Tuesday, January 17, 2012

VỊ THẾ GIA ĐÌNH VÀ XÃ HỘI CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG LỊCH SỬ



THẠCH VĂN
Luật lệ về hôn thú; hứa hôn và ly dị và các nghi lễ, tình trạng đa thê, các vấn đề xã hội nghề nghiệp, sự giáo dục và những nét đặc biệt của vẻ đẹp người phụ nữ Việt Nam trong lịch sử đã góp phần làm nên bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.
Những điều luật về hôn nhân sớm nhất của Việt Nam thời phong kiến có thể sớm hơn Bộ Luật Dân sự của nước Pháp đã có những điều rất tiến bộ đối với phụ nữ như: người phụ nữ bình đẳng với người chồng: (Thê – Phu tề gia ). Khi lập gia đình, họ không nhất thiết phải dùng tên của người chồng, mà có thể giữ tên riêng của mình.
Ở Việt Nam xưa, hôn thú xảy ra ở tuổi rất sớm, con trai là mười sáu, con gái là mười bốn và được xem là một vấn đề rất hệ trọng nên không thể phó mặc cho sự may rủi hoặc sở thích trong tình yêu. Nó là công việc mà cha mẹ thường phải sắp xếp, giải quyết và được tham khảo ý kiến của những người có quan hệ gần gũi trong họ tộc. Cũng chính vì vậy mà sự cố vấn là cần thiết cho lứa tuổi còn quá trẻ. Cũng do vậy, thời kỳ hứa hôn được chấp nhận kéo dài. Sự hứa hôn cấu thành khế ước pháp lý đầu tiên và sẽ kết thúc khi vị hôn thê chấp nhận các lễ vật. Nếu người con trai phá bỏ sự hứa hôn, anh ta sẽ mất lễ vật đã trao cho người hôn thê. Nếu người con gái là kẻ hối hôn, cô ta có thể bị người hôn phu đầu tiên khiếu nại cho dù sau này anh ta sẽ lấy một người  khác.
Các cuộc hôn nhân với người cận huyết thống sẽ bị trừng phạt rất nặng nề. Thí dụ, một người đàn ông lấy bà cô của mình sẽ tức thời bị chém đầu. Người đàn ông có thể được phép lựa chọn người làm vợ trong số các chị em của người vợ cả bị chết nhưng lại có thể bị treo cổ nếu cưới vợ góa của anh em trai. Việc kết hôn hỗn tạp cũng bị ngăn cấm bởi vì nó có thể làm đảo lộn căn bản hệ cấp của gia đình.
Nghi lễ và giáo lý Phật Giáo của người Việt biểu lộ một sự tôn kính sâu xa liên quan đến tục thờ cúng tổ tiên. Từ đó, vị thế truyền thống của người cha cấu thành các nguyên tắc nền tảng của gia đình. Nhà nào cũng đều có một bàn thờ nhưng chỉ người đàn ông mới được cử hành lễ. Đây lại chính là nguồn gốc của một sự bất bình đẳng xã hội. Điều dễ nhận thấy là người đàn ông luôn tìm cách vận dụng tôn giáo để gia tăng quyền lực của mình.
Sự ra đời của một đứa con trai được coi là lộc trời ban cho một con người; đồng thời nó cũng áp đặt trên người đó một bổn phận nghiêm khắc và linh thiêng. Nếu một người nào đó mà hôn nhân không cho họ một đứa con trai, luật pháp phong kiến sẽ có các phương cách để trợ giúp. Đó là sự thừa nhận tình trạng đa hôn và chấp nhận con ngoài giá thú, về sau thành người thừa tự.  Người vợ không sinh con có thể bị trả về với cha mẹ của mình, bị coi là bất hiếu “tam sự bất hiếu, vô hậu vi đại”. Nếu người  vợ chỉ sinh toàn con gái có thể có nguy cơ bị thế chỗ bởi một bà vợ khác.
Thực tế thường xảy ra đối với người đàn ông chỉ có một con gái là nhận người con rể, nhưng con rể không thể bị buộc gánh vác trách nhiệm về việc thờ cúng tổ tiên, nên cần phải tìm nhận một đứa con trai khác đứng vai trò làm trưởng gia đình. Thường là trong số các cháu trai bên nội và anh em họ của chúng (tương tự như ở Hy Lạp và Ấn Độ).
Trong vấn đề thừa kế, “phần hương hỏa” bao giờ cũng được tính toán rất cẩn trọng nên nó tạo ra thói quen phân chia tài sản nhiều hơn cho người con trai cả hay đứa con trai nuôi. Tuy nhiên, người góa phụ  vẫn thừa kế tài sản của chồng, các con gái dễ bị loại ra khỏi sự thừa kế.
Theo “Dịch Kinh” hôn nhân thì không thể bị tan vỡ. Nhưng lại có nhiều điều luật tiến bộ hơn hạn chế sự ly hôn. Các lý do ly hôn là: không có con, dâm loạn, trộm cắp, ghen tuông, lắm lời, bất kính đối với cha mẹ chồng, và mắc các chứng ác tật không thể chữa trị được như cùi hủi và động kinh phong.  Cũng có những trường hợp chứng tỏ sự khôn ngoan và nhân đạo của luật. Chẳng hạn, người đàn ông không thể ly dị vợ khi khởi sự đời sống vợ chồng trong sự nghèo khổ, về sau này trở nên giàu có; ông ta cũng không thể bỏ vợ khi tình cảm đã phai nhạt với người đàn bà đầu tiên mà ông ta từng yêu hoặc do gia đình “đầu đội trầu, tay bưng lễ” đi cưới hỏi về cho ông.
Không lý do nào có thể biện minh cho sự ngoại tình; với tình trạng phạm pháp quả tang được chứng minh, người chồng được phép giết chết đôi kẻ phạm tội. Thời xưa người vợ phạm tội bị mang ra chốn công cộng để cho voi dày. Sau này tội được giảm xuống là bị đánh chín mươi trượng. Lúc đó người đàn ông có quyền đem bán hay giữ người vợ lại. Về sau việc trả thù man rợ ngày càng ít hơn. Thảng hoặc cũng vẫn có một cặp gian dâm có thể bị buộc bè cho trôi sông  hoặc bị trói chặt vào nhau và bị nhét vào miệng các thứ rác rưởi.
Người vợ Việt Nam được cưới hỏi theo luật thì được hưởng lợi chung về tài sản. Khi người chồng mua hay bán đất đai không bao giờ thiếu việc ghi tên người vợ. Các hương chức ở thôn xã ghi chép đủ các quyền của người vợ trong sổ sách và người mua bán khôn ngoan cũng không quên người vợ trong các giao dịch tài sản quan trọng.
Sách Lễ Ký ghi nhớ về các lễ nghi: “Hôn lễ hoàn thành sự hợp nhất giữa hai người có tên khác nhau, trong một cung cách khiến cho họ có thể thờ phụng tổ tiên nơi điện thờ của họ và huấn luyện các thế hệ tương lai đi theo các truyền thống của họ.” Người ta nhận thấy văn minh Việt Nam, sau khi giao thoa với văn minh Trung Hoa đã có khuynh hướng đi theo một bản sắc riêng.
Hôn nhân Việt Nam là một khế ước tự do giữa những người mong muốn và là sự thỏa thuận giữa hai gia đình. Chính quyền ít khi  can thiệp. Người mai mối không phải là quan chức, nhưng lại bị ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Họ thường là bạn của cả hai bên gia đình. Tại các phố phường người làm mối là người hành nghề chuyên nghiệp, quen biết nhiều và thông thạo lễ nghi. Các bước tiến tới hôn nhân như sau: Nhà trai trước hết nhờ người mai mối đến nhà gái ngỏ lời cầu hôn và nếu được trả lời thuận ý, gia đình người con trai sẽ cho biết họ tên, tuổi, ngày sinh của chàng trai trong một tấm thiệp đỏ. Người đại diện cũng nhận được cùng thông tin như thế từ phía nhà cô gái. Khi đó các thày bói sẽ xem hai gia đình và tuổi của hai người có hợp không. Người mai mối ấn định ngày cưới, còn cha mẹ thì lo sắm lễ vật và cầu nguyện với tổ tiên. Khi đó các nghĩa vụ của người thanh niên bắt đầu. Chàng trai sẽ tự đến trình diện theo các nghi thức bên nhà gái và dâng lễ vật như trầu cau và nhiều thứ khác… Nếu lễ vật được chấp nhận, kể từ lúc đó người con trai đó được xem là con rể. Ở các nhà nghèo, sau cầu hôn, anh ta sống cùng nhà với vị hôn thê. Nhà giàu có hơn, người con trai sẽ về nhà riêng của mình, và sẽ không quay lại thăm viếng người hôn thê cho đến ngày được ấn định là ngày hứa hôn.
Ngày hứa hôn (ăn hỏi), một lần nữa anh ta lại dâng trầu cau, bánh trái cùng nhẫn xuyến đeo tay, đeo tai và lụa màu, hai cây nến đỏ, hai chén rượu nhỏ, và một con lợn quay nhỏ. Đám ăn hỏi rất vui vẻ và ngoạn mục. Mọi người đều mặc trang phục đẹp nhất, nhiều người mang theo lọng, có người đi theo thổi sáo. Khi đến nhà vị hôn thê, lễ vật được đặt lên trên bàn thờ, các ngọn nến đỏ được thắp lên, rượu được rót ra chén. Hai người cha cùng đứng lên và bái lạy trước bàn thờ, kế tiếp là hai bà mẹ. Một bữa tiệc, thịnh soạn, chi tiết theo nghi thức nghiêm ngặt.
Ngày cưới thì long trọng hơn. Cha của chàng rể cùng thân nhân của gia đình đứng trước bàn thờ trình diện trước tổ tiên đứa con sắp đi lập gia đình.  Sau đó, chàng trai sẽ đến nhà vị hôn thê. Anh ta đi cùng các gia nhân bưng quà cưới và đám đông bè bạn, người thân.  Sau màn chào hỏi ngoài trời, mọi người vào trong nhà và quây quần quanh bàn thờ. Hôn phu tự bái lạy trước bàn thờ rồi tiến đến bố mẹ vợ để dâng rượu và trầu cau. Trong khi đó bố của chú rể đọc liệt kê các quà dẫn cưới.
Đôi trẻ được dẫn tới một buồng riêng và đứng trước bàn thờ phụng thờ các vị thần của hôn nhân, trên đó nến được thắp, hương được đốt. Hai bên cha mẹ sẽ chúc đôi trẻ có đông con cháu và khuyên bảo họ gìn giữ hôn nhân cho đến mãn đời. Đây là nghi thức long trọng nhất trong buổi lễ. Khi đó người vợ trẻ vén khăn, hoặc nón che mặt lên và người chồng làm như mới thấy mặt nàng lần đầu tiên.  Người vợ giờ đây sẽ bái lạy bốn lễ trước người chồng, người chồng đáp lại người vợ một lễ.  Họ đổi chén rượu cho nhau, cuộc lễ hoàn tất. Một bữa tiệc sau đó được tổ chức long trọng có đôi tân hôn tham dự.
Hôn nhân giữa những người nghèo ít phức tạp hơn và nhất là hôn lễ với người vợ lẽ, thủ tục rất đơn giản.
Tập tục đa thê của người Việt xưa rất khác biệt. Vua thì có số lượng lớn các bà vợ, nhưng quan chức cao cấp lại hiếm khi có tới bốn năm vợ.  Người nghèo thì chỉ cần có một người vợ vì do các bà vợ hay bị chi phối bởi của cải vật chất.  Một thương nhân hay quan chức xê dịch nhiều, thường có một gia đình tại mỗi trung tâm hoạt động chính của họ, người vợ đóng vai đại lý thương mại hay quản lý.
Người vợ pháp định được gọi là người vợ cả, “vợ chính”. Bà ta giữ một vị thế quan trọng trong gia đình. Bà là vị hoàng hậu của tổ ấm. Tất cả các bà vợ lẽ, gia nhân, v.v.. đều phải vâng lời; mọi đứa con đều kính trọng và tôn phục bà. Thời gian cư tang khi bà vợ cả chết là ba năm, trong khi với bất kỳ bà vợ nào khác, chỉ phải cư tang một năm, sau đó là do các đứa con riêng của người đó lo liệu. Lúc người cha từ trần, mọi đứa con của các bà vợ khác nhau đều nhận được cùng số tài sản thừa kế.  Bà vợ cả giữ quyền lợi suốt đời trên tài sản của người chồng.  Phần sở hữu của những người mẹ khác sẽ được đem chia cho các con riêng người đó.
Điều có thể nhận thấy rằng nhân quyền của người đàn bà Việt Nam xưa đã đặt ở vị thế khá cao mà nhiều nền văn minh Tây Phương đã không đạt được mức cao hơn thế.
Các tính chất tổng quát của vẻ đẹp đặc thù xưa được cho là: “phẩm chất tinh thần và đức hạnh thì quan trọng hơn nhiều so với vẻ đẹp bên ngoài khi vấn đề lựa chọn một người vợ được đặt ra”, “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Tiêu chí về vẻ đẹp hình thể thì kích thước của eo không được quá lớn. Tóc dài và đen là đẹp nhất. Khuôn mặt phải có hình trái xoan, và phải có nét cân đối toàn diện. Mắt của người đáng yêu thì sáng rực như đôi mắt phụng, lông mày có những đường cong thanh tú vút ra như mày của con tằm.  Gót chân thì đỏ như son. Câu này đã trở thành một câu tục ngữ phổ thông: “Mắt phụng”, “Mày tằm”, “Gót son”. Chúng ta nhận thấy ở người phụ nữ Việt, sự kính trọng và lòng hiếu thảo được bảo đảm tại ngôi nhà của mình và luật pháp thừa nhận cho bà các quyền hạn thực sự rộng rãi.
Gia đình Việt Nam, được quản lý bởi các nguyên tắc như thế, hẳn nhiên phải có một tương lai thịnh vượng. Nếu tục thờ cúng tổ tiên đã đóng góp vào sự vững chắc của cuộc sống gia đình và cho sự vĩ đại của dân tộc, nó cũng có khuynh hướng khiến họ phóng đại truyền thống. Truyền thống tốt đẹp này không chống lại sự tiến bộ. Nếu chúng ta muốn biết về phụ nữ và gia đình Việt Nam và muốn nhận thức giá trị đạo đức của nó, chúng ta chỉ cần nhìn vào đời sống gia đình và sự đối xử kính trọng đối với phụ nữ./.
SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN ĐIỆN TỬ--TTPLDS

Bàn về quyền lập pháp và mô hình lập pháp


Bàn về quyền lập pháp và mô hình lập pháp
Quyền lập pháp là quyền duy nhất thuộc về Quốc hội. Quốc hội có thể ủy quyền cho các cơ quan nhà nước khác thay mặt mình ban hành văn bản dưới luật để quản lý xã hội. Tuy nhiên, hoạt động lập pháp không phải là công việc duy nhất của Quốc hội mà có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau. Một trong những yêu cầu quan trọng đối với hoạt động lập pháp là chỉ ban hành pháp luật xuất phát từ nhu cầu thực tế (có thể là nhu cầu đã có hoặc sẽ có) và phù hợp với thực tế. Điều đó có nghĩa là chương trình làm luật của Quốc hội nhất thiết phải đặt trong mối tương quan với nhu cầu điều hành đất nước và quản lý xã hội của Chính phủ. Trong quá trình soạn thảo luật, cần sử dụng mô hình phân tích chính sách“từ dưới lên”, theo đó, bất cứ quy định pháp luật hoặc chính sách nào được đưa ra đều phải trải qua công đoạn phân tích các bên có liên quan hoặc phân tích thể chế so sánh. Sử dụng công cụ phân tích này sẽ đảm bảo cho các đạo luật được ban hành không phải là sự cấy ghép vụng về ý chí của nhà nước vào đời sống xã hội.
Quyền lập pháp và hoạt động lập pháp
Quyền lực nhà nước được tạo thành từ ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Việc phân tách quyền lực nhà nước thành ba quyền nói trên bắt nguồn từ học thuyết tam quyền phân lập mà cha đẻ của nó là John Locke. Học thuyết của ông sau đó được phát triển bởi nhà xã hội học và luật học người Pháp Montesquieu. Trong bài phân tích về thực trạng Hiến pháp nước Anh đầu thế kỷ 18, Montesquieu kết luận rằng, ở Anh, sự tự do của công dân chỉ được đảm bảo khi quyền lực và các chức năng của nhà nước được phân chia cho ba cơ quan khác nhau là lập pháp, hành pháp và tư pháp1. Quyền lập pháp là quyền ban hành pháp luật còn quyền hành pháp là quyền thực thi pháp luật và quyền tư pháp là quyền bảo vệ pháp luật.
Một trong những bước tiến quan trọng trong nhận thức về tổ chức bộ máy nhà nước ở nước ta thời kỳ đổi mới là thừa nhận những hạt nhân hợp lý của thuyết tam quyền phân lập, theo đó mặc dù trong tổ chức bộ máy nhà nước không có sự phân chia và đối trọng giữa các nhánh quyền lực nhưng thừa nhận sự phân công và phối hợp trong việc thực hiện ba quyền ấy. Nguyên tắc này được thể hiện tại Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), theo đó “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Theo quy định tại Điều 83 của bản Hiến pháp này thì “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và quyền lập pháp”. Như vậy, quyền làm luật được trao cho Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, do toàn thể nhân dân bầu ra.
 Khái niệm quyền lập pháp (quyền làm luật) cần được phân biệt với khái niệm quyền soạn thảo luật. Pháp luật cho phép một đạo luật có thể được rất nhiều chủ thể khác nhau soạn thảo và trình lên Quốc hội. Trong thực tế nước ta, đa số các đạo luật đều do Chính phủ soạn thảo, một số ít được thực hiện bởi các chủ thể khác như Hội Luật gia, Hội Liên hiệp phụ nữ, Mặt Trận tổ quốc…2 Như vậy, chủ thể có quyền lập pháp không nhất thiết là chủ thể soạn thảo luật. Nội dung cốt lõi của quyền lập pháp chính là quyền đồng ý hoặc không đồng ý thông qua một chính sách hoặc một dự luật nào đó. Quy định Quốc hội là chủ thể duy nhất có quyền lập pháp nghĩa là chỉ Quốc hội mới có quyền thông qua các dự án luật, tạo nên những chuẩn mực buộc các chủ thể trong xã hội phải thực hiện. Vấn đề đặt ra là tại sao Quốc hội, với tư cách là cơ quan lập pháp, không tự mình soạn thảo luật mà lại trao cho các chủ thể khác thực hiện công việc này. Theo quy định của pháp luật, các cơ quan của Quốc hội và ngay cả đại biểu Quốc hội đều có quyền soạn và trình dự án luật. Tuy nhiên, đa phần các dự luật đều do Chính phủ soạn thảo là vì pháp luật cần phải bắt nguồn từ nhu cầu thực tiễn của quản lý đất nước. Nhu cầu ban hành chính sách, pháp luật luôn xuất phát từ thực tế sinh động của đời sống xã hội mà ở đó hành pháp là chủ thể đầu tiên phát hiện ra, “va chạm” và đòi hỏi phải giải quyết nó. Nhu cầu ấy được phản ánh tới Quốc hội thông qua chương trình làm việc của Chính phủ. Quốc hội chỉ ban hành luật dựa trên nhu cầu chính sách do Chính phủ báo cáo3, và ngược lại, nếu Quốc hội bỏ qua cơ sở này thì pháp luật chỉ trở thành món đồ nhân tạo, vô hồn, không được xã hội tiếp nhận. Nói về mối quan hệ này, TS. Nguyễn Sĩ Dũng đã có khẳng định rất hay như sau “Thiếu sự tương tác này giữa lập pháp và hành pháp, thì cho dù quy trình lập pháp có được thiết kế tinh vi đến đâu chăng  nữa, nó cũng chỉ là một quy trình nhân tạo. Sản phẩm tất yếu của một quy trình nhân tạo là các đạo luật nhân tạo. Các đạo luật nhân tạo không cần cho cuộc sống. Nhà nước vẫn có thể áp đặt chúng cho xã hội. Tuy nhiên, những cố gắng như vậy không sớm thì muộn sẽ làm cho các cơ quan của nhà nước hụt hơi. Cuộc sống như ao bèo, sẽ phẳng lặng trở lại sau một hồi xao động”4. Chính vì quan hệ gắn bó giữa nhu cầu lập pháp và nhu cầu quản lý xã hội mà Quốc hội cần có Chính phủ và các chủ thể khác tham gia vào hoạt động lập pháp.
Từ những phân tích trên cho thấy, soạn thảo luật chỉ là một công đoạn của hoạt động lập pháp mà không phải một yếu tố cấu thành quyền lập pháp. Nói cách khác, nếu như quyền lập pháp là quyền riêng có của Quốc hội thì hoạt động lập pháp lại có sự tham gia của nhiều chủ thể, thông qua một quy trình bao gồm nhiều bước khác nhau. Quy trình lập pháp được hiểu là trình tự các bước được tiến hành theo một trật tự chặt chẽ, nghiêm ngặt trong quá trình làm luật, được điều chỉnh bởi Hiến pháp và luật, bao gồm các giai đoạn từ sáng kiến pháp luật, soạn thảo văn bản, trình dự án luật, thẩm tra, thảo luận và thông qua5.
Hiện nay, quy trình lập pháp ở nước ta đã được luật hóa bằng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Căn cứ theo trình tự thời gian ban hành văn bản quy phạm pháp luật có thể thấy quy trình lập pháp ở nước ta bao gồm hai giai đoạn chính, thứ nhất là lập và quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh và thứ hai là chuẩn bị, xem xét và thông qua các dự án luật. Căn cứ vào chủ thể ban hành có thể chia quy trình lập pháp thành công đoạn Chính phủ và công đoạn Quốc hội. Công đoạn Chính phủ bao gồm các hoạt động đề xuất chương trình xây dựng pháp luật, phân tích chính sách và soạn thảo luật. Công đoạn Quốc hội thực hiện các hoạt động thẩm tra dự thảo luật, thảo luận, cho ý kiến và biểu quyết thông qua. Công đoạn Chính phủ là công đoạn thiết kế luật, đòi hỏi nhiều thời gian, sức lực và tài lực. Nếu công đoạn này thực hiện tốt thì công đoạn Quốc hội sẽ diễn ra được nhanh chóng và kết quả là Quốc hội sẽ có nhiều thời gian để thực hiện hai chức năng quan trọng khác của mình, đó là chức năng giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Thời gian qua, Quốc hội nước ta áp dụng quy trình thông qua luật hai bước, theo đó mỗi đạo luật sẽ được xem xét tại hai kỳ họp Quốc hội, kỳ họp trước cho ý kiến và kỳ họp sau thông qua. Cách làm này đã thể hiện ưu điểm trong việc đảm bảo thời gian cho ban soạn thảo tiếp thu và chỉnh lý dự thảo luật. Tuy nhiên, nếu so sánh với hoạt động thảo luận và thông qua luật ở nhiều nước trên thế giới thì thấy rằng Quốc hội Việt Nam mất nhiều thời gian hơn. Một trong những lý do của thực trạng này là chất lượng của công đoạn Chính phủ trong quy trình làm luật chưa cao khiến cho các dự luật không nhanh chóng thuyết phục được các đại biểu thông qua. Chính vì vậy, nâng cao chất lượng của công đoạn Chính phủ là yêu cầu cần thiết hàng đầu để cải thiện hiệu quả của hoạt động lập pháp.
Khi bàn đến quyền lập pháp của Quốc hội thì cũng cần xem xét khái niệm lập pháp ủy quyền. Đây là trường hợp Quốc hội ủy quyền cho Chính Phủ và các cơ quan nhà nước khác như Tòa án, Viện Kiểm sát hoặc trong một số trường hợp là các tổ chức chính trị - xã hội… ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Trong đa số các trường hợp, các đạo luật đều có quy định về việc Quốc hội trao quyền cho các cơ quan nhà nước khác, đặc biệt là Chính phủ ban hành các văn bản pháp quy hành chính để chi tiết hóa nội dung các đạo luật đó.
Hiện tượng lập pháp ủy quyền không có nghĩa là Quốc hội chia sẻ quyền lập pháp của mình cho các cơ quan khác. Bản chất của lập pháp ủy quyền là đảm bảo tính ổn định tương đối của các văn bản luật trong khi vẫn điều chỉnh được những quan hệ xã hội vô cùng đa dạng của đời sống xã hội. Quốc hội chỉ giao cho các cơ quan nhà nước khác ban hành các quy định điều chỉnh những quan hệ xã hội thường xuyên thay đổi, bởi lẽ nếu đưa những quan hệ này vào luật thì sẽ dẫn đến hệ quả là luật của Quốc hội cũng thường xuyên phải thay đổi theo. Điều đó làm cho tuổi thọ của một đạo luật không cao. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, nếu lạm dụng lập pháp ủy quyền thì hiện tượng này lại thể hiện sự yếu kém của Quốc hội. Nếu thực tế nảy sinh nhu cầu nhưng nhu cầu ấy không được giải quyết bằng luật do Quốc hội ban hành mà lại ủy quyền cho Chính phủ giải quyết thì sẽ dẫn đến giả thiết rằng Quốc hội né tránh những vấn đề quan trọng của xã hội. Và như vậy, Quốc hội không thực hiện tròn trách nhiệm của cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân. Hơn nữa, việc áp dụng lập pháp ủy quyền quá mức có thể khiến Chính phủ chậm chễ ban hành văn bản pháp luật vì hai lý do: một là có thể Chính phủ bị quá tải công việc và hai là Chính phủ không vội vàng ban hành quy phạm pháp luật để tự ràng buộc mình vào các quy định đó. Thực tế quản lý bằng công văn, chỉ thị miệng vẫn dễ dàng hơn nhiều việc tuân theo một khuôn khổ gò bó của pháp luật.
Tóm lại, lập pháp ủy quyền là điều không thể tránh khỏi trong hoạt động của bất kỳ nhà nước nào trên thế giới. Tuy nhiên, lập pháp ủy quyền có điểm mạnh và điểm yếu nhất định. Việc xác định giới hạn ủy quyền là một trong những yêu cầu quan trọng để nâng cao chất lượng lập pháp của mỗi quốc gia.

Mô hình nào cho quy trình lập pháp?
Mặc dù Hiến pháp trao quyền soạn thảo luật cho nhiều chủ thể nhưng trong thực tế hoạt động này chủ yếu được thực hiện bởi Chính phủ. Chính vì vậy, quy trình lập pháp được xác định bao gồm công đoạn Chính phủ và công đoạn Quốc hội, trong đó công đoạn Chính phủ là điều kiện cần, đảm bảo cho một đạo luật có chất lượng tốt. Việc soạn thảo luật là bước khởi đầu nhưng cũng là khâu đặt vấn đề và giải quyết vấn đề đối với các nhu cầu và đòi hỏi của xã hội. Phần dưới đây sẽ tập trung vào việc tìm kiếm mô hình cho việc soạn thảo luật thuộc công đoạn Chính phủ.  
Trong thực tế, giữa pháp luật và chính sách có mối quan hệ chặt chẽ và đan xen. Thực vậy, mỗi đạo luật được ban hành đều bao hàm trong nó những chính sách nhất định, liên quan đến các mặt của quốc kế dân sinh. Chẳng hạn như chính sách về quyền sở hữu tư nhân được quy định trong Hiến pháp và Bộ luật Dân sự, chính sách về quyền tự do kinh doanh được thể hiện trong Luật Doanh nghiệp. Như vậy, xét về bản chất, làm luật chính là làm chính sách. Chúng ta không nên biệt lập chính sách và pháp luật theo hướng chính sách là của Đảng, pháp luật là của Nhà nước, do các cơ quan nhà nước ban hành. Pháp luật luôn gắn với các chính sách của nền hành chính công, bởi vì nhu cầu lập pháp chính là bắt nguồn từ hành pháp6. Như vậy, làm luật cũng chính là làm chính sách. Tùy từng trường hợp cụ thể, người làm chính sách phải biết sử dụng một cách hợp lý mô hình chính sách “từ trên xuống” hoặc mô hình “từ dưới lên”7. Mô hình thứ nhất là trường hợp Nhà nước áp đặt pháp luật cho xã hội, hoạt động lập pháp tách rời với nhu cầu chính sách. Mô hình này diễn ra theo trình tự ban hành pháp luật trước, sau đó thực hiện pháp luật trên thực tế và cuối cùng là tổng kết, rút kinh nghiệm và sửa đổi luật. Kết quả tất yếu của những đạo luật được ban hành theo mô hình này là tuổi thọ của luật không cao hoặc luật không được thực tế chấp nhận. Ngược lại, mô hình thứ hai đòi hỏi người làm chính sách/ luật phải thực hiện nghiên cứu thực tế, xuất phát từ các bằng chứng và số liệu có được từ điều tra xã hội học, thông qua quá trình xử lý các số liệu đó để đưa ra các quy định phù hợp. Việc làm chính sách “từ dưới lên” như vậy sẽ tránh được tính xa rời thực tế của các đạo luật.
Mô hình “từ dưới lên” có thể khiến cho quá trình làm luật mất nhiều thời gian hơn và chi phí làm luật cao hơn mô hình “từ trên xuống”. Tuy nhiên, hiệu quả mà nó mang lại sẽ lớn hơn rất nhiều. Các văn bản pháp luật sẽ có tuổi thọ cao hơn vì phù hợp với thực tế và được thực tế chấp nhận. Pháp luật của nhà nước sẽ được tôn trọng sử dụng thay vì việc người dân tự đề ra “pháp luật” cho riêng mình8.
Để đảm bảo pháp luật thể hiện được nhu cầu thực tiễn của cuộc sống thì đòi hỏi tất yếu là mỗi dự thảo luật khi trình Quốc hội phải bao gồm trong nó bản phân tích chính sách. Xét đến cùng thì Bản phân tích chính sách chính là thể hiện quy trình lập pháp theo mô hình “từ dưới lên”. Vấn đề đặt ra là báo cáo phân tích chính sách đi kèm các dự thảo luật phải đảm bảo những yêu cầu gì ? Từ lý thuyết của Khoa học Chính sách công, chúng tôi cho rằng Quốc hội chỉ chấp nhận những báo cáo chính sách nếu ít nhất báo cáo ấy thỏa mãn yêu cầu cơ bản, đó là phải phân tích được vai trò, quyền, lợi ích và mức độ quan tâm của các bên có liên quan đến chính sách sắp được ban hành (sau đây gọi tắt là phân tích các bên liên quan). Một trong các yêu cầu hàng đầu của phân tích chính sách theo mô hình “từ dưới lên” là người làm chính sách phải xuất phát từ các số liệu thực tế thu được thông qua khảo sát và điều tra xã hội học. Trong số những số liệu ấy thì thông tin về các chủ thể (các bên) có liên quan đến chính sách là yếu tố quan trọng hàng đầu. Xét đến cùng, mục đích của việc ban hành chính sách/luật là để dung hòa lợi ích giữa các nhóm chủ thể khác nhau trong xã hội. Điều này được chứng minh không chỉ bởi các lý thuyết hiện đại gần đây mà đã từ lâu, học thuyết Mác cũng khẳng định điều này khi cho rằng nhà nước và pháp luật chỉ ra đời khi xã hội xuất hiện giai cấp và mâu thuẫn lợi ích giữa các giai cấp trở nên không thể điều hòa được. Pháp luật trở thành công cụ để nhà nước giải quyết những muân thuẫn đó. Điều đó cho thấy rằng người làm chính sách/luật phải hình dung được chính sách/luật sắp được ban hành sẽ tác động đến những chủ thể nào, từ đó có những tham vấn cần thiết trước khi soạn thảo các quy định. Tiếp đến, những chủ thể ấy cần được sắp xếp theo thứ tự dựa trên tầm quan trọng của nó đối với chính sách. Chẳng hạn như, khi ban hành chính sách hạn chế người dân sử dụng xe máy, người làm chính sách cần phải liệt kê càng nhiều càng tốt các chủ thể có liên quan như người sử dụng xe máy, nhà sản xuất xe máy, cơ quan quản lý nhà nước về giao thông, cảnh sát giao thông và những đối tượng khác như người đi bộ, người sử dụng phương tiện là ô tô cá nhân hoặc phương tiện công cộng... Ngoài ra, còn có những chủ thể liên quan gián tiếp khác như các nhà đầu tư vốn, các tổ chức xã hội, các tổ chức trợ giúp kỹ thuật và tài trợ cho hạ tầng giao thông… Từ việc liệt kê tất cả các chủ thể có liên quan như trên, những chủ thể có ảnh hưởng tới hoặc bị tác động nhiều nhất bởi chính sách sẽ được xác định để tham vấn. Chẳng hạn như trong ví dụ trên, nhà làm luật nên ưu tiên tham vấn ý kiến của các chủ thể như người đi xe máy, người sử dụng phương tiện công cộng, công ty cung cấp dịch vụ vận chuyển công cộng, cơ quan quản lý giao thông và cảnh sát giao thông. Số liệu điều tra hoặc tham vấn ý kiến có được từ các chủ thể này được sử dụng như nguồn thông tin tin cậy cho việc ban hành chính sách9.
Một chính sách tốt là chính sách đảm bảo tối đa hóa lợi ích của các bên có liên quan và mang lại hiệu quả xã hội. Điều này không đồng nghĩa với việc chính sách phải đảm bảo lợi ích của tất cả các bên liên quan và cũng không có nghĩa là chính sách được ban hành theo ý kiến của số đông. Thông tin có được từ các bên tham vấn chỉ là cơ sở dữ liệu ban đầu cần tiếp tục xử lý. Vai trò của nhà làm luật là dung hòa lợi ích của các chủ thể trên cơ sở đặt hiệu quả xã hội và hiệu quả phân bổ nguồn lực lên trên hết. Để xác định hiệu quả của một chính sách, nhà làm luật có thể sử dụng nhiều công cụ phân tích chính sách khác nhau như công cụ RIA (Regulatory Impact Assessment - dự báo tác động điều chỉnh của quy phạm pháp luật), công cụ phân tích chi phí - lợi ích hoặc công cụ phân tích rủi ro…10 Chính sách/pháp luật có thể không phù hợp với ý kiến của số đông được tham vấn nếu nhà làm luật, bằng phân tích của mình, dự báo được lợi ích to lớn mà pháp luật sẽ mang lại khi nó được ban hành. Điều này có thể được minh chứng bằng một ví dụ điển hình ở nước ta, liên quan đến quy định đội mũ bảo hiểm khi đi xe máy. Có lẽ khi còn là dự thảo, đa số ý kiến cho rằng không thể áp dụng quy định này mọi lúc, mọi nơi đối với người đi xem máy mà chỉ nên áp dụng trên các tuyến quốc lộ. Lý do được nhiều người đưa ra là ở một nước có khí hậu nóng ẩm như Việt Nam thì rất bất tiện khi đội mũ bảo hiểm. Hơn nữa, các cơ quan, công sở không thể đủ không gian cho việc bảo quản mũ, và rất nhiều lý do khác. Tuy nhiên, quy định về bắt buộc đội mũ bảo hiểm ra đời đã chứng minh rằng lợi ích xã hội do quy định này mang lại đã vượt xa những bất tiện mà các lý do ở trên đưa ra.
Ngoài ra, mô hình chính sách “từ dưới lên” đòi hỏi báo cáo phân tích chính sách phải sử dụng công cụ phân tích thể chế so sánh, nếu cần thiết. Phân tích thể chế so sánh còn được gọi tắt là CIA11. Nội dung của công cụ này là khi cần phải lựa chọn cơ quan nào chịu trách nhiệm chính để thực hiện việc quản lý nhà nước đối với một chính sách mới được ban hành thì nhà làm luật cần liệt kê các chủ thể có khả năng thực hiện công việc ấy. Sau đó phân tích điểm mạnh, điểm yếu của từng chủ thể, so sánh với các chủ thể khác để tìm ra phương án tối ưu nhất. Chẳng hạn như trong quá trình thảo luận Luật Quảng cáo mới đây, vấn đề đặt ra là nên giao cho Bộ Thông tin – Truyền thông hay Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch quản lý hoạt động này. Câu trả lời không thể dựa trên cảm tính mà cần xuất phát từ công cụ phân tích thể chế so sánh để đưa ra quyết định. Nhà làm luật cần chỉ ra và so sánh điểm mạnh, điểm yếu của từng thể chế để từ đó đi đến quyết định nên sử dụng thể chế nào.
Nội dung phân tích thể chế so sánh rất đơn giản nhưng không ít trường hợp người làm chính sách bỏ qua công cụ quan trọng này. Khủng hoảng kinh tế ở Mỹ trong mấy năm qua được cho là chính phủ Mỹ đã quá nóng vội trong việc cho phép phá sản một số ngân hàng lớn trong khi quên mất công cụ phân tích thể chế so sánh. Trong việc phá sản ấy, Chính phủ Mỹ (tức là thể chế Chính trị) đã đi quá nhanh so với các thể chế khác bao gồm Tòa án và Thị trường. Khi chưa phân tích vai trò của tòa án và thị trường đối với phá sản ngân hàng và ngược lại, chưa xác định tác động của sự phá sản ấy đối với hai thể chế này là gì thì Chính phủ Mỹ đã can thiệp cho phá sản xảy ra. Kết quả là đã tạo ra phản ứng mang tính dây chuyền của hệ thống ngân hàng và kinh tế Mỹ lâm vào khủng hoảng sâu. Thực tế này cho thấy, công cụ phân tích thể chế so sánh vì quá đơn giản nên thường xuyên bị lãng quên khi làm chính sách. Hệ quả của một chính sách không dựa trên công cụ phân tích khoa học là rất nghiêm trọng.
Tóm lại, hoạt động xây dựng pháp luật cần bắt nguồn từ nhu cầu thực tế, đặc biệt là nhu cầu quản lý xã hội của Chính phủ. Vì vậy, Chính phủ là một chủ thể quan trọng trong hoạt động soạn thảo luật. Để các dự luật nhanh chóng được Quốc hội thông qua, có tính khả thi và tuổi thọ cao thì đòi hỏi người soạn thảo luật cần áp dụng mô hình “từ dưới lên”. Công cụ phân tích các bên có liên quan và phân tích thể chế so sánh nên được sử dụng để đảm bảo cho tính thực tế của các quy định pháp luật. Khi đó mỗi đạo luật được ban hành sẽ trở thành một “cây thật” được trồng mới chứ không phải là “cây giả” được cắm vào giữa khu rừng thật.

ThS. Cao Anh Đô - Giảng viên Viện Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh


Cần một trái tim nóng chứ không phải cái đầu nóng

Trích nguoibaovequyenloi.com

Cần một trái tim nóng chứ không phải cái đầu nóng
Dư luận đặt vấn đề: Với tội ác của Lê Văn Luyện, Bộ luật Hình sự (BLHS) chỉ quy định mức hình phạt tối đa không quá 18 năm tù là quá nhẹ, không đủ sức răn đe.
Cũng có người cho rằng BLHS quy định mức hình phạt với người chưa thành niên phạm tội chưa phù hợp với tình hình xã hội hiện nay vì tình trạng thanh thiếu niên phạm tội ngày một gia tăng, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng...
Lùi lại thời gian, khi chưa có BLHS năm 1985 (BLHS đầu tiên của nước ta), đã có tòa án kết án tử hình một bị cáo chưa đủ 18 tuổi phạm tội giết người cướp tài sản. Vụ án này đã được bàn thảo rất kỹ khi ban hành BLHS năm 1985. Khi đó, có ý kiến cho rằng vẫn có thể áp dụng hình phạt tử hình trong trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng với người chưa thành niên. Tuy nhiên, cuối cùng BLHS năm 1985 ban hành, quy định mức hình phạt tối đa với người chưa thành niên phạm tội là 20 năm tù. BLHS năm 1999 rút xuống còn 18 năm tù.
Vì sao có điều này? Ai cũng biết thanh thiếu niên là tương lai của đất nước. Việc bồi dưỡng, giáo dục thanh, thiếu niên là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân chứ không chỉ riêng một cơ quan tổ chức nào. Thanh, thiếu niên hư, có những hành động bạo lực hoặc phạm tội, trách nhiệm trước hết thuộc về người lớn, gia đình và xã hội. Chúng ta cần có một trái tim nóng chứ không cần cái đầu nóng.
Đúng là thanh thiếu niên ngày càng trưởng thành sớm nhưng không vì thế mà bắt họ phải chịu trách nhiệm sớm hơn. Ở một số nước tiên tiến, họ quy định độ tuổi của người chưa thành niên cao hơn Việt Nam (chưa đủ 19, thậm chí chưa đủ 20). Một xã hội phát triển thì pháp luật hình sự càng khoan hồng với người phạm tội.
Ở ta, quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước với người chưa thành niên được thể hiện rất đầy đủ khi BLHS dành hẳn một chương quy định việc xử lý người chưa thành niên phạm tội. Theo đó, việc xử lý chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt với họ chỉ áp dụng trong trường hợp cần thiết, cần hạn chế áp dụng hình phạt tù...
Trên thực tế các cơ quan tiến hành tố tụng chưa quan tâm áp dụng rộng rãi các biện pháp tư pháp như ngoài hình phạt tù (giáo dục tại xã, phường, thị trấn), chiếu cố lắm mới cho hưởng án treo… Nhận thức và áp dụng như vậy là chưa quán triệt đúng nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 69 BLHS mà Quốc hội đã sửa đổi, bổ sung.
Tôi thấy cần phải cụ thể hóa hơn nữa trường hợp nào thì được áp dụng hình phạt tù, trường hợp nào thì không được áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội. TAND Tối cao cần hướng dẫn cụ thể hơn. Ví dụ: Đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ áp dụng hình phạt tù trong trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đã gây ra thiệt hại, còn các trường hợp khác thì không áp dụng hình phạt tù; đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi chỉ áp dụng hình phạt tù trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đã gây ra thiệt hại. Riêng đối với thiệt hại về tài sản thì chỉ áp dụng hình phạt tù đối với trường hợp thiệt hại gây ra thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng v.v… Có như vậy mới thể hiện đầy đủ quan điểm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội.
Nếu có chủ trương sửa đổi, bổ sung BLHS mà ai đó nêu lại vụ án Lê Văn Luyện để đặt vấn đề áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân với người chưa thành niên phạm tội, tôi tin Quốc hội sẽ không đồng ý, xã hội cũng không đồng tình. Bởi đó là điều không tưởng, đi ngược lại xu thế phát triển và khoan hồng của Nhà nước.
ĐINH VĂN QUẾ--PLO

Sunday, January 15, 2012

2012 được mùa bầu cử

Theo daibieunhandan.vn
Những sự kiện lớn nào sẽ chờ đợi chúng ta trong năm nay? Câu trả lời chính xác tất nhiên chưa thể có vào thời điểm này, nhưng vẫn có thể dự báo chắc chắn rằng năm 2012 là năm của những đổi thay, với sự xuất hiện của các gương mặt lãnh đạo mới. Hầu như tháng nào cũng vậy, không ở nước này thì nước khác sẽ diễn ra các cuộc bầu cử tổng thống hoặc Quốc hội. Nhưng có lẽ đáng chú ý nhất và cũng là điểm đặc biệt nhất trong năm 2012, đó là các cuộc bầu cử quan trọng tại 4 trong 5 cường quốc hàng đầu thế giới gồm Nga, Pháp, Mỹ và Trung Quốc.
 
Nguồn: economist
Tâm điểm của chính trường thế giới năm 2012 là cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ ngày 6.11 tại cường quốc số một thế giới. Cuộc chạy đua vào Nhà Trắng đã chính thức bắt đầu hôm 3.1 tại bang Iowa, nơi diễn ra cuộc bầu cử sơ bộ đầu tiên trong mùa tranh cử tổng thống Mỹ. Sau khoảng 10 tháng nữa, nước Mỹ hoặc sẽ có một tổng thống mới là người của đảng Cộng hòa hoặc Tổng thống Barack Obama sẽ đảm nhiệm thêm một nhiệm kỳ nữa. Kết quả phụ thuộc vào tình hình kinh tế, tỷ lệ thất nghiệp và đối thủ nào sẽ đương đầu với Tổng thống Obama. Song trong bối cảnh có nhiều thay đổi về kinh tế và chiến lược toàn cầu, dù ai trở thành ông chủ thứ 45 của Nhà Trắng cũng sẽ phải có những điều chỉnh chính sách thích hợp mới có thể giải quyết những khó khăn trên cả hai mặt trận đối nội và đối ngoại.
Ngoài cuộc bầu cử tổng thống, việc đảng Cộng hòa hay Dân chủ sẽ giành quyền kiểm soát Hạ viện và Thượng viện cũng sẽ là điều đáng chú ý trong năm bầu cử ở Mỹ.
Thu hút sự quan tâm lớn không kém là cuộc chuyển giao thế hệ lãnh đạo ở Trung Quốc - cường quốc số 2 thế giới. Từ tháng 10, Trung Quốc sẽ tiến hành Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 18, bắt đầu tiến trình chuyển giao quyền lực cho thế hệ lãnh đạo thứ 5. Phó chủ tịch nước Tập Cận Bình được dự đoán là người có nhiều khả năng nhất trong việc kế nhiệm Tổng bí thư kiêm Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, còn Phó thủ tướng Lý Khắc Cường hầu như chắc chắn sẽ tiếp quản chiếc ghế của Thủ tướng sắp mãn nhiệm Ôn Gia Bảo.
Với vị thế và tầm ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc trên trường quốc tế, đường lối của giới lãnh đạo mới ở Trung Quốc sẽ không chỉ quyết định hướng đi của quốc gia 1,3 tỷ người này mà còn tác động đến kinh tế và an ninh chung của thế giới.
Tâm điểm của tháng ba sẽ là cuộc chạy đua vào Điện Kremlin. Cuộc bỏ phiếu bầu người đứng đầu xứ sở Bạch Dương được coi là dễ đoán nhất. Cho dù uy tín có phần sụt giảm song Thủ tướng Vladimir Putin vẫn tràn đầy cơ hội để trở thành Tổng thống Nga nhiệm kỳ 3 (kéo dài 6 năm) bởi ông không có những đối thủ thực sự. Theo kết quả điều tra mới nhất do Quỹ Dư luận Xã hội thực hiện, 52% cử tri được hỏi tuyên bố ủng hộ Thủ tướng Putin trở lại làm tổng thống của Liên bang Nga.
Tuy nhiên, cuộc bầu cử ở Nga sắp tới không vì thế mà kém hấp dẫn. Yếu tố bất ngờ vẫn đang ở phía trước bởi con đường tiến vào điện Kremlin của ông Putin được đánh giá là đang có một số khó khăn sau những diễn biến gần đây trên chính trường Nga. Sự kiện Đảng Nước Nga thống nhất của Thủ tướng Putin mất thế áp đảo tại Quốc hội trong cuộc bầu cử Duma Quốc gia tháng 12.2011 đang làm uy tín của ông Putin suy giảm.
Trong bối cảnh châu âu đang rối ren vì cuộc khủng hoảng nợ công trầm trọng, cuộc bầu cử Tổng thống năm 2012 ở Pháp sẽ là một sự kiện gây chú ý lớn bởi nó không chỉ ảnh hưởng quan trọng đến nước Pháp mà còn tác động nhất định đến những quyết sách lớn trong Liên minh châu Âu.
Bầu cử Tổng thống Pháp được chia làm 2 vòng diễn ra từ ngày 22.4 đến 6.5. Cuộc bầu cử này cũng hứa hẹn nhiều yếu tố kịch tính và bất ngờ với cuộc chạy đua giữa đương kim Tổng thống Nikolas Sarkozy với ứng cử viên của đảng Xã hội Francois Hollande và lãnh đạo Mặt trận Quốc gia Marine Le Pen. Trong những cuộc thăm dò dư luận gần đây, ông Hollande có phần chiếm ưu thế và sẽ không ngạc nhiên nếu như điện Elysee sẽ có ông chủ mới. Nhưng cũng thể loại trừ khả năng Tổng thống Sarkozy đảo ngược tình thế trong cuộc bầu cử sắp tới bởi thời gian qua cũng có lúc ông có những bước hồi phục khá ngoạn mục.
Trong khi đó, Venezuela cũng tiến hành bầu cử Tổng thống với dự báo ông Hugo Chavez sẽ tái cử. Thay đổi cũng có thể xảy ra sau các cuộc bỏ phiếu ở Mexico, Ai Cập, Kenya...
Hy Lạp và Iran cũng sẽ là hai trong số những điểm nóng vào đầu năm với cuộc bầu cử Quốc hội sớm diễn ra trong tháng 2 và 3 tới. Sở dĩ cuộc bầu cử ở Hy Lạp được cả châu âu dõi theo bởi đây là một trong những ngòi nổ của cuộc khủng hoảng nợ công đe dọa phá vỡ khối sử dụng đồng tiền chung euro. Về phần Iran, hiện căng thẳng giữa nước này và phương Tây đang ngày một gia tăng sau một loạt cuộc đấu khẩu liên quan đến chương trình hạt nhân của Iran, cuộc tập trận gần đây của quốc gia Hồi giáo này ở eo biển Hormuz hay vụ ám sát nhà khoa học hạt nhân người Iran...
Tổng kết lại, năm 2012 chắc chắn sẽ có nhiều bất ngờ. Với sự thay đổi (hy vọng là dễ chịu) này, chúng ta sẽ thấy một châu Âu khác, một Trung Quốc khác, một nước Mỹ khác trong vài năm tới.
Kim Chi

Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 - Những vấn đề đặt ra

Nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 - Những vấn đề đặt ra
Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân là vấn đề đã được quy định trong các bản Hiến pháp của nước ta. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của các quan điểm mới của Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (sửa đổi, bổ sung năm 2011) như: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”, “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, trang 85); vấn đề quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân còn cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện để thể hiện sâu sắc, nhất quán, xuyên suốt trong bản Hiến pháp sửa đổi, bổ sung lần này.
Một là, “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” quy định ở Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) là một quy định nền tảng chỉ rõ nguồn gốc, bản chất và mục đích của quyền lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân. Nguyên lý đó không những được quy định trong Hiến pháp nước ta mà còn được quy định trong hầu hết các bản Hiến pháp các nước có chế độ chính trị dân chủ và pháp quyền trên thế giới. Điều quy định này phải được thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong toàn bộ các điều khoản của Hiến pháp. Bởi khác biệt với các văn bản khác, Hiến pháp là văn bản thể hiện quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lập hiến. Do đó, thông qua Hiến pháp nhân dân giao quyền, uỷ quyền quyền lực nhà nước của mình cho Nhà nước. Điều 2 quy định nội dung nói trên là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp. Tuy nhiên, tại Điều 6 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) lại quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”. Nội dung của điều khoản này lại mâu thuẫn với Điều 2 nói trên. Bởi nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không chỉ thông qua các cơ quan đại diện mà còn thông qua các cơ quan nhà nước khác như hành pháp, tư pháp và các hình thức thực hiện quyền lực nhà nước một cách trực tiếp như phúc quyết Hiến pháp, trưng cầu dân ý. Để đảm bảo tính thống nhất của Hiến pháp, phải sửa lại Điều 6 để quy định đầy đủ hơn các phương thức nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước.
Hai là, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, nên nhân dân phải kiểm soát được quyền lực nhà nước là một quyền tất yếu, một đòi hỏi chính đáng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ ở nước ta (sửa đổi bổ sung năm 2011) đã xác định kiểm soát quyền lực nhà nước là một nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta. Kiểm soát quyền lực nhà nước đòi hỏi phải hình thành một cơ cấu bao gồm kiểm soát quyền lực nhà nước bên trong bộ máy nhà nước giữa ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp và trong nội bộ mỗi quyền và kiểm soát quyền lực nhà nước bên ngoài bao gồm kiểm soát của nhân dân thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Như vậy kiểm soát quyền lực nhà nước cần phải thể hiện xuyên suốt trong tất cả các chương của Hiến pháp. Ví dụ, các điều quy định về vị trí, vai trò và trách nhiệm của các thành tố cấu thành hệ thống chính trị ở nước ta viết ở Chương I, như: Đảng lãnh đạo (Điều 4), Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (Điều 9), Công đoàn (Điều 10), công dân ở cơ sở (Điều 11) và đặc biệt là nhà nước nói chung (Điều 12), các cơ quan nhà nước, cán bộ viên chức nhà nước nói riêng (Điều 8) và đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân (Điều 7) cũng phải thể hiện xuyên suốt tư tưởng chủ quyền nhân dân trong việc sử dụng các phương tiện kiểm soát quyền lực nhà nước.
Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) chưa ghi nhận vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước. Vì thế, nói chung Hiến pháp chưa thể hiện mạnh mẽ yếu tố kiểm soát quyền lực trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Với quan niệm kiểm soát quyền lực nhằm mục đích làm cho quyền lực thống nhất nên Hiến pháp chỉ quy định kiểm soát theo chiều dọc tức là chiều từ trên xuống, không chú ý quy định kiểm soát theo chiều ngang và chiều ngược. Vì thế chỉ có Quốc hội kiểm soát quyền hành pháp và quyền tư pháp bằng giám sát tối cao. Hành pháp và tư pháp chưa được quy định có quyền kiểm soát lập pháp. Chỉ trong nội bộ hành pháp có kiểm soát quyền lực của cấp trên đối với cấp dưới bằng thanh tra, kiểm tra. Tư pháp mới kiểm soát được hành vi hành chính và quyết định hành chính của hành pháp; chưa kiểm soát được lập pháp và văn bản quy phạm pháp luật của hành pháp. Chưa hình thành cơ chế để công dân thực hiện quyền yêu cầu xem xét lại bản án áp dụng điều luật trái tinh thần và nội dung của Hiến pháp.
Cũng vì mục đích kiểm soát quyền lực nhà nước để cho quyền lực nhà nước thống nhất nên Quốc hội kiểm soát hành pháp bằng phương thức bỏ phiếu tín nhiệm chứ không phải bỏ phiếu bất tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn. Quốc hội không bỏ phiếu tín nhiệm đối với tập thể Chính phủ. Quốc hội không có quyền điều trần.
Kiểm soát quyền lực nhà nước là nhằm ngăn ngừa nguy cơ lạm quyền, lộng quyền, phòng chống sự tha hoá của quyền lực nhà nước như Mác trước đây đã nhiều lần khẳng định. Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước nhằm mục đích phòng chống sự tha hoá của quyền lực nhà nước đòi hỏi phải có cơ chế kiểm soát.
Trước hết cần tăng cường cơ chế kiểm soát của Quốc hội đối với Chính phủ và tư pháp. Cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm cần thay đổi bằng cơ chế bỏ phiếu bất tín nhiệm để xem Quốc hội không còn tín nhiệm như thế nào, chứ không phải bỏ phiếu tín nhiệm để thăm dò xem Quốc hội có tín nhiệm hay không? Nếu qua bỏ phiếu bất tín nhiệm, đương sự nhận được đa số phiếu không tín nhiệm thì đương sự phải từ chức, không cần Quốc hội bỏ phiếu bất tín nhiệm một lần nữa. Ngoài ra, vì Quốc hội hoạt động không thường xuyên nhưng nguy cơ lạm dụng quyền lực lại thường xuyên nên việc điều trần tại các Ủy ban chuyên môn của Quốc hội, những cơ quan hoạt động thường xuyên của Quốc hội là rất cần thiết.
Quyền tư pháp cần được mở rộng để kiểm soát quyền lập pháp và hành pháp. Cần có cơ chế kiểm soát tính hợp hiến của hoạt động lập pháp và tài phán tính hợp hiến, hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ.
Ba là, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến nước ta, thuật ngữ quyền con người được sử dụng trong Hiến pháp năm 1992. Đó là bước phát triển về quan niệm và nhận thức lý luận. Trước đây, trong tư duy chính trị pháp lý ở một số nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), thuật ngữ quyền con người không được thừa nhận. Vì vậy, Hiến pháp cũng như các đạo luật không sử dụng thuật ngữ này, đồng nhất quyền con người với quyền công dân, không thừa nhận quyền con người là một khái niệm độc lập, có nội hàm riêng so với khái niệm quyền công dân. Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, phải thừa nhận rằng cá nhân con người là thực thể tự nhiên - xã hội có những quyền cơ bản, xác định, việc thừa nhận các quyền này đã được cộng đồng loài người ghi nhận trong nhiều công ước quốc tế. Cá nhân con người chính là giá trị, giá trị con người không tách rời giá trị loài người thành một thể thống nhất hoàn chỉnh. Chính vì thế mà cộng đồng quốc tế (trong pháp luật quốc tế) và các Nhà nước riêng biệt (trong pháp luật quốc gia) đều ghi nhận và bảo vệ các giá trị con người. Vì vậy, Hiến pháp năm 1992 đã sử dụng khái niệm “quyền con người” với nội dung chính trị - pháp lý rộng hơn để thể hiện giá trị của cá nhân con người trong mối quan hệ với quyền công dân (không bao quát hết thảy các quyền con người)… Tuy nhiên, cách thể hiện các quyền con người, đồng thời là các quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) chưa thể hiện sâu sắc và đầy đủ quan niệm các quyền cơ bản của công dân là các quyền con người vốn có của họ.
Liên quan đến tư tưởng xuyên suốt toàn bộ Hiến pháp là “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” trong chương này cần quy định thêm ba vấn đề cơ bản: bầu cử, bãi nhiệm và phúc quyết như Hiến pháp năm 1946 đã quy định thành một mục gồm 5 điều trong Chương II: Nghĩa vụ và quyền lợi của công dân.
Về bầu cử, ngoài quy định chế độ bầu cử phổ thông đầu phiếu, bỏ phiếu tự do, trực tiếp và kín; cần quy định thêm bầu cử là một phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước, gắn bó chặt chẽ trách nhiệm qua lại giữa cử tri và người được bầu;
Bãi nhiệm đại biểu do mình bầu ra là một quyền cơ bản của công dân. Công dân có quyền bầu cử mà không có quyền bãi nhiệm thì quyền bầu cử chỉ mang tính hình thức. Hiến pháp cũng như các luật của nước ta chưa coi trọng quyền này nên không quy định thành quyền và cơ chế đảm bảo thực hiện quyền này. Do đó, nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân” vẫn còn là nguyên tắc hình thức;
Phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia là một quyền thể hiện đầy đủ nhất nguyên tắc “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Bởi nhân dân không những thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước mà mình giao quyền, uỷ quyền, mà còn qua các phương thức thực hiện quyền lực nhà nước một cách trực tiếp. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) chưa quy định điều này. Vì thế cần nghiên cứu bổ sung vào Hiến pháp sửa đổi lần này.
Bốn là, chủ thể phân công quyền lực nhà nước trong Nhà nước ta chưa được quy định thật phù hợp. Như đã nói, nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân. Nhân dân ủy quyền quyền lực nhà nước cho các cơ quan nhà nước. Như vậy, nhân dân là chủ thể phân công quyền lực nhà nước. Công cụ để nhân dân giao quyền, uỷ quyền, đó là thực hành quyền lập hiến. Bằng việc thực thi quyền lập hiến, nhân dân uỷ thác quyền lập pháp cho Quốc hội, quyền hành pháp cho Chính phủ và quyền tư pháp cho Toà án. Có thể thấy rằng, quyền lập hiến là quyền lực tối cao so với quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp đều khởi xuất từ quyền lập hiến. Nhưng Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) lại quy định “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp” (Điều 83). Quy định này không thống nhất với Điều 2 của Hiến pháp: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Quyền lập hiến là quyền thể hiện một cách trọn vẹn nhất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, bởi Hiến pháp là bản văn thể hiện quyền lực nhà nước cao nhất. Vì thế, trong Nhà nước dân chủ và pháp quyền, quyền lực nhà nước thuộc về ai thì chủ thể đó có quyền lập hiến và khi nhân dân có quyền lập hiến thì nhân dân trở thành chủ thể phân công quyền lực nhà nước. Đúng như Hiến pháp năm 1946 đã quy định, nhân dân có quyền phúc quyết Hiến pháp (Điều 20) và sửa Hiến pháp phải theo cách thức sau đây:
a. Do hai phần ba tổng số Nghị viện yêu cầu
b. Nghị viện bầu ra một ban dự thảo những điều thay đổi
c. Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70).
Năm là, tập quyền XHCN - học thuyết do C.Mác khởi xướng dựa trên thực tiễn của công xã Pa-ri và sau được Lê-nin phát triển, được xem là nền tảng lý luận cho việc tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta từ Hiến pháp năm 1959 và tập trung nhất ở Hiến pháp năm 1980. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã có một bước đổi mới trên cơ sở tiếp thu một số nhân tố hợp lý phù hợp với thực tiễn nước ta của học thuyết phân quyền và đề ra thành nguyên tắc trong Điều 2: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”, nhưng những quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) chưa thể hiện đầy đủ nguyên tắc này. Một số nhiệm vụ quyền hạn phân công cho Quốc hội chưa thật phù hợp. Ví dụ, Quốc hội cơ quan duy nhất có quyền lập hiến (Điều 83); quyền giám sát tối cao văn bản quy phạm pháp luật dưới luật - thuộc quyền tư pháp - lại giao cho Quốc hội; quyền giải thích chính thức Hiến pháp, luật và pháp lệnh giao Uỷ ban thường vụ Quốc hội cũng không phù hợp (vì đây là hoạt động vi mô gắn liền với sự kiện pháp lý, trong lúc đó Uỷ ban thường vụ Quốc hội là cơ quan hoạt động mang tính chất vĩ mô ở tầm quốc gia). Chính phủ chưa được xác định là cơ quan hành pháp. Dưới ánh sáng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước ghi nhận ở Điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001), trong Chương VIII Chính phủ, Hiến pháp sửa đổi lần này cần phải ghi nhận vị trí của Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất trong tổ chức quyền lực nhà nước ở nước ta.
Điều 109 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) hiện hành xác định Chính phủ là “cơ quan hành chính nhà nước cao nhất”. Trong lý luận về luật nhà nước và luật hành chính, người ta phân biệt rõ ràng hai quyền: hành pháp (executive) và hành chính (administration). Hành chính là chấp hành và điều hành chính sách, mang nghĩa thụ động, gắn liền với hoạt động tác nghiệp có tính mệnh lệnh quyền uy của quản lý nhà nước ở tầm vi mô. Hành pháp là khởi xướng, hoạch định chính sách mang tính chủ động gắn liền với hoạt động của các chính khách ở tầm quốc gia. Vì thế hoạt động của Chính phủ là hoạt động mang tính chất khởi xướng, hoạch định và điều hành chính sách quốc gia. Kinh nghiệm lập hiến của nhiều nước chỉ ra rằng, quyền hành pháp là quyền hoạch định và điều hành chính sách quốc gia. Điều 20 Hiến pháp của Cộng hoà Pháp hiện hành quy định “Chính phủ xác định và thực thi chính sách quốc gia”; Điều 146 Hiến pháp Hà Lan quy định “Hội đồng Bộ trưởng lãnh đạo chính sách đối nội và đối ngoại của Cộng hoà Hà Lan”. Vậy chính sách là gì? Chính sách công cộng là “sự phân chia các giá trị và các nguồn lực trong xã hội”. Nói cách khác, các chính sách được xem như sự phản ánh “ai đạt được cái gì, khi nào và bằng cách nào” trong một xã hội. Một định nghĩa khác về chính sách được sử dụng khá phổ biến là “chính sách là những gì mà Chính phủ đề ra và thực hiện để đối phó với những vấn đề nhận thức được”.
Hoạch định chính sách là vạch ra những mục tiêu cần đạt được, những phương tiện sử dụng để đạt được mục tiêu đó. Chính phủ là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc tìm kiếm hướng đi cho quốc gia bằng việc soạn thảo các chiến lược phát triển, các kế hoạch, các dự án luật và các bộ luật… trình Quốc hội và đồng thời là người trực tiếp và thường xuyên điều hành việc thực hiện các chiến lược, các kế hoạch, các đạo luật, bộ luật sau khi được Quốc hội xem xét thông qua. Chính phủ là cơ quan nắm rõ nhất những nhu cầu của quốc gia và đưa ra những chính sách để phúc đáp những nhu cầu đó.
Trong việc hoạch định chính sách quốc gia, Chính phủ phải phát hiện được nhu cầu đó. Từ đó, khởi xướng và soạn thảo chính sách. Có loại, theo thẩm quyền, Chính phủ tự mình xem xét, quyết định thông qua và tổ chức thực hiện. Có loại, Chính phủ trình Quốc hội dưới hình thức là các dự án luật, bộ luật để Quốc hội xem xét, thông qua. Có thể nói, quyền trình dự án luật là một cấu phần rất quan trọng  của quyền hành pháp. Trong đa số các nước hiện nay, dù là theo mô hình tổng thống hay đại nghị, Chính phủ là nguồn chủ yếu của các đạo luật do Nghị viện ban hành. Sở dĩ như vậy là vì, Chính phủ là người trực tiếp điều hành xã hội nên nắm rõ được nhu cầu của xã hội. Đây chính là việc thể hiện tính chủ động của Chính phủ mà quan niệm truyền thống xác định vị trí của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất không phản ánh được.
Không giống như Hiến pháp của các nước châu Âu, Hiến pháp nước ta không giao cho Chính phủ quyền quyết định chính sách cơ bản, không khẳng định vai trò khởi xướng, hoạch định xây dựng và điều hành chính sách của Chính phủ, chỉ coi Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của quốc gia. Không được trao quyền hành pháp, Chính phủ nước ta cùng với Quốc hội phối hợp thực hiện quyền hành pháp theo cách: Quốc hội quyết định chính sách cơ bản, Chính phủ quyết định những chính sách cụ thể để thực thi chính sách cơ bản. Do vậy, Điều 112 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định thẩm quyền của Chính phủ mang tính thụ động. Trong mối quan hệ với chính sách quốc gia, Chính phủ được Hiến pháp quy định là một thiết chế thực thi, chấp hành thay vì là một thiết chế khởi xướng, đề xuất, thúc đẩy, xây dựng, tổ chức lấy ý kiến đóng góp, phản biện của các tầng lớp nhân dân và tổ chức thực hiện chính sách quốc gia. Qua các quy định của Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) hiện hành, có thể thấy rằng, Quốc hội được xem là cơ quan giữ vai trò trung tâm trong việc điều phối thực thi quyền hành pháp. Nội dung hành pháp quan trọng nhất là quyết định chính sách cơ bản được trao cho Quốc hội. Hiến pháp không làm rõ và nổi bật vai trò đề xướng, hoạch định, xây dựng mang tính sáng tạo, nhanh nhạy, quyết đoán, tự chịu trách nhiệm về chính sách của Chính phủ.
Trong thời đại ngày nay, sự biến chuyển không ngừng và nhanh chóng của xã hội đòi hỏi Chính phủ, với tư cách là cơ quan có quan hệ một cách trực tiếp và thường xuyên nhất với xã hội, phải luôn chủ động, khởi xướng, sáng tạo ra những đường hướng vận hành cho xã hội. Trong ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, Chính phủ được coi là một thiết chế thích hợp nhất để làm việc đó. Chính vì thế, Chính phủ phải được coi là thiết chế khởi xướng chính sách chứ không đơn thuần  là người thi hành chính sách. Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền và trong một “thế giới phẳng”, Quốc hội là cơ quan lập pháp và giám sát việc hoạch định và thi hành chính sách; Chính phủ là cơ quan hành pháp, cơ quan khởi xướng, hoạch định, soạn thảo chính sách và điều hành việc thực hiện chính sách.
Sáu là, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cũng chưa được Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định cơ quan nào là cơ quan thực hành quyền tư pháp. Khi nói quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì quyền tư pháp - biểu hiện rực rỡ nhất ở quyền xét xử - thuộc về nhân dân, nhân dân trao quyền lực xét xử cho Nhà nước. Do đó, nhân dân đi tìm công lý, công bằng, lẽ phải từ việc xét xử của các Tòa án. Vì thế, Hiến pháp sửa đổi lần này cần quy định Tòa án nhân dân - với chức năng xét xử - là cơ quan thực hiện quyền tư pháp.
GS, TS. Trần Ngọc Đường - Văn phòng Quốc hội.

Ý kiến cá nhân về vụ án chấn động lê Văn Luyện

        Ngô Thu Trang, 15-1-2011.
        Vụ án Lê Văn Luyện cướp tiệm vàng Ngọc Bích gây chấn động dư luận, đã khép lại bằng 1 bản án. Bản án được tuyên ra, và đằng sau đó là những trạng thái cảm xúc: tiếng gào khóc của người nhà nạn nhân, tiếng thở dài của người nhà bị cáo, nụ cười của tên sát nhân, sự bất bình của một số người dân về bản án và sự đồng tình về bản án của một số người vì coi là xử như thế là đúng pháp luật...
        Đã là bản án được tòa tuyên ra tất yếu mọi người phải tuân theo, và nếu còn thấy chưa thuyết phục thì kháng cáo lên tòa cấp trên, nhưng dù có kháng cáo thì hình phạt cao nhất vẫn không thể tử hình tên sát nhân man rợ vì một sự thật mà chắc chắn lúc phạm tội hắn không bao giờ nghĩ ra, trời đã ban cho hắn chưa đủ 18 tuổi...Dư luận sau đó sẽ nhận xét như thế nào? Họ đồng tình hay không đồng tình? Hay chính hình phạt ''không thuyết phục'' cho tên sát nhân này đã tiếp tay cho 1 thế hệ sát nhân mới, nguy hiểm hơn, hung hãn hơn và ngang nhiên hành động hơn (vì biết dù có làm gì thì ''mình giống anh Luyện nên  mình không bị tử hình'')[1].
        Vậy hình phạt tử hình là gì? Có một số định nghĩa khác nhau về hình phạt từ hình song xét ở phương diện pháp lý, có thể hiểu hình phạt tử hình là việc tước bỏ tính mạng của con người theo bản án được tuyên bởi một tòa án được lập ra một cách hợp pháp, nhằm trừng phạt người đó vì đã phạm một tội ác đặc biệt nghiêm trọng. Trên phương diện pháp lý, hình phạt tử hình chỉ có thể được tuyên và thi hành bởi Nhà nước (Tòa án và cơ quan thi hành án nhân dân Nhà nước); bởi vậy, khi một chủ thể phi nhà nước có hành động ‘‘hành quyết’’ một người thì bất luận trong hoàn cảnh nào chủ thể đó cũng bị coi là phạm tội giết người[2]. Ở nước ta hình phạt tử hình bằng xử bắn đã được thay bằng tử hình bằng tiêm thuốc độc từ 1-1-2012.
         Điều 6 ICCPR[3] được cụ thể hóa trong điều 3 UDHR[4], theo đó: Mọi người đều có quyền cố hữu được sống. Trong đó không áp dụng hình phạt tử hình với người dưới 18 tuổi và không được thi hành án tử hình đối với phụ nữ mang thai. Để thực hiện theo những cam kết Quốc tế đã ký kết năm 1982 nước ta đã hiện thực hóa ngay trong đạo luật tối cao. Điều 71 hiến pháp năm 1992: Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm. Và cụ thế hóa ở luật hình sự, điều 74 Bộ luật Hình sự, đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định…Do đó, theo quy định của pháp luật thì những người chưa thành niên từ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng không bị tử hình.
          Sau khi bản án đưa ra có 2 luồng ý kiến: Một là xét xử phải tuân theo pháp luật, pháp luật mang tính nhân đạo chính vì thế không thể tử hình người chưa thành niên dưới 18 tuổi. Hai là pháp luật phải răn đe, phải công bằng với những người đã khuất, ‘‘nợ máu phải trả bằng máu’’ chính vì thế phải sửa luật cho phù hợp với dư luận xã hội.
          Thứ nhất, xét xử phải tuân theo pháp luật, pháp luật mang tính nhân đạo chính vì thế không thể tử hình người chưa thành niên dưới 18 tuổi.
          Sở dĩ có quy định như vậy vì theo lập luận thì những người chưa thành niên thì trình độ nhận thức kém hoặc không nhận thức được về hành vi phạm tội của mình, chưa phát triển toàn diện về mọi mặt. Câu hỏi đặt ra là trình độ nhận thức kém là như thế nào? Và pháp luật đã quy định trình độ nhận thức kém là như thế nào trong luật chưa?
           Việt Nam có 84,15 triệu dân thì số vị thành niên và thanh niên trẻ chiếm tới 31,5% (26,5 triệu người)[5], với tỉ lệ lớn như vậy thì những đóng góp và những ảnh hưởng của thế hệ này là không nhỏ trong hiện tại và tương lai sau này. Việc đầu tư cho nhận thức trong cuộc sống và xã hội của thế hệ này cần phải chú trọng nâng cao, nên chú trọng nâng cao nhận thức hơn là cứ lấy cớ là nhận thức kém ở thế hệ ‘‘vàng’’ này.
           Nhân đạo còn là truyền thống của dân tộc ta. Từ những câu ca dao lưu truyền trong dân gian: ‘‘Đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại’’, ‘‘Lấy ân trả oán’’…đến những quy định trong bộ luật Hình thư ra đời nhà Lý và Hồng Đức ra đời nhà Lê đều mang nhân tố nhân đạo, vì con người. Và nhân đạo trong pháp luật hiện nay còn là tạo điều kiện cho những con người lầm lỡ đó được trở về cộng đồng, phục thiện làm lại cuộc đời.
           Thứ hai, pháp luật phải răn đe, phải công bằng với những người đã khuất, ‘‘nợ máu phải trả bằng máu’’ chính vì thế phải sửa luật cho phù hợp với dư luận xã hội.
           Vậy hình phạt tử hình có phải là sự trả giá xứng đáng đối với những kẻ gây ra tội phạm khủng khiếp? Nhiều người cho rằng ‘‘mạng phải đền mạng’’ nếu đã phạm tội giết người phải chịu sự trừng phạt là cái chết, như thế mới đảm bảo công bằng, công lý cho người chết. Tuy nhiên cũng có một số người cho rằng không nên sử dụng hình phạt là cái chết để đáp trả lại hành động giết người. Vì như thế có khác gì trả thù và lặp lại hành động của kẻ phạm tội, trên danh nghĩa là vì sự công bằng nhưng thực chất là giết người.
           Hình phạt tử hình có phải là biện pháp tốt nhất để bù đắp những mất mát của gia đình người bị hại? Trong phiên tòa xử Lê Văn Luyện, chúng ta thấy được những tấm khăn trắng trên trán của gia đình nạn nhân, tiếng gào khóc thảm thiết khi mà người đại diện Viện kiểm sát đọc cáo trạng, họ đã mất đi ba người thân yêu quý, chắc chắn họ không bao giờ quên được những thương tật tinh thần này. Do đó ai cũng có tâm lý chung là phải có hình phạt cao nhất cho kẻ thủ ác, dù có ‘‘phanh thây’’ cũng không đủ, cũng không thể đền bù được nỗi đau mất mát vô cùng lớn này.
          Tuy nhiên, không phải lúc nào gia đình nạn nhân cũng thấy thanh thản và mãn nguyện khi mà đã trừng trị kẻ thủ ác bằng một hình phạt mà họ coi là thích đáng. Đó là khi mà việc kẻ thủ ác đã bị trừng phạt thích đáng thì người thân của họ cũng không thể  trở về sống cùng họ. Thà rằng tha cho kẻ phạm tội, bằng việc xin ân giảm hay bằng lòng với bản án của tòa tuyên ra để được thanh thản, mà theo giáo lý đạo Phật khuyên là không nên sát sinh. Ngoài ra còn có trường hợp là xử oan người vô tội, nỗi đau giờ có thêm tội lỗi thì thử hỏi gia đình nạn nhân còn có thể thấy thanh thản và mãn nguyện hay không?[6]
         Có ý kiến cho rằng, pháp luật là nhân đạo tuy nhiên đối với trường hợp với tính chất man rợ như của Lê Văn Luyện thì cần sửa đổi luật cho phù hợp. Theo ý kiến của người viết đó[7] “Tuy nhiên, khi tình hình tội phạm có xu hướng trẻ hóa, và mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng thì theo quan điểm của tôi, luật cũng cần phải thay đổi… Vụ án Lê Văn Luyện gây ra có tính chất quá man rợ và tàn ác, phạm tội nhiều lần (giết nhiều người) thì cần phải có hình phạt cao hơn”. Tuy nhiên là sửa luật thì sửa như thể nào? Vì việc sửa luật này thì chủ yếu có 2 cách: Một là quy định người dưới 18 tuổi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì phải tử hình. Nếu quy định như vậy là vi phạm đến điều ước Quốc tế đã ký kết, tính nhân đạo của pháp luật một phần của truyền thống dân tộc và có thể gây nên hậu quả khó lường nếu xử phạt người vô tội. Hai là quy định người dưới 18 tuổi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì không được tử hình trừ một số trường hợp đặc biệt. Vậy ta có thể quy định ‘‘trường hợp đặc biệt’’ đó là như thế nào trong luật hay không? Đời sống xã hội luôn đa dạng và biến đổi không ngừng, không ai có thể dự đoán trước được điều gì…
          Theo tôi, vụ án đã khép lại thì hãy để nó qua đi để những đau thương mất mát của hai bên gia đình được nguôi ngoai. Không nên cứ chú trọng suy xét về hình phạt cho bị cáo, mà nên nghĩ xem nên làm gì để không còn Lê Văn Luyện thứ hai.
          Các phương tiện thông tin đại chúng hiện nay lại chú trọng đăng những tin giật gân, tin giết người, cướp của, lộ hàng…Ngoài xã hội có rất nhiều tấm gương người tốt, việc tốt phải được noi gương để chúng ta học tập tuy nhiên lại không được đăng, đó phải chăng là một nghịch lý?…
        
        
         



[1] ‘‘giống anh Luyện’’ ý là người chưa thành niên.
[2] Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân-Khoa luật ĐHQG HN, Những điều cần biết về hình phạt tử hình, Nxb Chính trị Quốc gia, tr 14.
[3] Công ước Quốc tế về quyền dân sự, chính trị.
[4] Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền
[5] Tổng cục thống kê, 2006
[6] Trung tâm nghiên cứu quyền con người và quyền công dân-Khoa luật ĐHQG HN, Những điều cần biết về hình phạt tử hình, Nxb Chính trị Quốc gia, tr34,35,60.