp của nước ta. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của các quan điểm mới của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (sửa đổi, bổ sung năm 2011) như: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trang 85); vấn đề quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân còn cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện để thể hiện sâu sắc, nhất quán, xuyên suốt trong bản Hiến pháp sửa đổi, bổ sung lần này.
Một là, “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” quy định ở Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) là một quy định nền tảng chỉ rõ nguồn gốc, bản chất và mục đích của quyền lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân. Nguyên lý đó không những được quy định trong Hiến pháp nước ta mà còn được quy định trong hầu hết các bản Hiến pháp các nước có chế độ chính trị dân chủ và pháp quyền trên thế giới. Điều quy định này phải được thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong toàn bộ các điều khoản của Hiến pháp. Bởi khác biệt với các văn bản khác, Hiến pháp là văn bản thể hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến. Do đó, thông qua Hiến pháp nhân dân giao quyền, uỷ quyền quyền lực nhà nước của mình cho Nhà nước. Điều 2 quy định nội dung nói trên là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp. Tuy nhiên, tại Điều 6 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) lại quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Nội dung của điều khoản này lại mâu thuẫn với Điều 2 nói trên. Bởi nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không chỉ thông qua các cơ quan đại diện mà còn thông qua các cơ quan nhà nước khác như hành pháp, tư pháp và các hình thức thực hiện quyền lực nhà nước một cách trực tiếp như phúc quyết Hiến pháp, trưng cầu dân ý. Để đảm bảo tính thống nhất của Hiến pháp, phải sửa lại Điều 6 để quy định đầy đủ hơn các phương thức nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước.
Hai là, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, nên nhân dân phải kiểm soát được quyền lực nhà nước là một quyền tất yếu, một đòi hỏi chính đáng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ ở nước ta (sửa đổi bổ sung năm 2011) đã xác định kiểm soát quyền lực nhà nước là một nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta. Kiểm soát quyền lực nhà nước đòi hỏi phải hình thành một cơ cấu bao gồm kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong bộ máy nhà nước giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp và trong nội bộ mỗi quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước bên ngoài bao gồm kiểm soát của nhân dân thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Như vậy kiểm soát quyền lực nhà nước cần phải thể hiện xuyên suốt trong tất cả các chương của Hiến pháp. Ví dụ, các điều quy định về vị trí, vai trò và trách nhiệm của các thành tố cấu thành hệ thống chính trị ở nước ta viết ở Chương I, như: Đảng lãnh đạo (Điều 4), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Điều 9), Công đoàn (Điều 10), công dân ở cơ sở (Điều 11) và đặc biệt là nhà nước nói chung (Điều 12), các cơ quan nhà nước, cán bộ viên chức nhà nước nói riêng (Điều 8) và đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 7) cũng phải thể hiện xuyên suốt tư tưởng chủ quyền nhân dân trong việc sử dụng các phương tiện kiểm soát quyền lực nhà nước.
Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) chưa ghi nhận vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước. Vì thế, nói chung Hiến pháp chưa thể hiện mạnh mẽ yếu tố kiểm soát quyền lực trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Với quan niệm kiểm soát quyền lực nhằm mục đích làm cho quyền lực thống nhất nên Hiến pháp chỉ quy định kiểm soát theo chiều dọc tức là chiều từ trên xuống, không chú ý quy định kiểm soát theo chiều ngang và chiều ngược. Vì thế chỉ có Quốc hội kiểm soát quyền hành pháp và quyền tư pháp bằng giám sát tối cao. Hành pháp và tư pháp chưa được quy định có quyền kiểm soát lập pháp. Chỉ trong nội bộ hành pháp có kiểm soát quyền lực của cấp trên đối với cấp dưới bằng thanh tra, kiểm tra. Tư pháp mới kiểm soát được hành vi hành chính và quyết định hành chính của hành pháp; chưa kiểm soát được lập pháp và văn bản quy phạm pháp luật của hành pháp. Chưa hình thành cơ chế để công dân thực hiện quyền yêu cầu xem xét lại bản án áp dụng điều luật trái tinh thần và nội dung của Hiến pháp.
Cũng vì mục đích kiểm soát quyền lực nhà nước để cho quyền lực nhà nước thống nhất nên Quốc hội kiểm soát hành pháp bằng phương thức bỏ phiếu tín nhiệm chứ không phải bỏ phiếu bất tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Quốc hội không bỏ phiếu tín nhiệm đối với tập thể Chính phủ. Quốc hội không có quyền điều trần.
Kiểm soát quyền lực nhà nước là nhằm ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền, lộng quyền, phòng chống sự tha hoá của quyền lực nhà nước như Mác trước đây đã nhiều lần khẳng định. Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm mục đích phòng chống sự tha hoá của quyền lực nhà nước đòi hỏi phải có cơ chế kiểm soát.
Trước hết cần tăng cường cơ chế kiểm soát của Quốc hội đối với Chính phủ và tư pháp. Cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm cần thay đổi bằng cơ chế bỏ phiếu bất tín nhiệm để xem Quốc hội không còn tín nhiệm như thế nào, chứ không phải bỏ phiếu tín nhiệm để thăm dò xem Quốc hội có tín nhiệm hay không? Nếu qua bỏ phiếu bất tín nhiệm, đương sự nhận được đa số phiếu không tín nhiệm thì đương sự phải từ chức, không cần Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm một lần nữa. Ngoài ra, vì Quốc hội hoạt động không thường xuyên nhưng nguy cơ lạm dụng quyền lực lại thường xuyên nên việc điều trần tại các Ủy ban chuyên môn của Quốc hội, những cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội là rất cần thiết.
Quyền tư pháp cần được mở rộng để kiểm soát quyền lập pháp và hành pháp. Cần có cơ chế kiểm soát tính hợp hiến của hoạt động lập pháp và tài phán tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.
Ba là, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, thuật ngữ quyền con người được sử dụng trong Hiến pháp năm 1992. Đó là bước phát triển về quan niệm và nhận thức lý luận. Trước đây, trong tư duy chính trị pháp lý ở một số nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), thuật ngữ quyền con người không được thừa nhận. Vì vậy, Hiến pháp cũng như các đạo luật không sử dụng thuật ngữ này, đồng nhất quyền con người với quyền công dân, không thừa nhận quyền con người là một khái niệm độc lập, có nội hàm riêng so với khái niệm quyền công dân. Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, phải thừa nhận rằng cá nhân con người là thực thể tự nhiên - xã hội có những quyền cơ bản, xác định, việc thừa nhận các quyền này đã được cộng đồng loài người ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế. Cá nhân con người chính là giá trị, giá trị con người không tách rời giá trị loài người thành một thể thống nhất hoàn chỉnh. Chính vì thế mà cộng đồng quốc tế (trong pháp luật quốc tế) và các Nhà nước riêng biệt (trong pháp luật quốc gia) đều ghi nhận và bảo vệ các giá trị con người. Vì vậy, Hiến pháp năm 1992 đã sử dụng khái niệm “quyền con người” với nội dung chính trị - pháp lý rộng hơn để thể hiện giá trị của cá nhân con người trong mối quan hệ với quyền công dân (không bao quát hết thảy các quyền con người)… Tuy nhiên, cách thể hiện các quyền con người, đồng thời là các quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) chưa thể hiện sâu sắc và đầy đủ quan niệm các quyền cơ bản của công dân là các quyền con người vốn có của họ.
Liên quan đến tư tưởng xuyên suốt toàn bộ Hiến pháp là “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” trong chương này cần quy định thêm ba vấn đề cơ bản: bầu cử, bãi nhiệm và phúc quyết như Hiến pháp năm 1946 đã quy định thành một mục gồm 5 điều trong Chương II: Nghĩa vụ và quyền lợi của công dân.
Về bầu cử, ngoài quy định chế độ bầu cử phổ thông đầu phiếu, bỏ phiếu tự do, trực tiếp và kín; cần quy định thêm bầu cử là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước, gắn bó chặt chẽ trách nhiệm qua lại giữa cử tri và người được bầu;
Bãi nhiệm đại biểu do mình bầu ra là một quyền cơ bản của công dân. Công dân có quyền bầu cử mà không có quyền bãi nhiệm thì quyền bầu cử chỉ mang tính hình thức. Hiến pháp cũng như các luật của nước ta chưa coi trọng quyền này nên không quy định thành quyền và cơ chế đảm bảo thực hiện quyền này. Do đó, nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” vẫn còn là nguyên tắc hình thức;
Phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia là một quyền thể hiện đầy đủ nhất nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Bởi nhân dân không những thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước mà mình giao quyền, uỷ quyền, mà còn qua các phương thức thực hiện quyền lực nhà nước một cách trực tiếp. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) chưa quy định điều này. Vì thế cần nghiên cứu bổ sung vào Hiến pháp sửa đổi lần này.
Bốn là, chủ thể phân công quyền lực nhà nước trong Nhà nước ta chưa được quy định thật phù hợp. Như đã nói, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Nhân dân ủy quyền quyền lực nhà nước cho các cơ quan nhà nước. Như vậy, nhân dân là chủ thể phân công quyền lực nhà nước. Công cụ để nhân dân giao quyền, uỷ quyền, đó là thực hành quyền lập hiến. Bằng việc thực thi quyền lập hiến, nhân dân uỷ thác quyền lập pháp cho Quốc hội, quyền hành pháp cho Chính phủ và quyền tư pháp cho Toà án. Có thể thấy rằng, quyền lập hiến là quyền lực tối cao so với quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều khởi xuất từ quyền lập hiến. Nhưng Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) lại quy định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” (Điều 83). Quy định này không thống nhất với Điều 2 của Hiến pháp: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Quyền lập hiến là quyền thể hiện một cách trọn vẹn nhất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bởi Hiến pháp là bản văn thể hiện quyền lực nhà nước cao nhất. Vì thế, trong Nhà nước dân chủ và pháp quyền, quyền lực nhà nước thuộc về ai thì chủ thể đó có quyền lập hiến và khi nhân dân có quyền lập hiến thì nhân dân trở thành chủ thể phân công quyền lực nhà nước. Đúng như Hiến pháp năm 1946 đã quy định, nhân dân có quyền phúc quyết Hiến pháp (Điều 20) và sửa Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:
a. Do hai phần ba tổng số Nghị viện yêu cầu
b. Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi
c. Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70).
Năm là, tập quyền XHCN - học thuyết do C.Mác khởi xướng dựa trên thực tiễn của công xã Pa-ri và sau được Lê-nin phát triển, được xem là nền tảng lý luận cho việc tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta từ Hiến pháp năm 1959 và tập trung nhất ở Hiến pháp năm 1980. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã có một bước đổi mới trên cơ sở tiếp thu một số nhân tố hợp lý phù hợp với thực tiễn nước ta của học thuyết phân quyền và đề ra thành nguyên tắc trong Điều 2: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”, nhưng những quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) chưa thể hiện đầy đủ nguyên tắc này. Một số nhiệm vụ quyền hạn phân công cho Quốc hội chưa thật phù hợp. Ví dụ, Quốc hội cơ quan duy nhất có quyền lập hiến (Điều 83); quyền giám sát tối cao văn bản quy phạm pháp luật dưới luật - thuộc quyền tư pháp - lại giao cho Quốc hội; quyền giải thích chính thức Hiến pháp, luật và pháp lệnh giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng không phù hợp (vì đây là hoạt động vi mô gắn liền với sự kiện pháp lý, trong lúc đó Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan hoạt động mang tính chất vĩ mô ở tầm quốc gia). Chính phủ chưa được xác định là cơ quan hành pháp. Dưới ánh sáng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ghi nhận ở Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), trong Chương VIII Chính phủ, Hiến pháp sửa đổi lần này cần phải ghi nhận vị trí của Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất trong tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta.
Điều 109 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) hiện hành xác định Chính phủ là “cơ quan hành chính nhà nước cao nhất”. Trong lý luận về luật nhà nước và luật hành chính, người ta phân biệt rõ ràng hai quyền: hành pháp (executive) và hành chính (administration). Hành chính là chấp hành và điều hành chính sách, mang nghĩa thụ động, gắn liền với hoạt động tác nghiệp có tính mệnh lệnh quyền uy của quản lý nhà nước ở tầm vi mô. Hành pháp là khởi xướng, hoạch định chính sách mang tính chủ động gắn liền với hoạt động của các chính khách ở tầm quốc gia. Vì thế hoạt động của Chính phủ là hoạt động mang tính chất khởi xướng, hoạch định và điều hành chính sách quốc gia. Kinh nghiệm lập hiến của nhiều nước chỉ ra rằng, quyền hành pháp là quyền hoạch định và điều hành chính sách quốc gia. Điều 20 Hiến pháp của Cộng hoà Pháp hiện hành quy định “Chính phủ xác định và thực thi chính sách quốc gia”; Điều 146 Hiến pháp Hà Lan quy định “Hội đồng Bộ trưởng lãnh đạo chính sách đối nội và đối ngoại của Cộng hoà Hà Lan”. Vậy chính sách là gì? Chính sách công cộng là “sự phân chia các giá trị và các nguồn lực trong xã hội”. Nói cách khác, các chính sách được xem như sự phản ánh “ai đạt được cái gì, khi nào và bằng cách nào” trong một xã hội. Một định nghĩa khác về chính sách được sử dụng khá phổ biến là “chính sách là những gì mà Chính phủ đề ra và thực hiện để đối phó với những vấn đề nhận thức được”.
Hoạch định chính sách là vạch ra những mục tiêu cần đạt được, những phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu đó. Chính phủ là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc tìm kiếm hướng đi cho quốc gia bằng việc soạn thảo các chiến lược phát triển, các kế hoạch, các dự án luật và các bộ luật… trình Quốc hội và đồng thời là người trực tiếp và thường xuyên điều hành việc thực hiện các chiến lược, các kế hoạch, các đạo luật, bộ luật sau khi được Quốc hội xem xét thông qua. Chính phủ là cơ quan nắm rõ nhất những nhu cầu của quốc gia và đưa ra những chính sách để phúc đáp những nhu cầu đó.
Trong việc hoạch định chính sách quốc gia, Chính phủ phải phát hiện được nhu cầu đó. Từ đó, khởi xướng và soạn thảo chính sách. Có loại, theo thẩm quyền, Chính phủ tự mình xem xét, quyết định thông qua và tổ chức thực hiện. Có loại, Chính phủ trình Quốc hội dưới hình thức là các dự án luật, bộ luật để Quốc hội xem xét, thông qua. Có thể nói, quyền trình dự án luật là một cấu phần rất quan trọng  của quyền hành pháp. Trong đa số các nước hiện nay, dù là theo mô hình tổng thống hay đại nghị, Chính phủ là nguồn chủ yếu của các đạo luật do Nghị viện ban hành. Sở dĩ như vậy là vì, Chính phủ là người trực tiếp điều hành xã hội nên nắm rõ được nhu cầu của xã hội. Đây chính là việc thể hiện tính chủ động của Chính phủ mà quan niệm truyền thống xác định vị trí của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất không phản ánh được.
Không giống như Hiến pháp của các nước châu Âu, Hiến pháp nước ta không giao cho Chính phủ quyền quyết định chính sách cơ bản, không khẳng định vai trò khởi xướng, hoạch định xây dựng và điều hành chính sách của Chính phủ, chỉ coi Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của quốc gia. Không được trao quyền hành pháp, Chính phủ nước ta cùng với Quốc hội phối hợp thực hiện quyền hành pháp theo cách: Quốc hội quyết định chính sách cơ bản, Chính phủ quyết định những chính sách cụ thể để thực thi chính sách cơ bản. Do vậy, Điều 112 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định thẩm quyền của Chính phủ mang tính thụ động. Trong mối quan hệ với chính sách quốc gia, Chính phủ được Hiến pháp quy định là một thiết chế thực thi, chấp hành thay vì là một thiết chế khởi xướng, đề xuất, thúc đẩy, xây dựng, tổ chức lấy ý kiến đóng góp, phản biện của các tầng lớp nhân dân và tổ chức thực hiện chính sách quốc gia. Qua các quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) hiện hành, có thể thấy rằng, Quốc hội được xem là cơ quan giữ vai trò trung tâm trong việc điều phối thực thi quyền hành pháp. Nội dung hành pháp quan trọng nhất là quyết định chính sách cơ bản được trao cho Quốc hội. Hiến pháp không làm rõ và nổi bật vai trò đề xướng, hoạch định, xây dựng mang tính sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán, tự chịu trách nhiệm về chính sách của Chính phủ.
Trong thời đại ngày nay, sự biến chuyển không ngừng và nhanh chóng của xã hội đòi hỏi Chính phủ, với tư cách là cơ quan có quan hệ một cách trực tiếp và thường xuyên nhất với xã hội, phải luôn chủ động, khởi xướng, sáng tạo ra những đường hướng vận hành cho xã hội. Trong ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, Chính phủ được coi là một thiết chế thích hợp nhất để làm việc đó. Chính vì thế, Chính phủ phải được coi là thiết chế khởi xướng chính sách chứ không đơn thuần  là người thi hành chính sách. Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và trong một “thế giới phẳng”, Quốc hội là cơ quan lập pháp và giám sát việc hoạch định và thi hành chính sách; Chính phủ là cơ quan hành pháp, cơ quan khởi xướng, hoạch định, soạn thảo chính sách và điều hành việc thực hiện chính sách.
Sáu là, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cũng chưa được Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định cơ quan nào là cơ quan thực hành quyền tư pháp. Khi nói quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì quyền tư pháp - biểu hiện rực rỡ nhất ở quyền xét xử - thuộc về nhân dân, nhân dân trao quyền lực xét xử cho Nhà nước. Do đó, nhân dân đi tìm công lý, công bằng, lẽ phải từ việc xét xử của các Tòa án. Vì thế, Hiến pháp sửa đổi lần này cần quy định Tòa án nhân dân - với chức năng xét xử - là cơ quan thực hiện quyền tư pháp.
GS, TS. Trần Ngọc Đường - Văn phòng Quốc hội.

Ý kiến cá nhân về vụ án chấn động lê Văn Luyện

        Ngô Thu Trang, 15-1-2011.
        Vụ án Lê Văn Luyện cướp tiệm vàng Ngọc Bích gây chấn động dư luận, đã khép lại bằng 1 bản án. Bản án được tuyên ra, và đằng sau đó là những trạng thái cảm xúc: tiếng gào khóc của người nhà nạn nhân, tiếng thở dài của người nhà bị cáo, nụ cười của tên sát nhân, sự bất bình của một số người dân về bản án và sự đồng tình về bản án của một số người vì coi là xử như thế là đúng pháp luật...
        Đã là bản án được tòa tuyên ra tất yếu mọi người phải tuân theo, và nếu còn thấy chưa thuyết phục thì kháng cáo lên tòa cấp trên, nhưng dù có kháng cáo thì hình phạt cao nhất vẫn không thể tử hình tên sát nhân man rợ vì một sự thật mà chắc chắn lúc phạm tội hắn không bao giờ nghĩ ra, trời đã ban cho hắn chưa đủ 18 tuổi...Dư luận sau đó sẽ nhận xét như thế nào? Họ đồng tình hay không đồng tình? Hay chính hình phạt ''không thuyết phục'' cho tên sát nhân này đã tiếp tay cho 1 thế hệ sát nhân mới, nguy hiểm hơn, hung hãn hơn và ngang nhiên hành động hơn (vì biết dù có làm gì thì ''mình giống anh Luyện nên  mình không bị tử hình'')[1].
        Vậy hình phạt tử hình là gì? Có một số định nghĩa khác nhau về hình phạt từ hình song xét ở phương diện pháp lý, có thể hiểu hình phạt tử hình là việc tước bỏ tính mạng của con người theo bản án được tuyên bởi một tòa án được lập ra một cách hợp pháp, nhằm trừng phạt người đó vì đã phạm một tội ác đặc biệt nghiêm trọng. Trên phương diện pháp lý, hình phạt tử hình chỉ có thể được tuyên và thi hành bởi Nhà nước (Tòa án và cơ quan thi hành án nhân dân Nhà nước); bởi vậy, khi một chủ thể phi nhà nước có hành động ‘‘hành quyết’’ một người thì bất luận trong hoàn cảnh nào chủ thể đó cũng bị coi là phạm tội giết người[2]. Ở nước ta hình phạt tử hình bằng xử bắn đã được thay bằng tử hình bằng tiêm thuốc độc từ 1-1-2012.
         Điều 6 ICCPR[3] được cụ thể hóa trong điều 3 UDHR[4], theo đó: Mọi người đều có quyền cố hữu được sống. Trong đó không áp dụng hình phạt tử hình với người dưới 18 tuổi và không được thi hành án tử hình đối với phụ nữ mang thai. Để thực hiện theo những cam kết Quốc tế đã ký kết năm 1982 nước ta đã hiện thực hóa ngay trong đạo luật tối cao. Điều 71 hiến pháp năm 1992: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Và cụ thế hóa ở luật hình sự, điều 74 Bộ luật Hình sự, đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định…Do đó, theo quy định của pháp luật thì những người chưa thành niên từ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng không bị tử hình.
          Sau khi bản án đưa ra có 2 luồng ý kiến: Một là xét xử phải tuân theo pháp luật, pháp luật mang tính nhân đạo chính vì thế không thể tử hình người chưa thành niên dưới 18 tuổi. Hai là pháp luật phải răn đe, phải công bằng với những người đã khuất, ‘‘nợ máu phải trả bằng máu’’ chính vì thế phải sửa luật cho phù hợp với dư luận xã hội.
          Thứ nhất, xét xử phải tuân theo pháp luật, pháp luật mang tính nhân đạo chính vì thế không thể tử hình người chưa thành niên dưới 18 tuổi.
          Sở dĩ có quy định như vậy vì theo lập luận thì những người chưa thành niên thì trình độ nhận thức kém hoặc không nhận thức được về hành vi phạm tội của mình, chưa phát triển toàn diện về mọi mặt. Câu hỏi đặt ra là trình độ nhận thức kém là như thế nào? Và pháp luật đã quy định trình độ nhận thức kém là như thế nào trong luật chưa?
           Việt Nam có 84,15 triệu dân thì số vị thành niên và thanh niên trẻ chiếm tới 31,5% (26,5 triệu người)[5], với tỉ lệ lớn như vậy thì những đóng góp và những ảnh hưởng của thế hệ này là không nhỏ trong hiện tại và tương lai sau này. Việc đầu tư cho nhận thức trong cuộc sống và xã hội của thế hệ này cần phải chú trọng nâng cao, nên chú trọng nâng cao nhận thức hơn là cứ lấy cớ là nhận thức kém ở thế hệ ‘‘vàng’’ này.
           Nhân đạo còn là truyền thống của dân tộc ta. Từ những câu ca dao lưu truyền trong dân gian: ‘‘Đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại’’, ‘‘Lấy ân trả oán’’…đến những quy định trong bộ luật Hình thư ra đời nhà Lý và Hồng Đức ra đời nhà Lê đều mang nhân tố nhân đạo, vì con người. Và nhân đạo trong pháp luật hiện nay còn là tạo điều kiện cho những con người lầm lỡ đó được trở về cộng đồng, phục thiện làm lại cuộc đời.
           Thứ hai, pháp luật phải răn đe, phải công bằng với những người đã khuất, ‘‘nợ máu phải trả bằng máu’’ chính vì thế phải sửa luật cho phù hợp với dư luận xã hội.
           Vậy hình phạt tử hình có phải là sự trả giá xứng đáng đối với những kẻ gây ra tội phạm khủng khiếp? Nhiều người cho rằng ‘‘mạng phải đền mạng’’ nếu đã phạm tội giết người phải chịu sự trừng phạt là cái chết, như thế mới đảm bảo công bằng, công lý cho người chết. Tuy nhiên cũng có một số người cho rằng không nên sử dụng hình phạt là cái chết để đáp trả lại hành động giết người. Vì như thế có khác gì trả thù và lặp lại hành động của kẻ phạm tội, trên danh nghĩa là vì sự công bằng nhưng thực chất là giết người.
           Hình phạt tử hình có phải là biện pháp tốt nhất để bù đắp những mất mát của gia đình người bị hại? Trong phiên tòa xử Lê Văn Luyện, chúng ta thấy được những tấm khăn trắng trên trán của gia đình nạn nhân, tiếng gào khóc thảm thiết khi mà người đại diện Viện kiểm sát đọc cáo trạng, họ đã mất đi ba người thân yêu quý, chắc chắn họ không bao giờ quên được những thương tật tinh thần này. Do đó ai cũng có tâm lý chung là phải có hình phạt cao nhất cho kẻ thủ ác, dù có ‘‘phanh thây’’ cũng không đủ, cũng không thể đền bù được nỗi đau mất mát vô cùng lớn này.
          Tuy nhiên, không phải lúc nào gia đình nạn nhân cũng thấy thanh thản và mãn nguyện khi mà đã trừng trị kẻ thủ ác bằng một hình phạt mà họ coi là thích đáng. Đó là khi mà việc kẻ thủ ác đã bị trừng phạt thích đáng thì người thân của họ cũng không thể  trở về sống cùng họ. Thà rằng tha cho kẻ phạm tội, bằng việc xin ân giảm hay bằng lòng với bản án của tòa tuyên ra để được thanh thản, mà theo giáo lý đạo Phật khuyên là không nên sát sinh. Ngoài ra còn có trường hợp là xử oan người vô tội, nỗi đau giờ có thêm tội lỗi thì thử hỏi gia đình nạn nhân còn có thể thấy thanh thản và mãn nguyện hay không?[6]
         Có ý kiến cho rằng, pháp luật là nhân đạo tuy nhiên đối với trường hợp với tính chất man rợ như của Lê Văn Luyện thì cần sửa đổi luật cho phù hợp. Theo ý kiến của người viết đó[7] “Tuy nhiên, khi tình hình tội phạm có xu hướng trẻ hóa, và mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng thì theo quan điểm của tôi, luật cũng cần phải thay đổi… Vụ án Lê Văn Luyện gây ra có tính chất quá man rợ và tàn ác, phạm tội nhiều lần (giết nhiều người) thì cần phải có hình phạt cao hơn”. Tuy nhiên là sửa luật thì sửa như thể nào? Vì việc sửa luật này thì chủ yếu có 2 cách: Một là quy định người dưới 18 tuổi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì phải tử hình. Nếu quy định như vậy là vi phạm đến điều ước Quốc tế đã ký kết, tính nhân đạo của pháp luật một phần của truyền thống dân tộc và có thể gây nên hậu quả khó lường nếu xử phạt người vô tội. Hai là quy định người dưới 18 tuổi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì không được tử hình trừ một số trường hợp đặc biệt. Vậy ta có thể quy định ‘‘trường hợp đặc biệt’’ đó là như thế nào trong luật hay không? Đời sống xã hội luôn đa dạng và biến đổi không ngừng, không ai có thể dự đoán trước được điều gì…
          Theo tôi, vụ án đã khép lại thì hãy để nó qua đi để những đau thương mất mát của hai bên gia đình được nguôi ngoai. Không nên cứ chú trọng suy xét về hình phạt cho bị cáo, mà nên nghĩ xem nên làm gì để không còn Lê Văn Luyện thứ hai.
          Các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay lại chú trọng đăng những tin giật gân, tin giết người, cướp của, lộ hàng…Ngoài xã hội có rất nhiều tấm gương người tốt, việc tốt phải được noi gương để chúng ta học tập tuy nhiên lại không được đăng, đó phải chăng là một nghịch lý?…
        
        
         



[1] ‘‘giống anh Luyện’’ ý là người chưa thành niên.
[2] Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân-Khoa luật ĐHQG HN, Những điều cần biết về hình phạt tử hình, Nxb Chính trị Quốc gia, tr 14.
[3] Công ước Quốc tế về quyền dân sự, chính trị.
[4] Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền
[5] Tổng cục thống kê, 2006
[6] Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân-Khoa luật ĐHQG HN, Những điều cần biết về hình phạt tử hình, Nxb Chính trị Quốc gia, tr34,35,60.

Friday, January 13, 2012

Trích 1 câu chuyện trong sách ''Văn hóa pháp đinh''

Trích Văn hóa pháp đình, tác giả Trần Quốc Phú, Nxb Tư pháp.


Chủ tọa phiên tòa: '' Bị cáo Trần Tâm Tân, anh đã được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa?''
!!!
Chủ tọa nhắc lại: ''Bị cáo Trần Tâm Tân đã được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa?''
!!!
Chủ tọa phiên tòa gần như sắp nổi nóng nhưng đã kịp trấn tĩnh. Với tâm lý của người đã từng trải, với giọng nói to hơn, dứt khoát hơn, anh nói: ''Tôi nhắc lại lần thứ 3, bị cáo Tân đã được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa?''
Bị cáo vẫn không trả lời, vẻ mặt ngây ngây, lớ ngớ như câm, như điếc, làm cho cả hội trường ào lên như phiên chợ. Còn những người tiến hành tố tụng thì như ngồi trên đống lửa. Vị kiểm sát viên cũng đứng dậy định ra tay nhưng thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã giơ tay như có ám hiệu với vị Kiểm sát viên rằng: ''Ông hãy bình tĩnh để tôi tiếp tục làm bổn phận của người điều hành phiên tòa''. Chút bối rối thoáng qua, ông chủ tọa thầm hỏi: ''Vì sao Tân lại không khai nhỉ? Ngoan cố chăng? Hay bị sốc nên cấm khẩu luôn? Nếu bị cáo mà không chịu khai báo thì phiên tòa này phải hõan. Khổ nỗi, vụ án chỉ có một 1 cáo, không có bị cáo thứ hai để đấu tranh qua bị cáo thứ 2 này sẽ rõ về bị cáo Tân ( như khoản 4 điều 209 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã quy định) và rộng đường xử lý tình huống này''.
Trong lúc này các thành viên Hội đồng xét xử đang lúng túng, còn vị đại diện Viện kiểm sát duy trì quyền công tố tại phiên tòa đứng lên, ngồi xuống không yên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thầm điểm lại- phiên tòa chuẩn bị rất kỹ càng, người tham dự rất đông, chẳng lẽ bị cáo câm thật, điếc thật sao? Có đến mức phải hõan phiên tòa không? Nhưng quá trình nghiên cứu hồ sơ có chỗ nào phản ánh bị cáo bị điếc đâu? Mới cách đây vài ngày thư ký còn phản ánh việc tống đạt quyết định cho y, bị cáo vẫn hòan toàn bình thường. Qua báo cáo của cảnh sát trại gia, cảnh sát dẫn giải cũng không có phản ánh gì bất thường. Vậy có nghĩa đây là tình huống bất ngờ vừa mới phát sinh, phải chăng bị cáo đang bầy mưu tính kế gì đây, đằng sau y liệu có thế lực nào bày mưu tính kế để hõan binh? Nhìn bị cáo, niềm tin nội tâm trong ông mách bảo ông rằng: '' Bị cáo đang là kẻ phạm tội nhất thời, nhưng bản chất con người chất phác đã từng trải qua chiến tranh ác liệt, nay do đấu tranh với cái nhỏ nhen trỗi dậy trong người không thắng nổi, bây giờ lại thêm những thầy cò dẫn lối chỉ đường, đầu óc u mê làm theo''. Ông bỗng thấy chạch lòng thương cảm, quyết tâm đấu tranh chiến thắng âm mưu của kẻ xấu mà bị cáo chỉ là 1 con rối.
Sau một loạt những nhận định dồn dập hiện lên và được kiểm chứng ngay, với bản lĩnh từng trải trong nghề thẩm phán, lại sắc sảo trong nghiệp vụ điều tra và hiểu biết về tâm lý của kẻ phạm tội, ông quay sang nói nhỏ với các vị trong Hội đồng xét xử điều gì đó, nhưng không ai nghe thấy được, chỉ thấy các vị đó gật đầu tỏ vẻ đồng tình, rồi ông quay xuống chỗ bị cáo đang đứng trước vành móng ngựa, nhưng với một sự phát âm khẽ khàng hơn, như để bị cáo phải tập trung mới có thể nghe được:
''Thôi được, bị cáo không trả lời, Hội đồng xét xử chưa rõ nguyên nhân bệnh tật...''
Nói đoạn ông quay sang nhìn vị đại diện Viện kiểm sát như thể có tín hiệu phối hợp đấu tranh rồi lên tiếng:
''Để phiên tòa tiếp tục, tôi xin thay mặt Hội đồng xét xử công bố lai lịch của bị cáo để nhân dân tham dự phiên tòa biết rõ hơn về nhân thân bị cáo.
Vừa nói ông vừa chậm rãi mở tập hồ sơ lấy 1 bút lục đặc kín và đọc:
''Trần Tâm Tân, 49 tuổi, sinh quán tại xã VN huyện X tỉnh NĐ trú tại 101 phố T thành phố HN- nguyên là Phó giám đốc Sở xây dựng tỉnh L, đã có thời gian trong quân ngũ với chức vụ thiếu tá. Nhưng vì vi phạm quân lệnh nghiêm trọng nên đã bị giáng chức xuống thượng úy và khai trừ ra khỏi Đảng...''
Chủ tọa chưa dứt lời thì bị cáo đã vùng vẫy như cá mắc lưới giơ cả 2 tay lên trời gào thét:
''Nói láo! Nói láo! Tòa án vu khống! Tôi phản đối!''
Chờ cho bị cáo bình tĩnh trở lại và ổn định trật tự, thẩm phán tiếp tục với thái độ nhẹ nhàng những dứt khoát rõ ràng:
''Đề nghị thư ký ghi lại tất cả diễn biến của sự việc vừa rồi và sự phản đối của bị cáo''.
Đoạn ông nhìn xuống nơi bị cáo đứng trước vành móng ngựa với nét mặt tái mét vì uất ức. Ông nói:
''Tôi vừa công bố lai lịch của anh và anh đã phản đối cho là tôi vu khống. Vậy, tôi hỏi lại anh lần nữa, lai lịch của anh có hay không có những tình tiết như tôi vừa công bố?''
''Tôi phản đối, ông nói láo. vu khống lai lịch tốt đẹp của tôi, lý lịch của tôi không hề có những điều ông vừa công bố!''
''Thôi được, đề nghị cô thư ký phiên tòa ghi lại chính xác những lời đối thoại của tôi và bị cáo và cho bị cáo nghe lại và ký vào đó''.
Chờ bị cáo xem lại biên bản và ký, ông đứng dậy với nét mặt nghiêm trang nhưng đôi mắt của ông nếu quan sát kỹ thì ánh lên niềm vui. Ông nói:
''Tôi xin thay mặt hội đồng xét xử tuyên bố rằng: Những lời tôi vừa công bố về lai lịch của bị cáo là không có. Nhưng đồng thời tôi cũng cảnh báo bị cáo rằng: bị cáo đã ngoan cố dùng thủ đoạn vờ không nghe thấy gì nhằm mục đích làm cho phiên tòa không thể tiến hành bình thường...''
Rồi ông nhìn bị cáo với ánh mắt nghiêm khắc nhưng cũng đầy lòng vị tha của một vị thẩm phán:
''Bây giờ thì anh có thể trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử được rồi chứ?''
Bị cáo như vừa bừng tỉnh sau 1 cơn mê và với 1 tâm trạng đầy hối hận:
''Thưa quan tòa tôi xin thành khẩn khai báo hành vi tham ô của tôi và xin quan tòa tha thứ cho sự dại dột của tôi vừa rồi''...

Trích 1 câu chuyện trong sách ''Văn hóa pháp đinh''

Trích Văn hóa pháp đình, tác giả Trần Quốc Phú, Nxb Tư pháp.


Chủ tọa phiên tòa: '' Bị cáo Trần Tâm Tân, anh đã được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa?''
!!!
Chủ tọa nhắc lại: ''Bị cáo Trần Tâm Tân đã được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa?''
!!!
Chủ tọa phiên tòa gần như sắp nổi nóng nhưng đã kịp trấn tĩnh. Với tâm lý của người đã từng trải, với giọng nói to hơn, dứt khoát hơn, anh nói: ''Tôi nhắc lại lần thứ 3, bị cáo Tân đã được giao quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa?''
Bị cáo vẫn không trả lời, vẻ mặt ngây ngây, lớ ngớ như câm, như điếc, làm cho cả hội trường ào lên như phiên chợ. Còn những người tiến hành tố tụng thì như ngồi trên đống lửa. Vị kiểm sát viên cũng đứng dậy định ra tay nhưng thẩm phán chủ tọa phiên tòa đã giơ tay như có ám hiệu với vị Kiểm sát viên rằng: ''Ông hãy bình tĩnh để tôi tiếp tục làm bổn phận của người điều hành phiên tòa''. Chút bối rối thoáng qua, ông chủ tọa thầm hỏi: ''Vì sao Tân lại không khai nhỉ? Ngoan cố chăng? Hay bị sốc nên cấm khẩu luôn? Nếu bị cáo mà không chịu khai báo thì phiên tòa này phải hõan. Khổ nỗi, vụ án chỉ có một 1 cáo, không có bị cáo thứ hai để đấu tranh qua bị cáo thứ 2 này sẽ rõ về bị cáo Tân ( như khoản 4 điều 209 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 đã quy định) và rộng đường xử lý tình huống này''.
Trong lúc này các thành viên Hội đồng xét xử đang lúng túng, còn vị đại diện Viện kiểm sát duy trì quyền công tố tại phiên tòa đứng lên, ngồi xuống không yên, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thầm điểm lại- phiên tòa chuẩn bị rất kỹ càng, người tham dự rất đông, chẳng lẽ bị cáo câm thật, điếc thật sao? Có đến mức phải hõan phiên tòa không? Nhưng quá trình nghiên cứu hồ sơ có chỗ nào phản ánh bị cáo bị điếc đâu? Mới cách đây vài ngày thư ký còn phản ánh việc tống đạt quyết định cho y, bị cáo vẫn hòan toàn bình thường. Qua báo cáo của cảnh sát trại gia, cảnh sát dẫn giải cũng không có phản ánh gì bất thường. Vậy có nghĩa đây là tình huống bất ngờ vừa mới phát sinh, phải chăng bị cáo đang bầy mưu tính kế gì đây, đằng sau y liệu có thế lực nào bày mưu tính kế để hõan binh? Nhìn bị cáo, niềm tin nội tâm trong ông mách bảo ông rằng: '' Bị cáo đang là kẻ phạm tội nhất thời, nhưng bản chất con người chất phác đã từng trải qua chiến tranh ác liệt, nay do đấu tranh với cái nhỏ nhen trỗi dậy trong người không thắng nổi, bây giờ lại thêm những thầy cò dẫn lối chỉ đường, đầu óc u mê làm theo''. Ông bỗng thấy chạch lòng thương cảm, quyết tâm đấu tranh chiến thắng âm mưu của kẻ xấu mà bị cáo chỉ là 1 con rối.
Sau một loạt những nhận định dồn dập hiện lên và được kiểm chứng ngay, với bản lĩnh từng trải trong nghề thẩm phán, lại sắc sảo trong nghiệp vụ điều tra và hiểu biết về tâm lý của kẻ phạm tội, ông quay sang nói nhỏ với các vị trong Hội đồng xét xử điều gì đó, nhưng không ai nghe thấy được, chỉ thấy các vị đó gật đầu tỏ vẻ đồng tình, rồi ông quay xuống chỗ bị cáo đang đứng trước vành móng ngựa, nhưng với một sự phát âm khẽ khàng hơn, như để bị cáo phải tập trung mới có thể nghe được:
''Thôi được, bị cáo không trả lời, Hội đồng xét xử chưa rõ nguyên nhân bệnh tật...''
Nói đoạn ông quay sang nhìn vị đại diện Viện kiểm sát như thể có tín hiệu phối hợp đấu tranh rồi lên tiếng:
''Để phiên tòa tiếp tục, tôi xin thay mặt Hội đồng xét xử công bố lai lịch của bị cáo để nhân dân tham dự phiên tòa biết rõ hơn về nhân thân bị cáo.
Vừa nói ông vừa chậm rãi mở tập hồ sơ lấy 1 bút lục đặc kín và đọc:
''Trần Tâm Tân, 49 tuổi, sinh quán tại xã VN huyện X tỉnh NĐ trú tại 101 phố T thành phố HN- nguyên là Phó giám đốc Sở xây dựng tỉnh L, đã có thời gian trong quân ngũ với chức vụ thiếu tá. Nhưng vì vi phạm quân lệnh nghiêm trọng nên đã bị giáng chức xuống thượng úy và khai trừ ra khỏi Đảng...''
Chủ tọa chưa dứt lời thì bị cáo đã vùng vẫy như cá mắc lưới giơ cả 2 tay lên trời gào thét:
''Nói láo! Nói láo! Tòa án vu khống! Tôi phản đối!''
Chờ cho bị cáo bình tĩnh trở lại và ổn định trật tự, thẩm phán tiếp tục với thái độ nhẹ nhàng những dứt khoát rõ ràng:
''Đề nghị thư ký ghi lại tất cả diễn biến của sự việc vừa rồi và sự phản đối của bị cáo''.
Đoạn ông nhìn xuống nơi bị cáo đứng trước vành móng ngựa với nét mặt tái mét vì uất ức. Ông nói:
''Tôi vừa công bố lai lịch của anh và anh đã phản đối cho là tôi vu khống. Vậy, tôi hỏi lại anh lần nữa, lai lịch của anh có hay không có những tình tiết như tôi vừa công bố?''
''Tôi phản đối, ông nói láo. vu khống lai lịch tốt đẹp của tôi, lý lịch của tôi không hề có những điều ông vừa công bố!''
''Thôi được, đề nghị cô thư ký phiên tòa ghi lại chính xác những lời đối thoại của tôi và bị cáo và cho bị cáo nghe lại và ký vào đó''.
Chờ bị cáo xem lại biên bản và ký, ông đứng dậy với nét mặt nghiêm trang nhưng đôi mắt của ông nếu quan sát kỹ thì ánh lên niềm vui. Ông nói:
''Tôi xin thay mặt hội đồng xét xử tuyên bố rằng: Những lời tôi vừa công bố về lai lịch của bị cáo là không có. Nhưng đồng thời tôi cũng cảnh báo bị cáo rằng: bị cáo đã ngoan cố dùng thủ đoạn vờ không nghe thấy gì nhằm mục đích làm cho phiên tòa không thể tiến hành bình thường...''
Rồi ông nhìn bị cáo với ánh mắt nghiêm khắc nhưng cũng đầy lòng vị tha của một vị thẩm phán:
''Bây giờ thì anh có thể trả lời các câu hỏi của Hội đồng xét xử được rồi chứ?''
Bị cáo như vừa bừng tỉnh sau 1 cơn mê và với 1 tâm trạng đầy hối hận:
''Thưa quan tòa tôi xin thành khẩn khai báo hành vi tham ô của tôi và xin quan tòa tha thứ cho sự dại dột của tôi vừa rồi''...

Bàn về nội dung của một bản hiến pháp ( Phần đầu)



Bàn về nội dung của một bản hiến pháp

Nội dung của một bản Hiến pháp là mặt bên trong của Hiến pháp, là những gì chứa đựng và thể hiện trong một bản Hiến pháp. Lịch sử Lập hiến hơn 200 năm nay của nhân loại chỉ ra rằng tuy có sự khác nhau về những quy định cụ thể trong một bản Hiến pháp của các quốc gia khác nhau, nhưng nội dung tổng thể của một bản Hiến pháp theo quan niệm truyền thống bao gồm bốn phần cơ bản sau đây:

Một là, Chính thể của một nước;
Hai là, Các quyền cơ bản của con người, của công dân;
Ba là, Tổ chức quyền lực Nhà nước;
Bốn là, Quy trình ban hành và sửa đổi Hiến pháp.
Nhân dịp sửa đổi Hiến pháp 1992 (sửa đổi bổ sung năm 2001), chúng tôi xin có một số ý kiến bàn về nội dung của một bản Hiến pháp.
Về chính thể của một nước hay chế độ chính trị
Đây là nội dung thường được bố trí chương đầu tiên của một bản Hiến pháp dẫu là theo Hiến pháp nguyên thủy hay hiện đại. Bởi, nội dung của nó là những tuyên bố trang trọng mang tính nền tảng của một quốc gia về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; về bản chất của quyền lực nhà nước (theo hình thức chính thể nào); và về một số nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và đời sống xã hội. Đây là những nội dung được thể hiện xuyên suốt toàn bộ Hiến pháp. Các chương sau của Hiến pháp là sự cụ thể hoá thêm một bước nội dung của chương này. Tư tưởng và quan điểm trong chương này, quyết định nội dung của các chương tiếp theo của Hiến pháp, nó là cơ sở bảo đảm sự thống nhất của toàn bộ bản Hiến pháp. Vì thế, đây là chương không có nhiều điều khoản, nhưng lại là chương đặc biệt quan trọng quyết định nội dung của toàn bộ bản Hiến pháp.
Hiến pháp năm 1992 hiện hành của nước ta cũng đã thể hiện những nội dung này ở chương I: Nhà nước CHXHCN Việt Nam - chế độ chính trị. Tuy nhiên, theo chúng tôi còn một số điểm cần phải tiếp tục nghiên cứu để đổi mới và hoàn thiện trong lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này.
Một là, Hiến pháp cần phải quy định rõ nước ta theo hình thức chính thể nào? Bởi hình thức chính thể sẽ quyết định cách thức tổ chức các cơ quan nhà nước tối cao và xác lập những mối quan hệ giữa các cơ quan đó. Tại điều 1 Hiến pháp năm 1992 mới chỉ quy định nước ta là nước Cộng hòa XHCN. Điều đó mới chỉ nói lên được tên nước mà chưa nói nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là một nước theo hình thức chính thể nào? Nên chăng viết theo cách thể hiện Điều 1 của Hiến pháp năm 1946: Nước Việt Nam XHCN là một nước dân chủ cộng hòa.
Hai là, Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, hay chủ quyền nhân dân là nguyên tắc nền tảng chẳng những được quy định trong chương I mà còn phải xuyên suốt toàn bộ nội dung của Hiến pháp. Điều 2 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Tất cả quyền lực nhà nuớc thuộc về nhân dân”. Đây là một quy định chỉ rõ nguồn gốc, bản chất và mục đích của quyền lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân. Nguyên lý này không những được quy định trong Hiến pháp nước ta mà còn được quy định trong hầu hết Hiến pháp của các nhà nước dân chủ và pháp quyền… Điều 2 nói trên là đúng và phù hợp. Tuy nhiên, tại điều 6 Hiến pháp năm 1992 hiện hành lại quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Nội dung của điều khoản này mâu thuẫn với điều 2 nói trên. Bởi nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không chỉ thông qua các cơ quan đại diện mà còn phải thông qua các cơ quan nhà nước khác như hành pháp, tư pháp và các hình thức thực hiện quyền lực nhà nước một cách trực tiếp như phúc quyết Hiến pháp, trưng cầu dân ý…
Ba là, có một số quy định trong Chương I, không phù hợp với đối tượng và phạm vi điều chỉnh của chương chính thể. Ví dụ Điều 7 quy định quyền bầu cử và quyền bãi miễn ĐBQH và đại biểu HĐND là các quyền chính trị cơ bản của công dân thuộc đối tuợng quy định ở chương quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Chương V). Hay Điều 12 quy định về quyền làm chủ của công dân ở cơ sở cũng không phù hợp với chương này.
Bốn là, có một số điều luật quy định quá cụ thể, thiếu khái quát chưa ngang tầm Hiến pháp và còn trùng lắp. Ví dụ về nhà nước có đến 5 điều, quy định cả chính sách dân tộc (điều 5), chính sách đối ngoại (điều 14); quy định nguyên tắc (điều 2, điều 12, điều 8); vừa quy định bản chất nhà nước (điều 2) vừa quy định mục tiêu của nhà nước (điều 3)… Có thể nói các quy định về nhà nước trong Chương I không theo một lôgíc nào cả, lộn xộn cần phải được sắp xếp lại và bỏ bớt các yếu tố trùng lắp hoặc chưa xứng tầm được quy định trong Chương I Hiến pháp. Điều 9 quy định về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Điều 10 lại quy định công đoàn. Hai điều này có sự trùng lắp.
Từ những tồn tại nói trên, chế độ chính trị, cần được thể hiện trong việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, theo định hướng sau:
Một là, xác định phạm vi, nội dung những vấn đề cần phải thể hiện trong chương này. Theo tôi có các vấn đề cơ bản sau đây nhất thiết phải thể hiện trong chương I:
Nhà nước ta theo hình thức chính thể gì? Hiến pháp hiện hành chưa viết rõ điều này;
Tính thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ;
Bản chất, vai trò và các nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của nhà nước ta và xã hội ta.
Hệ thống chính trị nước ta gồm Đảng lãnh đạo và các tổ chức chính trị xã hội.
Hai là, kỹ thuật lập hiến thể hiện theo cách viết bao quát, không quy định quá cụ thể. Theo đó, tên Chương I chỉ nên viết là chế độ chính trị hay chính thể như Hiến pháp năm 1946.
Về các quyền cơ bản của con người, của công dân ghi nhận trong Hiến pháp
Đây là một nội dung quan trọng, cơ bản thường được quy định trong các chương đầu của một bản Hiến pháp. Bởi sự ra đời và tồn tại của Hiến pháp theo quan niệm truyền thống bắt nguồn từ lý thuyết về chủ quyền nhân dân. Nhân dân được xem là chủ thể của quyền lập hiến và với tư cách là một khế ước xã hội, trước hết Hiến pháp thể hiện chủ quyền của nhân dân. Mà một trong những nội dung quan trọng của chủ quyền nhân dân là người dân trong một nhà nước có những quyền gì? Nội dung của các quyền con người, quyền công dân trong các bản Hiến pháp theo mô hình Hiến pháp truyền thống thường là các quyền tự nhiên do tạo hóa ban cho con người, chứ không phải Hiến pháp hay nhà nước ban phát tặng cho. Đó thường là các quyền dân sự - chính trị tức là các quyền tự do, bình đẳng cho cá nhân con người mà nhà nước phải tôn trọng và có nghĩa vụ bảo vệ. Từ thế hệ một với các quyền dân sự và chính trị của cá nhân, đã dần dần phát triển lên thế hệ thứ hai về quyền con người, bao gồm các quyền kinh tế - xã hội và văn hóa, các quyền dân tộc cơ bản, tự quyết bình đẳng giữa các quốc gia và dân tộc. Và ngày nay, thế hệ thứ ba về quyền con người, với các quyền mới như: Quyền được phát triển, quyền được thông tin, quyền được sống trong môi trường trong sạch… đang được ghi nhận và khẳng định trong nhiều bản Hiến pháp của các nước. Ngoài việc liệt kê các quyền con người, quyền công dân, theo xu hướng ngày càng mở rộng và phát triển, Hiến pháp còn quy định trách nhiệm và giới hạn của nhà nước trong việc bảo đảm và tạo điều kiện cho con người và công dân thực hiện các quyền và làm tròn các nghĩa vụ.
Nghiên cứu nội dung về quyền con người, quyền công dân, qua 4 bản Hiến pháp của nước ta, có thể rút ra một số nhận xét sau đây làm cơ sở cho việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp sắp tới:
Một là, quyền con người, quyền công dân ở nước ta gắn liền với sự ra đời của nhà nước kiểu mới, với việc xác lập chủ quyền quốc gia, chủ quyền dân tộc, đưa con người từ thân phận nô lệ trở thành người chủ của đất nước và mưu cầu hạnh phúc. Do đó, có thể nói rằng quyền con người, quyền công dân ở nước ta ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của nhà nước sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến nay và quan hệ chặt chẽ với nhà nước. Dường như nhà nước là điểm khởi đầu để con người và công dân Việt Nam được hưởng quyền. Hơn nữa, Hiến pháp trong chủ nghĩa xã hội hiện thực trước đây được quan niệm là của nhà nước, phục vụ cho việc quản lý nhà nước. Do vậy, trong nhận thức của xã hội nói chung, của nhà nước nói riêng coi các quyền và nghĩa vụ của công dân là do nhà nước quy định, dường như là một sự ban phát tặng cho từ phía nhà nước. Vì thế, nội dung của các quyền ghi nhận trong Hiến pháp quá lý tưởng cao hơn điều kiện kinh tế - xã hội nên nhiều quyền không có điều kiện và cơ chế thực hiện trong thực tế (như Hiến pháp năm 1980); cách thể hiện còn mang tính chất ban phát tặng cho từ phía nhà nước mà không phải là quyền của chính con người, của chính công dân: chưa xem các quyền Hiến định của công dân là một phạm vi giới hạn pháp lý đối với công quyền. Với những tồn tại đó, sửa đổi Hiến pháp lần này, cần có một sự đổi mới cơ bản về nhận thức và cách thức thể hiện các quyền con người và quyền công dân trong Hiến pháp.
Trước hết về nhận thức cần có quan niệm đầy đủ, thống nhất về quyền con người, quyền công dân trong mối quan hệ với nhà nước. Trước đây, trong quan niệm của các học giả tư sản đã tồn tại hai khuynh hướng đối lập nhau trong việc giải quyết mối quan hệ này. Một khuynh hướng cho rằng cần phải thu hẹp quyền lực nhà nước trong mối quan hệ với quyền con người, quyền công dân mà đại biểu là Joi Lốc Cơ (nhà triết học chính trị người Anh 1632-1704). Đây là điều kiện để thỏa mãn quyền của từng cá nhân con người, nhằm bảo đảm sự an toàn cho từng cá nhân khỏi bị quyền lực nhà nước xâm hại. Ngược lại, có khuynh hướng đòi hỏi được mở rộng quyền lực nhà nước trong mối quan hệ với cá nhân con người và công dân. Theo quan điểm này, quyền lực nhà nước cần được tăng cường, cần được thiết lập để bảo đảm và thoả mãn các yêu sách về các quyền của con người. Đại diện cho khuynh hướng này là Tô Mát Hốp Xơ (nhà triết học 1588-1679). Trong điều kiện ngày nay, việc quan niệm đúng đắn quyền con người, quyền công dân phải hướng đến việc giải quyết các quan hệ giữa cá nhân với xã hội; giữa tính nhân loại với tính giai cấp; giữa lợi ích quốc gia và quan hệ quốc tế; giữa giá trị đạo đức với giá trị pháp luật và quyền lực nhà nước; giữa lợi ích quốc gia và quan hệ quốc tế, giữa khả năng và nhu cầu tự nhiên. Như vậy, trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền và toàn cầu hóa, nội dung quyền con người, quyền công dân ghi nhận trong Hiến pháp theo chúng tôi cần quan tâm đến các vấn đề sau:
Quyền con người là những giá trị gắn liền với mỗi con người vừa với tư cách cá nhân vừa với tư cách là thành viên của xã hội, thành viên của một nhà nước nhất định. Vì vậy, quyền con người vừa mang thuộc tính cá nhân, vừa thể hiện lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng đồng.
Quyền con người là những giá trị phải được thừa nhận chung bằng cách thể chế hóa trong Hiến pháp và Luật thành các quyền năng cụ thể, có tính phổ cập, cần thiết cho mọi người không phân biệt chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, giới tính.
Quyền con người vừa là thuộc tính tự nhiên của con người, vừa là những giá trị nảy sinh trong đời sống cộng đồng gắn liền với một nhà nước cụ thể, với một chế độ chính trị - pháp lý cụ thể. Ghi nhận các quyền con người trong Hiến pháp phải thể hiện được các nhu cầu và khả năng khách quan phù hợp với chế độ chính trị, kinh tế, lịch sử, dân trí cụ thể… Chỉ có thông qua Hiến pháp và pháp luật thì các giá trị của con người với tư cách là tự nhiên và xã hội mới trở thành quyền được xác định và mới bảo đảm trở thành hiện thực trong thực tiễn. Với nhận thức đó, việc thể hiện trong Hiến pháp trước hết phải khẳng định chủ thể của quyền là con người và công dân trong nhà nước. Đồng thời đó chính là nghĩa vụ của nhà nước trong việc bảo đảm và tạo điều kiện cho con người và công dân thực hiện các quyền.
Hai là, quyền và nghĩa vụ của công dân được thể hiện một cách thống nhất và nhất quán trong cả 4 bản Hiến pháp nước ta. Hiến pháp sau có bước phát triển so với Hiến pháp trước về nội dung các quyền của công dân. Thế hệ thứ ba về các quyền, cơ bản của con người của công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1992 như quyền được thông tin (điều 69). Hiến pháp năm 1992 thừa nhận thuật ngữ quyền con người, chưa có sự phân biệt giữa quyền con người với quyền công dân và cho rằng quyền con người thể hiện ở quyền công dân (điều 50). Theo đó, các quyền con người, quyền công dân được quan niệm đồng nhất trong Hiến pháp nước ta. Quan điểm đó cần được khắc phục trong việc sửa đổi Hiến pháp lần này. Theo chúng tôi, mặc dầu quyền con người và quyền công dân không tách rời nhau một cách tuyệt đối. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, việc thừa nhận quyền con người và quyền công dân với tính cách là các khái niệm vừa mang tính độc lập vừa có mối liên hệ biện chứng là hoàn toàn phù hợp. Quyền con người và quyền công dân trong mối quan hệ thống nhất biện chứng đều ghi nhận các quyền của cá nhân. Song không vì thế mà đồng nhất hai khái niệm đó xét cả về phương diện chủ thể của quyền và nội dung của quyền. Quyền con người là khái niệm rộng hơn, nó vừa ghi nhận trạng thái pháp lý về quyền cá nhân ở phạm vi quốc tế, vừa là quyền công dân ở trong phạm vi từng quốc gia nhất định. Do vậy, nội dung, số lượng và chất lượng quyền công dân ở mỗi quốc gia thường không giống nhau. Một mặt, quyền con người không loại trừ khái niệm quyền công dân, bao hàm quyền công dân như là một bộ phận, nội dung cơ bản của quyền con người; song, mặt khác cũng không thể thay thế được khái niệm đó. Ngược lại, quyền công dân là khái niệm hẹp hơn. Trong ý nghĩa pháp lý, khái niệm quyền công dân để chỉ trong phạm vi từng quốc gia nhất định, không bao quát hết tất cả các quyền của cá nhân con người. Về phương diện chủ thể quyền con người ngoài những cá nhân được xác định là công dân còn bao hàm những người không phải là công dân (người nước ngoài, những người không có quốc tịch, người bị pháp luật tước quyền công dân); những người này tuy không được hưởng các quyền công dân, nhưng vẫn có các quyền về con người với tính cách là một thành viên của một quốc gia mà còn là thành viên “công dân” của cộng đồng loài người. Mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa quyền con người và quyền công dân thể hiện trong nội dung của quyền con người trên bình diện quốc tế và quyền công dân trong phạm vi từng quốc gia. Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền đã đề ra nguyên tắc:
Tất cả mọi người đều có những quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng, đó là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình trên thế giới.
Sự phủ nhận và coi thường các quyền con người đều dẫn đến các hành vi man rợ, làm công phẩn lương tâm của loài người. Một thế giới mới ra đời, trong đó mọi người sẽ có quyền tự do ngôn luận và tín ngưỡng, được giải phóng khỏi mọi khủng bố và nghèo khổ, xã hội đó được nêu lên thành khát vọng cao nhất của con người.
Từ nhận thức nói trên, chẳng những trong Hiến pháp phải viết rõ tên chương là quyền con người và quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân mà còn phải thể hiện đầy đủ nội dung của các quyền, bao gồm:
Các quyền tự do dân chủ về chính trị bao gồm: quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, quyền bầu cử, ứng cử, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền được lập hội, quyền biểu tình, bãi công, quyền tự do tín ngưỡng.
Các quyền dân sự (quyền tự do cá nhân) bao gồm: quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; quyền được an toàn bí mật về thư tín, điện thoại; quyền tự do đi lại và cư trú trong nước; quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền khiếu nại, tố cáo…
Các quyền về kinh tế - xã hội bao gồm: quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền thừa kế; quyền sáng chế phát minh; quyền được bảo vệ sức khỏe; các quyền mang tính chất ưu tiên như quyền trẻ em; quyền của người già, người cô đơn không  nơi nương tựa; quyền được sống trong  môi trường trong sạch không bị ô nhiễm, quyền được phát triển của cá nhân…
(còn nữa)
Gs.Ts. Trần Ngọc Đường--ĐBND

Bàn về nội dung của một bản hiến pháp (Phần cuối)


Bàn về nội dung của một bản hiến pháp (Phần cuối)

* Cách thức tổ chức quyền lực nhà nước
* Quy trình lập hiến
* Nội dung quy định về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại trong Hiến pháp
Cách thức tổ chức quyền lực nhà nước
Đây là một nội dung căn bản của Hiến pháp. Bởi Hiến pháp ra đời và tồn tại bắt nguồn từ chủ quyền nhân dân. Thông qua quyền lập hiến, nhân dân thỏa thuận giao quyền, ủy quyền cho nhà nước, để cho nhà nước thay mặt mình sử dụng quyền lực nhà nước theo ý chí của mình. Vì thế, Hiến pháp được quan niệm là một văn bản thỏa thuận chung của nhân dân trong một quốc gia, về những cách thức tổ chức quyền lực nhà nước mà theo họ là phù hợp và đem lại hạnh phúc cho mình. Thông thường trong một bản Hiến pháp của các nhà nước dân chủ và pháp quyền tổ chức quyền lực nhà nước bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Vị trí, vai trò; chức năng, nhiệm vụ quyền hạn; các nguyên tắc cơ bản; các mối quan hệ giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp;
Cơ chế vận hành và kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm phòng chống sự tha hóa của quyền lực nhà nước;
Hiến pháp nước ta cũng đã dành năm chương để quy định về tổ chức quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN được thể hiện trong các văn kiện của Đảng, đặc biệt là trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (sửa đổi và phát triển năm 2011), việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992 sắp tới, về nội dung tổ chức quyền lực nhà nước, theo chúng tôi cần tập trung vào những vấn đề sau đây:
Một là, phân công quyền lực nhà nước giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một nội dung rất quan trọng trong tổ chức quyền lực nhà nước của Nhà nước pháp quyền XHCN nước ta. Nó là nhân tố bảo đảm cho quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bảo đảm cho nhà nước tổ chức và hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, phòng chống được sự dựa dẫm ỷ lại giữa các quyền. Tuy nhiên, Hiến pháp hiện hành chưa phân công, phân nhiệm một cách phù hợp, rõ ràng, minh bạch trong việc thực hiện quyền lực nhà nước giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ví dụ chủ thể phân công quyền lực nhà nước chưa phù hợp. Nhân dân là chủ thể phân công quyền lực chưa được quy định rõ trong Hiến pháp.
Bằng việc thực thi quyền Lập pháp, nhân dân ủy thác quyền lập pháp cho Quốc hội, quyền hành pháp cho Chính phủ và quyền tư pháp cho Tòa án. Theo đó, có thể thấy rằng quyền lập hiến là quyền lực tối cao so với quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong lúc đó, Hiến pháp năm 1992 hiện hành lại quy định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến” (điều 83). Quy định này không thống nhất với điều 2 của Hiến pháp: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Quyền lập hiến là quyền thể hiện một cách trọn vẹn nhất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Vì thế, trong nhà nước dân chủ và pháp quyền thì quyền lực nhà nước thuộc về ai thì chủ thể đó có quyền Lập hiến và khi nhân dân có quyền lập hiến thì nhân dân trở thành chủ thể phân công quyền lực nhà nước.
Mặc dầu đã có những đổi mới, nhưng những quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi một số điều năm 2001) và Luật Tổ chức QH hiện hành còn ít nhiều chịu ảnh hưởng của nguyên tắc tập quyền với một số nhiệm vụ, quyền hạn phân công cho QH chưa thật phù hợp. Ví dụ QH cơ quan duy nhất có quyền Lập hiến (điều 83); quyền giám sát tối cao văn bản quy phạm pháp luật dưới Luật thuộc quyền tư pháp lại giao cho QH; quyền giải thích chính thức Hiến pháp, luật và pháp lệnh giao cho UBTVQH cũng không phù hợp (vì đây là hoạt động vi mô gắn liền với sự kiện pháp lý trong lúc đó UBTVQH là cơ quan hoạt động mang tính chất vĩ mô ở tầm quốc gia).
Chính phủ không được Hiến pháp phân công là cơ quan hành pháp cao nhất mà là cơ quan hành chính cao nhất đã làm cho việc phân công quyền lực nhà nước cho Chính phủ không đầy đủ. Bởi vì, hành chính (administratinon) là chấp hành và điều hành chính sách mang tính thụ động; còn hành pháp (exucutire) là hoạch định, khởi xướng và điều hành chính sách, mang tính chủ động, năng động và sáng tạo gắn liền với hoạt động của các chính khách.
Hiến pháp hiện hành của nước ta không phân công rõ cơ quan nào là cơ quan tư pháp. Tòa án được phân công quyền xét xử nhưng không được gọi là cơ quan tư pháp. Vì thế, việc phân công quyền xét xử cho tòa án với phạm vi thẩm quyền còn hạn chế. Có một số thẩm quyền thuộc quyền xét xử nhưng lại không được giao cho Toà án. Ví như xét xử tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật thay vì quyền này lại giao cho nhiều cơ quan khác nhau như QH, UBTVQH, Thủ tướng Chính phủ.
Mặc dầu Hiến pháp không quy định cơ quan nào là cơ quan tư pháp, nhưng lại phân công cho Viện kiểm sát nhân dân nhiệm vụ và quyền hạn là kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Hai là, Kiểm soát quyền lực nhà nước là một nội dung mới được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ bổ sung trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI vừa qua; chẳng những phải được ghi nhận thành nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước quy định ở chương I của Hiến pháp mà các chương về tổ chức quyền lực nhà nước cũng cần phải được thể hiện một cách xuyên suốt: bởi đây là một nội dung trung tâm trong tổ chức quyền lực nhà nước nhằm khắc phục sự tha hóa của quyền lực nhà nước, đưa quyền lực nhà nước trở về đúng nghĩa của nó là quyền lực của nhân dân. Tuy nhiên, Hiến pháp hiện hành chưa được quan tâm đầy đủ về nội dung kiểm soát quyền lực nhà nước.
Trước hết, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước theo Hiến pháp hiện hành ở nước ta chủ yếu được giao cho QH bằng phương thức giám sát tối cao. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện phương thức này cũng còn bộc lộ một số hạn chế. Đó là hiệu lực và hiệu quả giám sát không cao do đối tượng giám sát quá rộng, nội dung giám sát bao gồm: “toàn bộ hoạt động của nhà nước” (điều 83 Hiến pháp) và chế tài giám sát cũng không đầy đủ và rành mạch.
Kiểm soát quyền lực nhà nước trong hệ thống các cơ quan hành pháp chủ yếu mang tính chất nội bộ, phục vụ quản lý nhà nước của thủ trưởng chủ yếu bằng kiểm tra, thanh tra. Mới chỉ có cơ chế  kiểm soát hoạt động của hành pháp thông qua khởi kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính của người, cơ quan hành chính có thẩm quyền.
Kiểm soát quyền lực nhà nước bằng cơ quan tư pháp chưa được coi trọng nên quyền con người, quyền công dân chưa được bảo hộ triệt để và đến cùng.
Từ những nhận xét nói trên có thể thấy rằng: việc kiểm soát quyền lực nhà nước đặc biệt là giám sát Hiến pháp và phán quyết vi phạm Hiến pháp không được Hiến pháp quy định cho một cơ quan chuyên trách mà theo chức năng nhiệm vụ của mình, tất cả các cơ quan nhà nước phải có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp. Đây là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo vệ Hiến pháp phi tập trung, không mang tính chất phán quyết theo một thủ tục tố tụng riêng thống nhất. Khi phát hiện hành vi vi phạm Hiến pháp, các chủ thể có thẩm quyền tự mình hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Với cơ chế này, thẩm quyền bảo vệ Hiến pháp không được phân định trách nhiệm rõ ràng. Vì vậy, hiệu quả bảo vệ Hiến pháp không cao.
Trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước hiện nay ở nước ta, chưa có cơ chế để “phán quyết những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động Lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ X trang 127). Kiểm soát quyền lực nhà nước của nhân dân còn mang tính hình thức, chưa có cơ chế hữu hiệu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân một cách triệt để khi quyền lực nhà nước xâm hại đến. Ví như chưa có quyền khởi kiện đối với văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp… Vì thế, trong lần sửa đổi Hiến pháp này cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, góp phần bảo đảm cho nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân được kiểm soát một cách đầy đủ.
Quy trình lập hiến
Đây là nội dung sau cùng của môt bản Hiến pháp theo mô hình Hiến pháp truyền thống. Tuy là nội dung sau cùng nhưng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong một bản Hiến pháp. Bởi, quy trình Lập hiến là điểm khởi đầu bảo đảm cho nguyên tắc Hiến định: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” được thực hiện ngay từ thủ tục ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp.
Lịch sử Lập hiến hơn 200 năm của nhân loại cho thấy quy trình ban hành Hiến pháp có sự khác nhau, nhưng xu hướng chung là quy trình ngày càng dân chủ, chất lượng của một bản Hiến pháp phụ thuộc phần lớn vào việc nó được làm ra theo quy trình công nghệ như thế nào. Để có một bản Hiến pháp có chất lượng tốt, phù hợp với thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, mở cửa và hội nhập quốc tế, cần phải đổi mới quy trình ban hành và sửa đổi Hiến pháp của nước ta hiện nay. Nội dung của quy trình ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp được quy định ngay trong bản Hiến pháp, thông thường bao gồm các vấn đề sau đây:
Hiến pháp xác định ai là chủ thể có quyền ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp. Đây là điểm đầu tiên và cũng là điểm mấu chốt trong quy trình Lập hiến nói chung, sửa đổi Hiến pháp nói riêng. Bởi đây là vấn đề liên quan đến quan niệm về Hiến pháp. Nếu Hiến pháp được xem là một văn bản của nhà nước, một hình thức để nhà nước quy định tổ chức bộ máy nhà nước của mình, củng cố sức mạnh của nhà nước, xác định các mục tiêu của nhà nước thì Hiến pháp do nhà nước ban hành. Cơ quan nhà nước được Hiến pháp quy định có quyền Lập hiến như hiến pháp nước ta hiện hành, điều 84 xác định QH có “quyền làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp”. Ngược lại, nếu quan niệm Hiến pháp là một văn bản của nhân dân thì nó không thể sửa đổi chỉ bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà trước hết quyền lập hiến phải thuộc về nhân dân. Như vậy, đổi mới quy trình lập hiến ở nước ta, trước hết cần đổi mới quan niệm về Hiến pháp trên cơ sở đó, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến và sửa đổi Hiến pháp.
Thiết lập quy trình sửa đổi Hiến pháp: Hiến pháp năm 1992 của nước ta hiện hành quy định: “Chỉ Quốc hội mới có quyền sửa đổi Hiến pháp. Việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất là 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội quyết định tán thành” (điều 147). Ngoài điều đó ra Hiến pháp không quy định một chi tiết nào về việc thực hiện quyền đó ra sao? Ví như ai là người có quyền trình dự án sửa đổi Hiến pháp, có cần thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp không? Công bố Hiến pháp sửa đổi như thế nào? Dưới hình thức nào? Giới hạn của việc sửa đổi Hiến pháp gồm những gì? Hơn nữa, quy định nói trên của Hiến pháp cũng không rõ ràng minh bạch “việc sửa đổi Hiến pháp phải được ít nhất là 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành” có nghĩa là vấn đề sửa đổi Hiến pháp được đặt ra khi có 2/3 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành hay dự án sửa đổi Hiến pháp chỉ trở thành một bộ phận của Hiến pháp khi có 2/3 đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Nói cách khác, việc “tán thành” đó là việc “tán thành” phải sửa đổi Hiến pháp hay là “tán thành” thông qua bản Hiến pháp sửa đổi. Hiện nay việc “tán thành” đó được hiểu là cả trong việc đề xuất phải sửa Hiến pháp lẫn cả trong việc phê chuẩn dự án Hiến pháp sửa đổi.
Kinh nghiệm Lập hiến của các nước chỉ ra rằng do tính chất của Hiến pháp là một văn bản thiết lập quyền lực gốc, ấn định các quan hệ nền tảng của một quốc gia, nên nội dung quy định quy trình sửa đổi Hiến pháp thường khó khăn và sự khó khăn đó được quy định ngay trong Hiến pháp. Đối với quy trình sửa đổi Hiến pháp nước ta, không thể xem phải có đủ 2/3 số ĐBQH biểu quyết tán thành là thể hiện sự phức tạp khó khăn trong sửa đổi Hiến pháp. Bởi sự khó khăn này chỉ bằng quy định việc bãi nhiệm một ĐBQH (mà việc bãi nhiệm ĐBQH thông thường là do đại biểu đó vi phạm pháp luật không xứng đáng tư cách đại biểu, theo Luật hiện hành của nước ta cũng phải có 2/3 tổng số ĐBQH tán thành). Từ đó, chúng tôi đề nghị kế thừa quy trình lập hiến và sửa đổi Hiến pháp quy định trong Hiến pháp năm 1946 để xác định quy trình lập hiến của nước ta theo các bước sau:
Một là, quyền đưa sáng kiến sửa đổi Hiến pháp: quyền này được trao cho QH. Theo đó 2/3 tổng số ĐBQH có quyền đặt ra yêu cầu sửa đổi Hiến pháp. Điều 70 Hiến pháp năm 1946 nước ta quy định 2/3 tổng số Nghị viện có quyền yêu cầu sửa đổi Hiến pháp.
Hai là, soạn thảo và thảo luận Hiến pháp sửa đổi. Ủy ban sửa đổi Hiến pháp cũng là một hình thức thảo luận và soạn thảo Hiến pháp sửa đổi. Hiến pháp năm 1946 của nước ta quy định ở điều 70 rằng: “Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi”. Mặc dầu Hiến pháp năm 1992 hiện hành không có quy định này, nhưng trên thực tế các lần sửa đổi Hiến pháp, QH đều thành lập Ủy ban sửa đổi Hiến pháp.
Ba là, phê chuẩn hiến pháp sửa đổi. Trưng cầu dân ý trong quy trình lập hiến hoặc sửa đổi Hiến pháp là một xu hướng phổ biến của chủ nghĩa hợp hiến hiện đại. Hiến pháp sửa đổi sau khi được QH thông qua với đa số tuyệt đối, còn cần phải đem ra cho nhân dân cả nước phê chuẩn. Ở nước ta, Hiến pháp năm 1946 cũng đã quy định trưng cầu dân ý trong quy trình sửa đổi Hiến pháp. Điều 70 quy định:“Những điều đã được thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết”. Trưng cầu dân ý đối với Hiến pháp chẳng những thể hiện lòng tin vào nhân dân mà điều quan trọng hơn là xác lập chủ quyền nhân dân đối với quyền lực nhà nước; nhân tố góp phần giữ vững sự ổn định và bền vững của chính quyền khi có sự biến động ở bên trong cũng như bên ngoài đất nước.
Bốn là, quy định giới hạn sửa đổi Hiến pháp trong quy trình ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp. Sửa đổi Hiến pháp khác với ban hành Hiến pháp ở chỗ sửa đổi Hiến pháp là một quyền có giới hạn. Nếu lập hiến (ban hành Hiến pháp) là một quyền không có giới hạn, nghĩa là các chủ thể có quyền lập hiến không bị ràng buộc bởi một thủ tục pháp lý nào và không hạn chế về nội dung của Hiến pháp, thì ngược lại, sửa đổi Hiến pháp là một quyền bị hạn chế bởi nó phải tuân theo Hiến pháp. Nói cách khác, quyền sửa đổi Hiến pháp là do Hiến pháp quy định nên bị giới hạn bởi Hiến pháp. Điều đó có nghĩa là quyền sửa đổi Hiến pháp chỉ bao gồm quyền thay đổi, bổ sung, mở rộng, loại bỏ những điều khoản của Hiến pháp những vẫn giữ lại bản thân bản Hiến pháp. Đó không phải là quyền thiết lập một bản Hiến pháp mới, cũng không phải là quyền thay đổi nền tảng của quyền lập hiến. Sửa đổi Hiến pháp phải giữ lại bản sắc của Hiến pháp, tính chỉnh thể của một bản Hiến pháp, nghĩa là không được thay đổi cấu trúc cơ bản của chính quyền hay hệ thống chính trị mà Hiến pháp đã xác lập. Thông thường sửa đổi Hiến pháp không được thay đổi chính thể tức là mô hình tổng thể về cấu trúc của nhà nước. Bởi vì chính thể tức là mô hình tổng thể về cấu trúc nhà nước. Quyền sửa đổi Hiến pháp là một quyền giới hạn không những về nội dung mà cả về hình thức. Tức là còn phải tuân thủ các quy định của Hiến pháp về quy trình sửa Hiến pháp.
Ở nước ta chưa đặt một giới hạn nào trong việc sửa đổi Hiến pháp. Sửa đổi Hiến pháp năm 1992 lần này, theo chúng tôi cần phải có quy định về vấn đề này trong quy trình sửa đổi Hiến pháp. Những quy định của Hiến pháp ở Chương I về chính thể như sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, chính thể dân chủ cộng hòa XHCN, quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng là những giới hạn đối với sửa Hiến pháp nước ta.
Từ việc thiết lập quy trình sửa đổi Hiến pháp nói trên, chúng tôi đề nghị trong Hiến pháp sửa đổi lần này cần có nội dung quy định về quy trình sửa đổi Hiến pháp. Theo đó, điều 147 của Hiến pháp hiện hành có thể sửa đổi như sau:
Việc sửa đổi Hiến pháp được tiến hành theo cách thức sau:
Do 2/3 tổng số ĐBQH yêu cầu;
QH sẽ bầu một Ủy ban sửa đổi gồm ĐBQH và các chuyên gia tiêu biểu của đất nước. Một Nghị quyết của QH quy định nhiệm vụ quyền hạn của Uỷ ban này;
Dự thảo sửa đổi Hiến pháp do Ủy ban sửa đổi Hiến pháp soạn thảo trước khi trình QH thông qua phải được toàn thể nhân dân tham gia ý kiến rộng rãi;
- Dự án sửa đổi Hiến pháp được QH xem xét thông qua với 2/3 tổng số ĐBQH tán thành phải được đưa ra toàn dân phúc quyết;
- Không thể sửa Hiến pháp để thay đổi sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước, chính thể dân chủ cộng hòa XHCN, cấu trúc của hệ thống chính trị và bản thân điều khoản này.
Nội dung quy định về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại trong Hiến pháp
Theo mô hình Hiến pháp nguyên thủy, các bản Hiến pháp đều có nội dung xoay quanh 4 vấn đề cơ bản nói trên. Tuy nhiên, trong sự phát triển, các Hiến pháp ngày nay, nhất là Hiến pháp các nước XHCN trước đây, đều có khuynh hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp. Các vấn đề về chế độ kinh tế; văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ; an ninh quốc phòng và đối ngoại đều được đưa vào Hiến pháp. Mở rộng phạm vi điều chỉnh của Hiến pháp là khuynh hướng phổ biến của nhiều bản Hiến pháp ngày nay. Lịch sử Lập hiến của nước ta cũng theo khuynh hướng đó. Trong Hiến pháp năm 1992 hiện hành đã dành đến 3 chương để quy định về những vấn đề kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại. Tuy nhiên nhìn vào nội dung của các chương, điều này có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
Phạm vi các quy định trong các chương này quá rộng, không những quy định mục đích, vai trò, vị trí mà còn cả những chính sách cụ thể về kinh tế; văn hoá, giáo dục, khoa học công nghệ; an ninh và quốc phòng; mà những chính sách này không phải lúc nào cũng ổn định.
Các quy định còn mang tính tuyên ngôn, cương lĩnh với ngôn ngữ, chính trị; ít tính pháp lý nên một số quy định chưa ngang tầm được ghi nhận trong Hiến pháp nên hiệu lực điều chỉnh trực tiếp không cao.
Với những hạn chế đó, nghĩ rằng trong Hiến pháp sửa đổi lần này cần gộp tất cả các nội dung về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ; an ninh, quốc phòng và đối ngoại thành một chương. Nội dung của chương này quy định những vấn đề có tính nguyên tắc, những định hướng mục tiêu những giá trị ổn định về tất cả các lĩnh vực nói trên. Lược bỏ những chính sách cụ thể, những quy định chưa thật ổn định, chưa ngang tầm được quy định trong Hiến pháp, để bảo đảm cho một bản Hiến pháp vừa có nội dung theo các quan điểm truyền thống lại vừa có nội dung phát triển của một bản Hiến pháp hiện đại nhưng gọn gàng, súc tích có hiệu lực thực thi cao.
Gs.Ts. Trần Ngọc Đường--ĐBND