Friday, February 17, 2012

CON HÁT MẸ KHEN HAY VÀ THÔNG ĐIỆP CẦN VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH

Lấy từ blog Nguyễn Minh Tuấn
link  http://tuanhsl.blogspot.com/ 

CON HÁT MẸ KHEN HAY VÀ THÔNG ĐIỆP CẦN VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH


Thí sinh Quỳnh Anh và phụ huynh. Ảnh: Vietnamgottalent.info
Tài năng đích thực hay chỉ là con hát mẹ khen hay?

Chương trình giải trí trên truyền hình có tên Vietnam‘s got Talent đang thu hút được sự chú ý của dư luận. Sau khi chương trình tuần vừa qua khép lại, đã có rất nhiều người bàn luận về tiết mục biểu diễn của thí sinh Quỳnh Anh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sẽ chẳng có gì đáng để „ồn ào“ như thế, nếu như chỉ thuần túy là việc dự thi và không được lựa chọn để đi tiếp vào vòng sau. Tuy nhiên trường hợp „không được lựa chọn“ này lại không bình thường như những trường hợp khác.

Điều không bình thường là trước khi bước lên sân khấu, người mẹ và cả gia đình của thí sinh Quỳnh Anh đã hết lời ca ngợi tài năng của em, rằng em  "quá có năng khiếu“, "quá tài năng", "đỉnh của đỉnh". Tuy nhiên, sau khi thể hiện, cả khán giả và Ban giám khảo mới thấy sự thật rằng tài năng thực sự của thí sinh đã không hoàn toàn giống như những gì gia đình ca ngợi trước đó. Nhạc sĩ Huy Tuấn đã nhận xét: "chất giọng của Quỳnh Anh có thể gặp bất cứ nơi đâu, kĩ thuật chưa thật hoàn hảo, những nốt lên cao còn rất nhiều hạn chế."

Điều khiến khán giả thất vọng ở đây không phải với thí sinh dự thi Quỳnh Anh, một cô bé chỉ mới 15 tuổi, mà thất vọng, bất bình với hành động của người mẹ. Sau khi có những lời nhận xét và kết quả không đồng ý đi tiếp vào vòng sau của Ban giám khảo, mẹ của thí sinh đã cầm micro, lên tiếng phát biểu ngay trên sân khấu để "bảo vệ" con mình. Bà cho rằng thí sinh Quỳnh Anh đã trình bày rất tốt, không có lỗi nào, rằng con gái bà thực sự có tài, hơn nhiều thí sinh khác và có ý phê bình Ban giám khảo đã không cho Quỳnh Anh một cơ hội (?!).

Việc người mẹ này dám đứng lên bảo vệ con thực chất không có gì là sai, nếu như lập luận bà đưa ra là đúng và đủ sức thuyết phục. Tuy nhiên, trong một cuộc thi, thí sinh có tài hay không, tài đến mức độ nào, muốn khách quan, công bằng quan trọng nhất là phải để công luận và những người có chuyên môn đánh giá. Tất cả những việc người mẹ làm chỉ cho thấy một điều rõ nhất rằng những gì bà ca ngợi con mình và tài năng thực sự của cô bé đã thể hiện trên sân khấu là khác nhau quá xa.

Điều rất đáng buồn là hiện nay có khá nhiều vị phụ huynh vẫn ngộ nhận về khả năng thực sự của con cái mình để chạy theo một thứ thành tích ảo như thế. Trên đời có người mẹ nào mà không yêu con, thương con. Nhưng yêu thương không phải là đánh giá con một cách mù quáng, cao quá mức so với khả năng thực sự của con, mà phải rèn luyện cho con tinh thần dũng cảm, dám nhìn thẳng vào sự thật, nhìn thẳng vào những điểm còn hạn chế của con mình, động viên con khiêm tốn, tiếp tục cố gắng học hỏi và dần hoàn thiện, chứ không phải áp đặt ý muốn của mình. Làm như thế, thực tế là...đang làm hại con mình.

„Hơn gấp vạn lần dân chủ tư sản“

Khép lại chuyện „con hát mẹ khen hay“, nhìn vào thực tế xã hội ta sẽ thấy có muôn vàn những cách suy nghĩ, cách làm tương tự như thế của những người được coi là „người lớn“, "người có học", thậm chí cả những người hiện đang giữ những trọng trách quan trọng trong bộ máy nhà nước. Điều này khiến cho rất nhiều người trong chúng ta không khỏi phải day dứt, suy nghĩ.

Dường như ai cũng biết, so với nhiều nước, nước ta vẫn là một nước nghèo, chúng ta hiện đang thua kém họ ở nhiều phương diện. Nhẽ ra cần phải biết mình, biết người, mà phấn đấu, vậy mà trong một bài viết gần đây đăng trên Báo nhân dân, ngày 5/11/2011, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan lại khẳng định rằng: "Nhà nước ta đang phát triển lên tầm cao mới, khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản…"

Bà Nguyễn Thị Doan, Ảnh: Tuổi trẻ

Như đã đề cập về phần thi của thí sinh Quỳnh Anh, việc đánh giá em có tài thực sự hay không thì phải căn cứ vào sự thể hiện của em trên sân khấu, sự đánh giá của Ban giám khảo, cũng như ngàn vạn khán giả theo dõi, chứ không phải chỉ nghe một phía từ người mẹ hay gia đình em.  

Cũng tương tự vậy, vấn đề nước ta có dân chủ thực sự hay không và dân chủ ở mức độ nào thì phải dựa trên những căn cứ, tiêu chí cụ thể và được đánh giá một cách khách quan từ phía bên ngoài, tức là bởi những người dân trong nước và dư luận quốc tế, chứ không phải chỉ dựa vào kết luận chủ quan, cảm tính, một chiều của những người lãnh đạo 

Như khẳng định của bà Doan, không rõ "dân chủ" mà bà nói là dân chủ gì, „tầm cao mới“ ấy là tầm cao nào mà có khả năng cao „gấp vạn lần dân chủ“ của những nước tư bản ngày nay? Tất nhiên, bà Phó chủ tịch nước có thể nói, có thể viết, có thể đưa ra quan điểm riêng, đó là quyền của bà. Tuy nhiên, khi bà đưa ra nhận định, muốn thuyết phục được người khác, bà phải dựa trên lý lẽ và có nghĩa vụ chứng minh những gì mình nói là đúng sự thật. 

Phó chủ tịch nước đã nói thì chắc không phải chuyện chơi. Vậy thì liệu bà Phó chủ tịch nước có thể chứng minh bằng những chứng cứ cụ thể, thuyết phục với nhân dân cả nước và với các nước trên thế giới rằng Việt Nam ta đang có „dân chủ cao hơn gấp vạn lần“ các nước tư bản như Anh, Đức, Mỹ, Nhật, Pháp hiện nay không? Chúng tôi – những người dân luôn sẵn sàng lắng nghe bà tiếp tục trình diễn phần thi "chứng minh Việt Nam có dân chủ cao hơn gấp vạn lần" các nước tư bản hiện nay của mình. 

Người dân sẽ tiếp tục xem bà trình diễn, nhưng mong bà đừng giống như người mẹ của thí sinh Quỳnh Anh trong cuộc thi Vietnam’s got Talent tuần vừa rồi, trình diễn xong, khán giả lại „ồ lên" rõ to...ồ lên không phải vì sung sướng, mà là...tràn đầy thất vọng.

Dũng cảm nhìn lại và tự sửa mình

Dù gì thì chương trình Vietnam’s got Talent cũng chỉ là một cuộc chơiCuộc chơi nào, ánh hào quang nào, ồn ào mấy rồi cũng sẽ khép lại. Con đường phía trước của Quỳnh Anh còn rất dài, sự việc vừa rồi có thể khiến em phần nào bị tổn thương, nhưng tôi nghĩ ban giám khảo đã quyết định đúng và quyết định đó là cần thiết cho em, vì hi vọng qua những lời nhận xét của Ban giám khảo, của mọi người, Quỳnh Anh sẽ tĩnh tâm nhìn lại mình, xem xét lại cách mình được giáo dục để trưởng thành hơn. Với nhiều người có thể em hát chưa thật hay, nhưng em hãy tiếp tục khám phá khả năng của bản thân, tiếp tục cố gắng với những đam mê thật sự của mình, em vẫn có nhiều cơ hội để thành công.

Với nhiều vị phụ huynh, con cái dù có lớn đến đâu trong mắt họ vẫn chỉ là những đứa trẻ. Cách suy nghĩ ấy đến nay cần phải thay đổi. Khi con đã lớn, bố mẹ cần phải luôn tin tưởng và động viên con hướng tới những điều tốt đẹp, cho con quyền tự quyết định và tự chịu trách nhiệm dần về việc mình làm. Khi đã trưởng thành, điều đáng quí nhất của người con là có chính kiến riêng của mình, không ngại khó, ngại khổ để vươn tới những điều mà mình cho là tốt đẹp.  

Đối với nhà nước cũng vậy, đã qua rồi thời kì dù sai hay đúng nhà nước nói gì dân cũng tin, qua rồi thời chính quyền có thể "ru ngủ" nhân dân bằng những từ ngữ mĩ miều, đẹp đấy nhưng không hề có thật. 

Tự do, dân chủ không bao giờ là quà tặng từ trên trời rơi xuống, những điều hay ho đó chỉ có được khi người dân nhìn nhận ra những sai trái, bất công, dám lên tiếng, đấu tranh, bảo vệ những quyền căn bản, những giá trị sống của mình.

Người dân Myanmar chào đón sự trở lại của bà Aung San Suu Kyi. Người phụ nữ Châu Á đấu tranh cho Nhân Quyền nổi tiếng nhất thế giới hiện nay. Ảnh:  ABC

Cô bé Quỳnh Anh sẽ lại ngoan ngoãn nghe theo lời mẹ bất luận đúng sai HAY qua cuộc thi này em sẽ trưởng thành hơn, sẽ mạnh mẽ hơn mà suy nghĩ độc lập, quyết định tương lai và sự thành công theo cách của mình? Câu trả lời là ở phía em. Điều này cũng giống với một dân tộc, nếu không nhìn ra bên ngoài, không nhìn thẳng vào những hạn chế, yếu kém của mình mà dũng cảm sửa đổi, dân tộc ấy sẽ mãi chìm đắm một cách êm ái trong lạc hậu, đói nghèo. Thời nay dân chủ có được hay không, đó không phải chỉ là việc của chính quyền nữa rồi, giờ đã đến lúc phải suy nghĩ khác, làm khác, người dân phải tự quyết định lấy vận mệnh, nếu như muốn có một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân mình và con cháu mai sau. 

NMT

Monday, February 13, 2012

Suy nghĩ ...

Hôm nay Hạnh ''phó'' hỏi mình rằng, cái gì đánh cắp được trái tim?

Đơn giản thôi chỉ có trái tim mới đánh cắp được trái tim. 

Tại sao lại vậy? Đơn giản là vì chỉ có trái tim mới hiểu ngôn ngữ riêng của nó.

Vậy hóa ra là cái gì cũng có ngôn ngữ riêng của nó hay sao?

Đúng vậy. Xung quanh chúng ta vạn vật đều có ngôn ngữ riêng của nó, loài người cũng có ngôn ngữ riêng, loài chim cũng có ngôn ngữ riêng, những người cùng quốc gia cũng có ngôn ngữ riêng, những người cùng chung sống trong 1 gia đình cũng có ngôn ngữ riêng...Chúng ta dường như đã áp đặt thứ ngôn ngữ riêng đó của những người khác là ngôn ngữ của chính mình và mình cũng có thể hiểu. Sai rồi, không bao giờ có thể hiểu được đâu!

Tuy nhiên như ví dụ ở trên trái tim mới đánh cắp được trái tim, cũng tức là cũng có những người cùng chung ngôn ngữ.

Nhưng tại sao họ lại có chung ngôn ngữ? Phải chăng họ là những con người bản sao, những con người giống nhau như đúc?

Sai rồi! Chả ai giống ai cả, cũng chả có bản sao nào y như đúc trên thế giới này.

Cái chính là những người có chung ngôn ngữ họ cũng xuất phát điểm là từ những người không cùng ngôn ngữ mà thôi. Nhưng họ đã gắn kết và trao đổi với nhau, bù đắp cho nhau để hiểu được rằng ngôn ngữ của người khác, không đơn thuần là cái lập dị của người khác, mà nó cũng chính là  thứ ngôn ngữ mà mình đang cần, thứ ngôn ngữ mà mình đang tìm kiếm...

Vậy nên hai trái tim lạc nhịp, đã hòa chung một nhịp chỉ đơn giản là hai trái tim sinh ra đã hẹn ngày gặp lại...



Saturday, February 11, 2012

Tham nhũng từ cái nhìn khoa học



Tham nhũng từ cái nhìn khoa học
Tạp chí New Scientist trong năm qua đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học về những nguyên nhân dẫn tới nạn tham nhũng.
Các nhà khoa học đã minh họa rất rõ những tình huống mà trong đó, những người vốn thông minh, tư duy tỉnh táo bỗng dưng trở thành những kẻ tham nhũng.
Và dẫu rằng không ai đưa ra được các “toa thuốc” đặc trị chống lại căn bệnh trầm kha này nhưng các nhà khoa học vẫn cố gắng bằng các tìm tòi của mình để lý giải, tại sao cách hành xử trái đạo đức và trái pháp luật như thế vẫn rất phổ biến trên thế giới.
Đại bộ phận trong chúng ta thường vẫn cho mình là những người trung thực và nghĩ rằng các khái niệm không hay ho như tham nhũng, tham ô là chuyện chẳng liên quan gì tới mình. Thế nhưng, các nghiên cứu lại cho thấy, bằng cách này hay cách khác, bất cứ ai trong chúng ta, ngay cả người trung thực, chính trực nhất, cũng có thể bị dính líu tới chuyện đó.
Vấn đề là ở chỗ, dù xã hội có ở trình độ văn minh cao đến mấy, thì hiện tượng lạm dụng chức quyền trong chính trị, trong các cơ quan quyền lực khác nhau và trong kinh doanh ở mức độ này hay mức độ khác vẫn xảy ra ở khắp mọi nơi. Tại tuyệt đại đa số các quốc gia, không thể nào loại bỏ hoàn toàn những thèm khát trục lợi một cách bất hợp pháp trong lòng những người đang có chức quyền bằng bất cứ án tù hay các hình thức xử lý hình sự nào.
Minh họa: Lê Phương.
 
Hiện tượng lạm dụng quyền lực của các quan chức để trục lợi cá nhân đã được các nhà khoa học nghiên cứu trong tất cả các hình thức biểu hiện khác nhau. Thậm chí cả ở cấp độ bản năng. Bởi lẽ, nếu nhìn từ góc độ tiến hóa, cách hành xử “đạo đức sáng như gương” không phải bao giờ cũng là chiến lược hợp lý nhất, mà chính sự khôn ngoan, láu cá mới tạo nên được những lợi thế nhất định và những cơ hội lớn để giành lấy thắng lợi hơn hẳn trước những ai hành xử như tất cả mọi người hoặc những ai luôn luôn làm đúng các quy chế và quy định. Và đây chính là một trong những nguyên nhân khiến cuộc đấu tranh chống lại việc trục lợi một cách bất hợp pháp và vô đạo đức trở nên phức tạp đến nhường vậy.
Thử nghiệm tham ô
Nhà khoa học Samuel Bendahan từ Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại Lausanne  khẳng định: “Nếu bạn phần lớn thời gian đều trung thực thì chỉ vì nguyên do duy nhất là bạn không có cơ hội để lừa dối”. Cùng với các đồng nghiệp của mình, ông đã nghĩ ra một trò chơi mà trong đó, những người tham gia nó phải cùng nhau phân chia một khoản tiền cho mình và cho những người khác, thực hiện nhiệm vụ của các nhân viên.
Đã xuất hiện nhiều phương án khác nhau để làm việc này. Có thể chia tiền bằng cách đưa cho những người khác các khoản thù lao cao hơn từ số tiền lẽ ra mình phải được hưởng. Và cũng có thể chia cho những người khác ít tiền thù lao hơn và số dư ra thì đút vào ví mình. Trong quá trình thăm dò ý kiến sơ bộ, cách làm thứ hai chỉ được 4% số người tham gia thí nghiệm đồng tình.
Trong giai đoạn đầu của thí nghiệm, một người được cử ra để phân phối những khoản tiền không lớn lắm cho những người chơi. Và trong suốt mười lượt chơi, mọi sự đều diễn ra một cách trung thực.
Thế rồi số người được cử ra để chia tiền tăng lên tới con số 3 và tổng số tiền cũng được tăng lên. Kết quả là trong 10 lượt chơi theo quy tắc này, 455 số thành viên tham gia thí nghiệm đã có hành vi phi đạo đức và lợi dụng cương vị của mình để làm giàu cá nhân.
Bằng thí nghiệm này, các nhà khoa học đã cho thấy rõ, quyền chức có thể làm cho con người tha hóa như thế nào.
Mụ mẫm vì quyền lực
Quyền lực không chỉ đơn giản “nối giáo cho giặc”, khiến con người ta có thêm được những cơ hội để lạm dụng tài chính. Nó còn tác động rất mạnh đến tư duy của con người.
Nhà khoa học Joris Lammers ở Trường Đại học Tổng hợp Tilburg (Hà Lan) đã so sánh những gì diễn ra trong đầu các quan chức nắm quyền lực với tình trạng say rượu.
Rượu vào người sẽ khiến cho chúng ta bị thu hẹp sự chú ý và kích thích trạng thái vẫn được gọi là tự tin thái quá cũng như hăng hái thái quá. Các nhà nghiên cứu ở Trường Đại học Tổng hợp Tilburg đã quan sát hoạt động não của những người đang nắm quyền lực và phát hiện ra rằng, ở những người này xuất hiện hiện tượng gia tăng hoạt động ở những khu vực liên quan tới sự mất tự chủ bản thân này.
Hóa ra là, một quan chức cao cấp khi muốn được “bôi trơn” cho việc thực thi công vụ của mình có thể không nhận thức rõ được hết những hệ lụy có thể đến hoặc là có xu hướng không muốn tin rằng sẽ có thể xảy ra một chuyện gì đó không hay đối với mình vì các hành vi tham ô, tham nhũng. Nhà khoa học Lammers gọi hiện tượng này là “sự cận thị đạo đức”.
Nhà kinh tế học Dan Ariely ở Viện Công nghệ Massachussetts (Mỹ) đã phát hiện ra trong chân dung của người tham nhũng một chi tiết thú vị nữa. Theo các kết luận của Airely, những “thành tựu” lớn nhất trong “công cuộc tham nhũng”, cũng như trong rất nhiều việc khác, thường thuộc về những người có óc sáng tạo phong phú, với cách tiếp cận vấn đề độc đáo và một trí tưởng tượng cao.
Bắt tận tay, day tận trán
Thế nhưng, sự xuất hiện của các hành vi tham nhũng không chỉ được kích thích bởi những thẩm quyền mà các quan chức có, mà còn bởi cả cơ hội duy trì một khoảng cách tâm lý. Nhà kinh tế học Dan Ariely đã phát hiện ra rằng, con người ta thường  hay bị lôi cuốn bởi những tấm thẻ có thể đổi lấy tiền hơn là chính bản thân những đồng “tiền tươi”.
Nếu tiếp tục lập luận theo hướng này, thì có thể thấy rằng, việc nhận hối lộ thông qua những người trung gian cho phép những quan chức tha hóa có thể phần nào được tách biệt ra khỏi những tình huống không mấy hay ho.
Thứ nhất, người trung gian dễ dàng xác định bảng giá cho các hành vi “ông chìa chân giò, bà thò chai rượu” hay mua chuộc chính trị gia và bằng cách này góp phần “bình thường hóa” hành vi đưa tiền hối lộ. Thứ hai, việc tồn tại người trung gian làm giảm bớt nguy cơ bị trừng phạt vì tội nhận hối lộ và tạo nên ảo tưởng về một trách nhiệm chung.
Như một dịch bệnh
Muốn nói gì thì nói, yếu tố quan trọng nhất dẫn tới hiện tượng tham nhũng, hối lộ trong đời sống chúng ta vẫn là việc nó có được xã hội công nhận hay không. Ở một vài quốc gia ít ỏi nào đó, đút lót, hối lộ là việc mà thậm chí ít ai phải nghĩ thế. Tuy nhiên, ở phần lớn những nước đang phát triển, không “bôi trơn”, không “làm luật” cho các viên chức thì không bao giờ làm được việc cần thiết. Thậm chí ở nhiều nơi, đút lót còn là phương thức duy nhất để có thể giải quyết nhanh chóng các vấn đề quan trọng.
Nhà khoa học Abigail Barr ở Trường Đại học Tổng hợp Oxford đã nghiên cứu về các tiểu tiết của hiện tượng tham nhũng. Bà đã tiến hành một loạt những thí nghiệm với các sinh viên ở Oxford tới từ 34 quốc gia trên thế giới. Mỗi một người trong số này phải tự quyết định xem là nên hay không nên đút lót cho các viên chức có thẩm quyền để làm một việc gì đó cần thiết của mình, thí dụ như để lấy giấy nghỉ học vì ốm chẳng hạn.
Kết quả thí nghiệm cho thấy, những sinh viên tới từ các quốc gia có chỉ số tồi tệ nhất trong bảng xếp hạng về tham nhũng thường dễ dàng chấp nhận đi hối lộ vì đối với họ, đó cũng là “chuyện thường ngày ở huyện”.
Có một điều tốt là ngay cả những người như thế cũng có thể trở nên bớt xấu tính đi trong việc đưa hối lộ. Một thí nghiệm khác, cũng do bà Barr tiến hành cho thấy, sau khi sống một thời gian ở Anh, nơi nạn tham nhũng không phải là vấn đề nghiêm trọng, thì những sinh viên trên đã có cách hành xử thích hợp với các quy tắc xã hội phổ biến trên “hòn đảo sương mù”. Và tới khi tốt nghiệp đại học, thì các trí thức trẻ tới từ các nước phổ biến nạn tham nhũng nhìn chung không còn khác biệt gì trong cách nhìn nhận vấn đề này so với các bạn đồng môn người Anh.
Xếp hạng mức độ tham nhũng trên thế giới (CPI) năm 2011
(Đánh giá của tổ chức Transparency International)
Chỉ số CPI được xây dựng trên cơ sở thống kê các hình thức tham nhũng khác nhau, kể cả việc đưa tiền hối lộ cho các quan chức, sự tham gia của các công chức vào việc chia chác lợi nhuận từ việc thực hiện các hợp đồng công, việc sử dụng không tốt các nguồn lực từ ngân sách… có tính cả sự tích cực của nhà nước trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng.
10 quốc gia ít mắc vào tham nhũng nhất: New Zealand, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển, Singapore, Na Uy, Hà Lan, Australia, Thụy Sĩ, Canada.

 Theo Khánh Hạ (ANTG cuối tháng)

Friday, February 10, 2012

Bảo hiến, chủ nghĩa lập hiến và nhà nước pháp quyền

Bảo hiến, chủ nghĩa lập hiến và nhà nước pháp quyền
Bảo hiến, chủ nghĩa lập hiến và nhà nước pháp quyền

I. Khái niệm và lịch sử phát triển của vấn đề bảo hiến
Bảo hiến (hay còn được gọi là bảo vệ hiến pháp hoặc tài phán hiến pháp1-constitutional review/judicial review), theo định nghĩa của một số từ điển pháp luật phổ biến, có thể hiểu là thẩm quyền của các tòa án của một quốc gia được xem xét và đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật hoặc quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.2 
Sở dĩ bảo hiến thường được gọi là judicial review vì từ trước đến nay nó gắn liền với chức năng của tòa án trong việc xem xét tính pháp lý trong hoạt động của các cơ quan hành chính3.
Khi nói về lịch sử của vấn đề bảo hiến, Arne Mavčič chia thành các giai đoạn như sau4:
Trước Chiến tranh thế giới thứ I
Những yếu tố ban đầu của bảo hiến được cho là xuất hiện vào thời cổ Hy Lạp, khi pháp luật nước này phân biệt giữa một nomos (văn bản pháp luật có chức năng như hiến pháp) và một psephisma (văn bản pháp luật có chức năng như một nghị định, hiệu lực thấp hơn). Một psephisma, bất kể nội dung quy định về vấn đề gì, cũng không được trái với nomos, nếu trái sẽ bị coi là vô hiệu.
Một số khía cạnh của bảo hiến sau đó được áp dụng trong hệ thống pháp luật của Đức từ năm 1180 (về sau được đề cập trong Hiến pháp Weimar). Ngoài ra, các hình thức sơ khai của bảo hiến cũng xuất hiện ở một số nước châu Âu khác như ở Pháp (từ giữa thế kỷ XIII), Bồ Đào Nha (từ thế kỷ XVII), Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp, Áo, Romania (thế kỷ XIX). Mặc dù không có hiến pháp thành văn, nước Anh cũng được coi là có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của lý luận và pháp luật về bảo hiến, vì từ thời trung cổ, người Anh đã khởi xướng ra thủ tục impeachment (hạch tội để bãi miễn quan chức nhà nước), đồng thời từ năm 1610 đã đề xướng nguyên tắc về tính tối thượng (supremacy) của Hiến pháp và quyền của tòa án được xem xét tính hợp hiến của các hoạt động của chính phủ - những điều mà sau đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thiết lập cơ chế bảo hiến ở Hoa Kỳ.
Ở Hoa Kỳ, vào cuối thế kỷ XVIII, tòa án đã ra một phán quyết tuyên bố các luật của đế chế Anh không có hiệu lực trên lãnh thổ các bang Bắc Mỹ. Tuy nhiên, phải đến năm 1803, trong vụ án nổi tiếng Marbury kiện Madison, quyền bảo hiến của tòa án mới được xác lập một cách chính thức ở Hoa Kỳ. Vụ Marbury kiện Madison cũng xác lập mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ, do các tòa án thực hiện - một trong những mô hình bảo hiến chính trên thế giới hiện được áp dụng ở nhiều quốc gia.
Trong thời gian giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới thứ I và thứ II
 Giai đoạn này được gọi là “thời kỳ của nước Áo” (the Austrian Period). Chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của hai nhà luật học Adolf Merkl và Hans Kelsen, Hiến pháp năm 1920 của Áo đã xác lập nền tảng của Tòa án Hiến pháp nước này, với độc quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật. Mô hình tòa án hiến pháp chịu trách nhiệm về bảo hiến sau đó được áp dụng ở nhiều quốc gia khác, đặc biệt là ở châu Âu, trở thành một trong các mô hình bảo hiến chính hiện nay trên thế giới.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ II
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, cơ chế bảo hiến tiếp tục được thiết lập ở khắp nơi trên thế giới. Trong thời kỳ này, ngoài tòa án (tòa án thường và tòa án hiến pháp) như ở Mỹ và Áo, ở một số nước, pháp luật còn giao quyền bảo hiến cho một số cơ quan khác, ví dụ như Hội đồng bảo hiến, các tòa đặc biệt thuộc Toà án tối cao, hoặc cho bản thân Nghị viện.
II. Các mô hình bảo hiến trên thế giới
Từ góc độ tổ chức, Arne Mavčič chia các thiết chế bảo hiến hiện hành trên thế giới thành các mô hình như sau5:
(1)   Mô hình Mỹ
Được hình thành từ vụ Marbury kiện Madison, đặc trưng của mô hình bảo hiến kiểu Mỹ là không thành lập cơ quan bảo hiến chuyên trách. Thay vào đó, tòa án ở mọi cấp về nguyên tắc đều có quyền bảo hiến, cụ thể là trong quá trình xét xử có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật có liên quan và có quyền tuyên bố quy định đó là vi hiến, đồng thời từ chối không áp dụng quy định đó. Vì vậy, đây còn được gọi là mô hình bảo hiến phi tập trung (decentralized constitutional review). Tuy nhiên, để bảo đảm tính thống nhất trong vấn đề này, chỉ quyết định của tòa án tối cao mới có hiệu lực bắt buộc với mọi toà khác và mới có thể vô hiệu hóa một đạo luật.
Hiện tại, theo nghiên cứu của Arne Mavčič, những quốc gia và vùng lãnh thổ sau đây đang áp dụng mô hình bảo hiến kiểu Mỹ (xem thêm hình 1): Đan Mạch, Estonia, Ireland, Nauy, Thụy Điển (châu Âu); Botswana, Gambia, Ghana, Guinea, Kenya, Malawi, Namibia, Nigeria, Xây-sen, Sierra Leone, Swaziland, Tanzania (châu Phi); Israel (Trung Đông); Bangladesh, Fiji, Hong Kong, Ấn Độ, Nhật Bản, Kiribati, Malaysia, the Federal States of Micronesia, Nauru, Nepal, New Zealand, Palau, Papua New Guinea, Singapore, Chính phủ Tây Tạng lưu vong, Tonga, Tuvalu, Vanuatu, Tây Samoa (châu Á); Canada, Hoa Kỳ (Bắc Mỹ); Argentina, Bahamas, Barbados, Belize, Bolivia, Dominica, Grenada, Guyana, Haiti, Jamaica, Mexico, St. Christopher/Nevis, Trinidad and Tobago (Trung và Nam Mỹ).
(2) Mô hình châu Âu lục địa  
Mô hình này còn được gọi là mô hình Áo, bởi như đã đề cập ở trên, nó được xác lập đầu tiên trong Hiến pháp năm 1920 của Áo, dựa trên lý thuyết của Adolf Merkl và Hans Kelsen mà trong đó kết hợp giữa nguyên tắc về tính tối cao của Hiến pháp và thẩm quyền tối cao của Nghị viện. Đặc trưng của mô hình này là không giao quyền bảo hiến cho toàn bộ hệ thống tòa án mà chỉ giao cho một cơ quan chuyên trách. Cơ quan này, nguyên thủy và thông thường được thành lập dưới hình thức một Tòa án Hiến pháp, nhưng sau đó còn được thành lập dưới một số hình thức khác như Hội đồng bảo hiến hay Viện bảo hiến...
Mặc dù có tên gọi khác nhau, các thiết chế bảo hiến theo mô hình châu Âu lục địa có những đặc điểm chung như sau: hoạt động bảo hiến được thực hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia; cơ quan bảo hiến thông thường không được coi là thuộc nhánh quyền lực tư pháp (kể cả khi có tên gọi là Tòa án Hiến pháp); thủ tục tố tụng khác với thủ tục tố tụng áp dụng ở hệ thống tòa án thường; các cơ quan bảo hiến có quyền tự chủ về hành chính và tài chính; vị thế, quyền hạn, việc thành lập hay bãi bỏ cơ quan bảo hiến thông thường thuộc quyền quyết định của Nghị viện; thẩm phán tòa hiến pháp được chỉ định bởi các cơ quan nắm quyền lực chính trị; thẩm quyền tài phán có tính chất đặc biệt: các phán quyết của cơ quan bảo hiến mang vừa mang tính pháp lý vừa mang tính chính trị; thông thường phán quyết của cơ quan bảo hiến có tính chất bắt buộc, cưỡng chế, nhưng có trường hợp chỉ có tính chất ngăn ngừa, tư vấn; phạm vi bảo hiến bao quát tất cả các văn bản pháp luật. 
(3) Mô hình hỗn hợp (Mỹ - châu Âu lục địa)
Đặc trưng của mô hình này là thẩm quyền bảo hiến được giao cho cả cơ quan bảo hiến chuyên trách và hệ thống tòa án thường. Tuy nhiên, chỉ có cơ quan bảo hiến chuyên trách mới có quyền phán quyết một đạo luật hay quyết định là vi hiến, còn các tòa án thường chỉ có quyền không áp dụng một đạo luật nếu xét thấy nó không hợp hiến.
 Ở những quốc gia đang áp dụng mô hình bảo hiến hỗn hợp, cơ quan bảo hiến chuyên trách cũng có thể là Tòa hiến pháp, Tòa thượng thẩm (high court) hoặc các Tòa đặc biệt (special chambers) của Tòa tối cao.
(4) Mô hình Pháp
Sở dĩ gọi là mô hình Pháp vì mẫu hình của nó là Hội đồng Hiến pháp của Pháp (Conseil Constitutionnel), được thành lập từ năm 1958, có chức năng là một cơ quan bảo hiến. Ở một số nước khác theo mô hình này, Tòa án tối cao cũng có thể là cơ quan bảo hiến, tuy nhiên, trong trường hợp này phán quyết của Tòa chủ yếu chỉ mang tính tham vấn (trừ những vụ việc liên quan đến bầu cử).
(5) Mô hình Nghị viện đồng thời có chức năng bảo hiến
Theo mô hình này, Nghị viện hoặc một cơ quan của Nghị viện sẽ giữ chức năng bảo hiến. Có quan điểm cho rằng, đây là mô hình riêng của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN)6 và một số nước chịu ảnh hưởng của phe XHCN trước đây, tuy nhiên thực tế không hẳn như vậy. Ngoài các nước XHCN trước đây (và hiện nay vẫn còn đang được áp dụng ở Trung Quốc, Cu Ba, Việt Nam, Lào, Bắc Triều Tiên) mô hình này còn thấy ở một số nước khác, bao gồm các nước tư bản chủ nghĩa và quân chủ lập hiến, cụ thể như Phần Lan, Bahrain, Kuwait, Oman, Brunei, Australia...
Hầu hết quốc gia trên thế giới thuộc về một trong số năm mô hình bảo hiến kể trên, tuy nhiên, có một vài quốc gia không thuộc nhóm nào (không có cơ chế bảo hiến), cụ thể như Anh, Hà Lan, Lesotho, Liberia và Libi. Ngoài ra, theo phân loại của Arne Mavčič, còn một mô hình nữa có tên gọi là mô hình Khối thịnh vượng chung mới (the New (British) Commonwealth Model) có duy nhất một quốc gia là Mauritius theo đuổi. Arne Mavčič cho rằng, mô hình này không thể xếp vào bất cứ kiểu nào đã nêu ở trên, tuy nhiên không mô tả rõ ràng những đặc trưng của nó.
 Bên cạnh các cơ quan bảo hiến quốc gia, Arne Mavčič cho rằng, một số cơ quan tài phán quốc tế, đặc biệt là các Tòa án nhân quyền khu vực, cũng có chức năng tài phán hiến pháp ở mức độ nhất định. Những cơ quan đó bao gồm: Tòa án nhân quyền châu Âu (the European Court of Human Rights, trụ sở ở Strasbourg, Pháp); Tòa án Công lý châu Âu (the Court of Justice of the European Community, trụ sở ở Luxembourg); Tòa án của Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (the Court of EFTA, trụ sở ở Geneva, Thụy Sĩ); Tòa án nhân quyền châu Phi (the African Court of Human Rights) Ủy ban nhân quyền Liên Mỹ (Comision y la Corte Interamericanas de los Derechos Humanos)…
Các hình dưới đây cung cấp những thông tin chi tiết về mức độ phổ biến và phân bố của các mô hình bảo hiến trên thế giới.

 


III. Mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền, chủ nghĩa lập hiến và việc bảo hiến  
Nội dung cốt lõi của tư tưởng pháp quyền là đề cao quyền lực của nhân dân, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, sự thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, đặt các thiết chế quyền lực trong sự ràng buộc của Hiến pháp và pháp luật, kiểm soát quyền lực, bảo đảm sự phân quyền, sự độc lập của Tòa án, bảo đảm tính minh bạch của pháp luật.
Một vấn đề cơ bản được đặt ra là: Vì sao trong Nhà nước pháp quyền lại cần đến sự thượng tôn Hiến pháp? Vấn đề này cần được lý giải như sau:
- Trước hết, Nhà nước pháp quyền khác với Nhà nước không pháp quyền ở khả năng bảo đảm tính phổ quát và tính tuyệt đối của chủ quyền của nhân dân, chủ quyền của quốc gia và dân tộc. Về phương diện pháp lý, Hiến pháp với tính cách là bản khế ước của nhân dân, là cơ sở pháp lý cao nhất và đầy đủ nhất bảo đảm sự khẳng định đó. Trong tư cách đó, Hiến pháp có khả năng kết nối các lợi ích xã hội, tạo nên một trật tự hiến định, theo đó sự đồng thuận, giao thoa lợi ích trên nên tảng pháp quyền là đặt trưng chủ đạo nhất của đời sống xã hội và chính trị. Mặt khác, về phương thức điều chỉnh, với tính chất đặc trưng của mình, các quy định mang tính cơ bản và nền tảng của Hiến pháp, những yêu cầu chặt chẽ của quá trình bổ sung, sửa đổi Hiến pháp là điều kiện cho một trật tự pháp lý ổn định cao vốn là đặc trưng của Nhà nước pháp quyền. Về mặt thực tiễn, sự bền vững của trật tự hiến định là nền tảng cho sự vận hành một xã hội ổn định - xã hội của các quan hệ bình đẳng, tự do giữa các chủ thể trong các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội. Sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội đồng thuận là yếu tố không thể thiếu được cho sự vận hành hệ thống chính trị trên cơ sở thừa nhận, ủng hộ của các lực lượng xã hội (tính chính đáng của quyền lực), cho phép loại bỏ đến mức thấp nhất những yếu tố phủ định hoặc chống đối trật tự hiện hữu.
- Chủ nghĩa lập hiến là sự nhận thức về vai trò của Hiến pháp, là sự hiện hữu của Hiến pháp và sự tác động tích cực của nó đến đời sống chính trị và đời sống xã hội. Hiến pháp và trật tự hiến định thực tiễn là hai mặt của chủ nghĩa lập hiến. Khẳng định ở mức cao nhất về mặt pháp lý và bảo đảm thực hiện trong thực tiễn cuộc sống các lợi ích cao nhất, trường tồn và bền vững nhất của đất nước, của dân tộc, chủ nghĩa lập hiến được coi là yếu tố đầu tiên trong thang giá trị của Nhà nước pháp quyền. Bởi vậy, bảo hiến là bảo vệ lợi ích cao nhất, trường tồn nhất, bền vững nhất của đất nước và dân tộc, lợi ích của mỗi cá nhân và của mọi cá nhân, của mỗi giai cấp, tầng lớp. Nói khác đi, đó là bảo vệ chủ quyền của nhân dân.
- Nhà nước pháp quyền khác với Nhà nước không pháp quyền ở việc xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, giữa quyền lực công với quyền con người. Các tư tưởng về chế độ pháp trị, những hệ thống pháp luật đồ sộ trước đó dù có hoàn hảo đến mấy vẫn chưa vượt qua được logic của sự tùy tiện. Nhà nước pháp quyền đặt quyền con người trong tầm ngắm bảo hộ của nó và ở vị trí chủ đạo, từ đó đặt ra yêu cầu về trách nhiệm bảo đảm, bảo vệ quyền con người từ phía Nhà nước, đòi hỏi sự tự ràng buộc, tự hạn chế của quyền lực trước yêu cầu bảo vệ quyền con người. Là bản khế ước của mọi người, Hiến pháp có hai khả năng quan trọng: một là, những quy định của Hiến pháp về quyền con người là đầy đủ nhất, toàn diện nhất so với những quy định của các đạo luật; hai là, chính sự chế ước và hạn chế quyền lực đã trở thành lá chắn hữu hiệu chống lại sự tùy tiện của quyền lực đối với quyền con người. Vì vậy, Nhà nước pháp quyền cần có Hiến pháp để bảo đảm được cốt cách đặc trưng của nó. Bởi thế, bảo hiến là bảo vệ quyền con người, là thực hiện mục tiêu và đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền.
Trên đây là logic của mối quan hệ: Nhà nước pháp quyền - chủ nghĩa lập hiến - bảo hiến.
IV. Đặc trưng của bảo hiến trong thể chế chính trị tập quyền 
Tư tưởng về bảo hiến bao gồm khía cạnh về một cơ chế hữu hiệu để bảo vệ phần thiểu số trong cơ chế chính trị và bảo vệ lợi ích toàn cục (quốc gia). Điều đó là bởi ở các quốc gia theo chế độ đại nghị, dường như cơ chế giải quyết xung đột giữa lập pháp và hành pháp đã hình thành những công cụ pháp lý khá hữu hiệu, đó là hình thức giải tán Nghị viện trước thời hạn và hình thức giải tán Chính phủ. Bằng những cách đó, thế cân bằng lợi ích luôn được duy trì khi sự cân bằng tỏ ra có vấn đề. Tuy nhiên, khi quyền lập pháp được đặt ở thế thượng phong, nhất là khi lập pháp được đặt ở vị trí tối thượng thì nguyên tắc phân quyền bị phá vỡ. Về hình thức, dường như trong trường hợp này vị thế nghiêng về lập pháp, nhưng thực chất từ khi đó “cơ chế đảng phái” đã bắt đầu xuất hiện. Cơ chế quyền lực nhà nước đã chuyển hóa thành cơ chế quyền lực chính trị. Đa số trong nghị viện thuộc về đảng đa số cầm quyền và nghị viện lúc đó trở thành công cụ thực hiện lợi ích của đảng hoặc liên minh các đảng cầm quyền mà thực chất là sự liên kết giữa lập pháp và hành pháp. Như vậy, nguyên tắc đa số của chế độ đại nghị gắn liền và thể hiện sự lệ thuộc của nghị viện vào chính phủ và đảng chính trị. Phe đối lập chỉ chỉ còn một cách duy nhất là dựa vào một cơ chế bảo vệ là tài phán hiến pháp. Bảo đảm sự cân bằng vốn có của cơ chế phân quyền là chức năng quan trọng của cơ chế tài phán hiến pháp. Nó còn có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của thiểu số trong hệ thống đa đảng trong cơ chế phân quyền.
Từ phân tích ở trên, có thể suy ra được vì sao cơ chế quyền lực nhà nước tập trung, không phân quyền, hay còn gọi là tập quyền, lại không cần đến hoặc coi nhẹ vấn đề tài phán hiến pháp. Bởi lẽ, theo cơ chế này, toàn bộ quyền lực về mặt hình thức thuộc về các cơ quan đại biểu cao nhất là Quốc hội. Quốc hội vừa là cơ quan lập hiến, vừa là cơ quan lập pháp, vừa có quyền giải thích, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Trong bối cảnh đó, nếu nảy sinh những cáo buộc, chỉ trích về một đạo luật nào đó là vi hiến, Quốc hội có thể làm cho nó hợp hiến bằng cách đưa ra giải thích, hoặc sửa đổi hay bãi bỏ nó - tất cả đều nhằm mục đích ‘nắn sửa” đạo luật đó cho phù hợp với Hiến pháp. Một cách khác, Quốc hội thậm chí có thể sửa đổi Hiến pháp để bảo đảm tính hợp hiến của một đạo luật nhất định. Rõ ràng là, trong bối cảnh quyền lực tập trung như vậy, không thực sự xuất hiện nhu cầu bức thiết về một công cụ là tài phán hiến pháp mà thiên chức của nó là bảo đảm cho sự vận hành một cơ chế kiểu khác - cơ chế phân quyền.

(1) Trong bài này, các tác giả sử dụng thay thế các thuật ngữ “bảo hiến”, “bảo vệ hiến pháp”, “tài phán hiến pháp”, mặc dù các khái niệm này đều chưa hoàn toàn phù hợp xét trong ngữ nghĩa pháp lý do chúng có phạm vi quá rộng và không xác định. Ở đây, một điều dễ hiểu đó là, mọi cá nhân, mọi thiết chế, tổ chức, mọi hoạt động đều có nghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ hiến pháp. Từ cách tiếp cận này, khái niệm thích hợp hơn về mặt pháp lý có thể là “kiểm tra, giám sát Hiến pháp”. Kiểm tra, giám sát Hiến pháp có thể hiểu là một chức năng đặc biệt của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo đảm vị trí tối thượng của Hiến pháp và sự thượng tôn Hiến pháp; bảo đảm để Hiến pháp thực hiện một cách trực tiếp trong các quan hệ hiện hữu.

(2)Xem http://www.britannica.com/EBchecked/topic/307542/judicial-review,http://legal-dictionary.thefreedictionary. com/judicial+review
(3) Xem http://www.britannica.com/EBchecked/topic/307542/judicial-review.
(4) Arne Mavčič, Historical Steps in the Development of Systems of ConstitutionalReview and Particularities of Their Basic Models, tại http://www.concourts.net/introen.php.
(5) Arne Mavčič, Historical Steps in the Development of Systems of Constitutional Review and Particularities of Their Basic Models, tại http://www.concourts.net/introen.php
(6) Tuy nhiên, một số học giả nước ngoài dường như không thừa nhận có cơ chế bảo hiến ở các nước theo mô hình XHCN, bởi họ cho rằng, bảo hiến chỉ có thể được xác lập trong các thể chế chính trị tam quyền phân lập - nơi mà tính độc lập của Tòa án được bảo đảm.
GS,TSKH. Đào Trí ÚcChủ tịch Hội đồng ngành Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội; Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương Đảng; Vũ Công Giao - Giảng viên, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.