Wednesday, February 22, 2012


TRAO ĐỔI VỀ BÀI VIẾT: “TỘI GIẾT NGƯỜI KHÔNG CÓ NGƯỜI CHẾT?”

lấy từ blog http://tuanhsl.blogspot.com
Vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng khiến người dân bất an (Ảnh: Tia sáng)
Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn
(Bài viết đã gửi Tia sáng ngày 21/2/2012)

Tạp chí Tia sáng ngày 20/2/2012 có đăng bài viết Tội "giết người" không có người chết? của tác giả TS. Nguyễn Sỹ Phương. Bài viết có rất nhiều thông tin thú vị, đề cập đến những vấn đề rất bức xúc hiện nay. Tuy nhiên, sau khi đọc bài viết, tôi thấy có một vài vấn đề còn chưa rõ, rất mong được trao đổi, học hỏi thêm về mặt khoa học cùng với tác giả và bạn đọc dưới đây:

- Cần phân biệt “tội giết người đã hoàn thành” và “tội giết người chưa đạt”

TS. Nguyễn Sĩ Phương cho rằng: "Không luật pháp quốc gia tiên tiến nào cáo buộc phi thực tế, khép tội giết người lại không có người chết như vậy cả. Trong trường hợp này, pháp luật ở ta đã không hội nhập cộng đồng thế giới. Ở họ dấu hiệu đầu tiên cấu thành tội danh giết người phải có bằng chứng là nạn nhân đã chết. [….]Trong khi đó ở Việt Nam, nhiều tài liệu kể cả từ điển mở tiếng Việt, lại định nghĩa: “Hành vi giết người là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người”, “Có khả năng gây ra”, chứ không phải đã gây ra, mang thì tương lai, tức hành vi phạm tội chưa hoàn thành, nhưng vẫn bị khép tội, hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên lý, chỉ được phép khép tội khi hành vi tội phạm đã hoàn thành.”

Tôi cho rằng luận điểm này của tác giả đưa ra về pháp luật Việt Nam là chưa thực sự thuyết phục. Theo Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam 2009, đối với tội giết người (Điều 93 và các Điều liên quan khác), hậu quả chết người vẫn là dấu hiệu bắt buộc đối với tội phạm hoàn thành.
Vấn đề đặt ra là có những trường hợp trên thực tế chủ thể thực hiện hành vi cố ý giết người, mong muốn cho hậu quả xảy ra, nhưng hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của chủ thể đó. Xin nêu một ví dụ, năm 2009 có trường hợp một người phụ nữ tên là D. đã thực hiện một hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, do ghen tuông mà D. đã dùng chiếc kim khâu bao tải dài đến 8cm đâm vào đầu một cháu bé mới 40 ngày tuổi để trả thù tình địch, nhưng rất may là cháu bé đã thoát chết. Vấn đề ở đây là hung thủ chưa giết người thành công (theo cách nói của tác giả chưa có “người chết”) là do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của D.[1]Vậy trường hợp này sẽ xử lý như thế nào?
Dị vật nằm trong đầu cháu bé (Ảnh: VTC News)

Dị vật nằm trong đầu cháu bé (Ảnh: VTC News)
Do yêu cu phi xử lý đồng bộ các hành vi nguy him cho xã hi[2], trong trường hợp này nhà làm luật Việt Nam đã dự liệu rằng nếu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan, nằm ngoài ý muốn của người phạm tội thì hành vi phạm tội vẫn có thể bị coi là giết người chưa đạt (khi có lỗi cố ý trực tiếp) theo Điều 18 BLHS 2009 hoặc là cố ý gây thương tích (khi có lỗi cố ý gián tiếp) theo Điều 104 BLHS 2009.
Trở lại trường hợp đã nêu ở trên, muốn xác định D có phạm tội giết người chưa đạt không, cần phải chứng minh ý chí của người phạm tội có mong muốn hậu quả chết người xảy ra nhưng hậu quả đã không xảy ra do các nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội không. Nếu xác định được đúng như vậy, D. vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt.[3] Do hậu quả chưa xảy ra (cháu bé vẫn còn sống), nên thực hiện chính sách nhân đạo của nhà nước, D sẽ được xử lý nhẹ hơn tội giết người đã hoàn thành. Hay nói cách khác, không có hậu quả “người chết” nhưng theo pháp luật Việt Nam đây vẫn là “tội giết người chưa đạt”.

-  Luật pháp của Đức có qui định về phạm tội chưa đạt (Versuchsstadium, Strafbarkeit nach § 22, 23 StGB) và vấn đề phòng vệ chính đáng trong trường hợp khẩn cấp (§ 32 Notwehr)

Thứ nhất, ở Đức cũng có qui định về phạm tội chưa đạt (Tiếng Đức: Der Versuch) tại các Điều 22, 23 Bộ luật hình sự[4] , theo đó tại Điều 23 Khoản 2, tội phạm chưa đạt có thể được xử phạt nhẹ hơn tội phạm đã hoàn thành.[5] Mức độ miễn giảm cụ thể ra sao được qui định tại Điều 49 Khoản 1 Bộ luật hình sự. Như vậy, Bộ luật hình sự của Đức bên cạnh việc qui định tội phạm hoàn thành, cũng đã dự liệu cho cả những trường hợp phạm tội chưa đạt (Versuchsstadium, Strafbarkeit nach § 22, 23 StGB). Hay nói cách khác, những trường hợp cố ý giết người nhưng chưa đạt vì lý do khách quan (Tiếng Đức: Mordversuch) vẫn bị xử lý theo qui định của pháp luật Đức. (Xem thêm: Peter Kasiske, Strafrecht I: Grundlagen und Allgemeiner Teil, Stuttgart, 2011, Rn. 238 f.)
Thứ hai, phòng vệ chính đáng thì không bị coi là tội phạm. Tác giả cho rằng: “[…] hành động chống cự đó chỉ được coi phạm tội ở dạng tự vệ khẩn cấp, như Đức quy định tại điều 32 Bộ Luật Hình sự của họ”. Thông tin này theo tôi là không chính xác. Điều 32 Khoản 1 Bộ luật hình sự Đức không coi phòng vệ chính đáng trong trường hợp khẩn cấp (hay theo tác giả dịch là tự vệ khẩn cấp - Notwehr) là hành vi phạm tội. Điều khoản này qui định: Bất cứ ai thực hiện hành vi tự vệ chính đáng trong trường hợp khẩn cấp thì hành vi đó không bị coi là trái luật.[6] (Xem thêm: Peter Kasiske, Strafrecht I: Grundlagen und Allgemeiner Teil, Stuttgart, 2011, Rn. 96 f.) 

Thứ baTác giả đã nêu: “Như ở Đức tội danh này được quy định tại điều 215 Giết người, điều 216 Bức tử, điều 212 Làm chết người không chủ đích, điều 222 Ngộ sát, và điều 32 Làm chết người do tự vệ khẩn cấp.” Sau khi tra cứu lại thì tôi thấy có sự không thống nhất giữa trích dẫn của tác giả và những Điều luật hiện hành của Bộ luật hình sự Đức[7] và có kết quả khác như sau:

Trích dẫn của tác giả
Điều luật tra cứu trong Bộ luật hình sự của Đức
(có chú thích tham khảo dịch nghĩa theo cách hiểu của tôi)
Điều 215 Giết người
Điều 215 đã bị hủy bỏ (weggefallen)
Điều 211 - Mord - Tội giết người trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, mức xử phạt: tù chung thân, mức cao nhất trong BLHS của Đức (Tiếng Đức: Mord/ Tiếng Anh: Murder under specific aggravating circumstances).[8]
Điều 216 Bức tử
Điều 216 - Tötung auf Verlangen - Tội giúp người khác tự sát, mức xử phạt: phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm (Tiếng Đức: Tötung auf Verlangen/ Tiếng Anh: voluntary euthasasia, assisted suicide).[9]
Điều 212 Làm chết người không chủ đích
Điều 212 - Totschlag - Tội giết người (không thuộc trường hợp giết người trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng của Điều 211), mức xử phạt: không dưới 5 năm tù (Tiếng Đức: Totschlag/ Tiếng Anh: Murder).[10]
Điều 222 Ngộ sát
Điều 222 - Fahrlässige Tötung - Tội vô ý giết người, mức xử phạt: bị phạt tù đến 5 năm hoặc bị phạt tiền (Tiếng Đức: Fahrlässige Tötung / Tiếng Anh: negligent homicide).[11]
Điều 32 Làm chết người do tự vệ khẩn cấp
Điều 32 - Notwehr - Phòng vệ chính đáng (Tiếng Đức: Notwehr/ Tiếng Anh: self-defence).[12]

Như vậy qua phân tích đã trình bày ở trên có thể thấy, luật pháp Việt Nam và luật pháp CHLB Đức đều phân biệt rõ hành vi phạm tội chưa đạt (Versuchsstadium, Strafbarkeit nach §§ 22, 23 StGB) phạm tội đã hoàn thành (Vollendung, Alle Merkmale sind verwirklicht). Mục đích của qui định này làkhông làm oan người vô tội và không để lọt tội phạm, đồng thời phi xử lý đồng bộ các hành vi nguy him cho xã hi. (Xem thêm: Peter Kasiske, Strafrecht I: Grundlagen und Allgemeiner Teil, Stuttgart, 2011, Rn. 250). 

-               Quan điểm về trường hợp của Đoàn Văn Vươn

Liên quan đến vụ gia đình anh Vươn, tôi đồng tình với quan điểm của tác giả khi cho rằng không nên cáo buộc tội giết người trong khi vụ việc đang được tiến hành điều tra.
Đi vào cụ thể, tôi cho rằng cần làm rõ anh Vươn “có ý định giết người” hay không hay hành vi của anh chỉ là “phòng vệ chính đáng” theo Điều 15 khoản 1 BLHS 2009.
Thực tế, muốn xác định chính xác cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách đầy đủ, toàn diện, tỉ mỉ, trong đó cần chú trọng đánh giá các nội dung, diễn biến của các yếu tố khác nhau như:
Ảnh: Tuần Việt Nam
- Địa điểm nơi anh Vươn thực hiện hành vi (Khi xem xét hành vi của anh Vươn cũng cần hết sức lưu ý rằng địa điểm thực hiện hành vi là chỗ ở riêng của họ, không nằm trong diện tích đất bị cưỡng chế)
- Hoàn cảnh cụ thể (Cần xem xét rằng hành vi của anh Vươn thực chất là chống trả lại người đang có hành vi trái pháp luật trực tiếp xâm phạm lợi ích chính đáng của mình, xâm hại chỗ ở hợp pháp của mình).
- Mối quan hệ giữa nạn nhân và anh Vươn như thế nào, nhất là mâu thuẫn giữa đôi bên sâu sắc ở mức nào (Cần lưu ý là gia đình Đoàn Văn Vươn đã tiến hành các thủ tục theo đúng qui định pháp luật, gia đình anh đã khởi kiện lên Tòa án huyện, khởi kiện tiếp lên Tòa án tỉnh thì không được giải quyết…)
- Tác dụng, tính năng của loại phương tiện mà anh Vươn sử dụng, cách thức tiến hành trên thực tế (Súng hoa cải mức độ sát thương ra sao, với loại súng tự tạo, có đủ gây chết người không);
- Hành vi tấn công, cường độ tấn công của hành vi có mức độ mãnh liệt ra sao;
- Vị trí tấn công trên cơ thể nạn nhân (Xem xét vị trí tấn công đó có chứa đựng khả năng chết người hay không);
- Động cơ nào đã thúc đẩy anh Vươn thực hiện hành vi đó (Cần xem xét động cơ thực hiện hành vi của anh Vươn là để bảo vệ tài sản, tính mạng, bảo vệ gia đình);
- Thái độ của anh Vươn biểu hiện trước và sau khi sự việc đã xảy ra như thế nào v.v… Trên thực tế, tôi cho rằng chính việc giao đất, thu hồi đất và việc cưỡng chế sai trái là nguồn gốc dẫn đến hành vi chống trả của anh em Đoàn Văn Vươn. Đến nay khi mà hành vi thu hồi đất, cưỡng chế của chính quyền đã được kết luận là bất hợp pháp (dù là từ phía Thủ tướng chính phủ, không phải Tòa án), thì có nên đặt ra vấn đề xem xét hành vi của anh Vươn theo hướng là một hành vi phòng vệ chính đáng theo Điều 15 Khoản 1 BLHS 2009 hay không? Tất nhiên để chứng minh được điều này là không dễ, nhưng đó vẫn là hướng có lợi nhất cho anh Vươn và gia đình lúc này.
Vụ việc Tiên Lãng xét rộng ra thực chất không chỉ là việc của gia đình anh Vươn mà còn liên quan đến số phận của hàng triệu người nông dân có đất và đang trong nguy cơ mất đất khác trên cả nước. Người dân rất nóng lòng chờ đợi và hy vọng với cách xử lý vấn đề hợp tình hợp lý, chính quyền sẽ tạo được niềm tin với nhân dân, đem lại nhiều điều tốt đẹp không chỉ với gia đình anh Vươn, mà còn với tất cả những người nông dân cả nước. 


[1] Xem cụ thể bài viết: Cháu bé 40 ngày tuổi bị kim khâu lốp đóng ngập đầu, đăng ngày 11/11/2009, tại đây: http://www.vtc.vn/2-231279/xa-hoi/chau-be-40-ngay-tuoi-bi-kim-khau-lop-dong-ngap-dau.htm.
[2] Xem thêm: Trịnh Tiến Việt, Về tội phạm chưa đạt và một số hình thức phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà nội, Luật học 25 (2009), tr. 125–133.
[3] Xem thêm ý kiến bình luận của Luật sư Phạm Hồng Hải trong bài viết Vụ đâm kim xuyên não: Giết người vì động cơ đê hèn, đăng ngày 16/11/2009, truy cập tại địa chỉ:http://www.baomoi.com/Home/HinhSu/vtc.vn/Luat-su-Pham-Hong-Hai-Chac-chan-la-toi-giet-nguoi/3505030.epi
[4] Bộ luật hình sự của Đức (Strafgesetzbuch - StGB) được thông qua lần đầu ngày 15/5/1871, có hiệu lực 1/1/1872, sửa đổi, bổ sung gần nhất ngày 6/12/2011, hiệu lực lần sửa đổi gần nhất từ ngày 14/12/2011.
[5] Nguyên văn Tiếng Đức: „§ 23 Strafbarkeit des Versuchs (2) Der Versuch kann milder bestraft werden als die vollendete Tat.“/ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 23 (2) An attempt may be punished more leniently than the completed offence”. Theo Điều 22 BLHS Đức hành vi phạm tội chưa đạt phải thỏa mãn hai điều kiện người thực hiện hành vi có lỗi cố ý trực tiếp (ein unmittelbares Ansetzen zur Verwirklichung des Tatbestands) và hậu quả không xảy ra là do nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan của người thực hiện hành vi đó (einen vorbehaltlosen Entschluss zur Verwirklichung des Tatbestandes).
[6] Nguyên văn Tiếng Đức: „§ 32 (1) Wer eine Tat begeht, die durch Notwehr geboten ist, handelt nicht rechtswidrig.“/ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 32 (1) A person who commits an act in self-defence does not act unlawfully”.
[7] Truy cập trang web chính thức của Bộ Tư pháp liên bang Đức (Bundesministerium der Justiz), ngày 21/2/2012, truy cập tại địa chỉ  http://www.gesetze-im-internet.de/stgb/index.html hoặc Cổng thông tin pháp luật Đức (Dejure) tại địa chỉ: http://dejure.org/gesetze/StGB (Tình trạng cập nhật văn bản luật (Gesetzesstand): 14/2/2012).
[8] Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 211 Mord (1) Der Mörder wird mit lebenslanger Freiheitsstrafe bestraft. (2) Mörder ist, wer aus Mordlust, zur Befriedigung des Geschlechtstriebs, aus Habgier oder sonst aus niedrigen Beweggründen, heimtückisch oder grausam oder mit gemeingefährlichen Mitteln oder um eine andere Straftat zu ermöglichen oder zu verdecken, einen Menschen tötet.“ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 211 - Murder under specific aggravating circumstances (1) Whosoever commits murder under the conditions of this provision shall be liable to imprisonment for life. (2) A murderer under this provision is any person who kills a person for pleasure, for sexual gratification, out of greed or otherwise base motives, by stealth or cruelly or by means that pose a danger to the public or in order to facilitate or to cover up another offence.
[9] Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 216 Tötung auf Verlangen (1) Ist jemand durch das ausdrückliche und ernstliche Verlangen des Getöteten zur Tötung bestimmt worden, so ist auf Freiheitsstrafe von sechs Monaten bis zu fünf Jahren zu erkennen. (2) Der Versuch ist strafbar”./ Dịch tham khảo Tiếng Anh:“Section 216 - voluntary euthasasia, assisted suicide (1) If a person is induced to kill by the express and earnest request of the victim the penalty shall be imprisonment from six months to five years. (2) The attempt shall be punishable”.
[10] Nguyên bản Tiếng Đức: “§ 212 Totschlag (1) Wer einen Menschen tötet, ohne Mörder zu sein, wird als Totschläger mit Freiheitsstrafe nicht unter fünf Jahren bestraft. (2) In besonders schweren Fällen ist auf lebenslange Freiheitsstrafe zu erkennen.“/  Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 212 Murder (1) Whosoever kills a person without being a murderer under section 211 shall be convicted of murder and be liable to imprisonment of not less than five years. (2) In especially serious cases the penalty shall be imprisonment for life”.
[11] Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 222 Fahrlässige Tötung - Wer durch Fahrlässigkeit den Tod eines Menschen verursacht, wird mit Freiheitsstrafe bis zu fünf Jahren oder mit Geldstrafe bestraft.“ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 222 Negligent homicide - Whosoever through negligence causes the death of a person shall be liable to imprisonment of not more than five years or a fine.
[12] Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 32 (1) Wer eine Tat begeht, die durch Notwehr geboten ist, handelt nicht rechtswidrig.“/ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 32 (1) A person who commits an act in self-defence does not act unlawfully”.

Saturday, February 18, 2012

DÂN CHỦ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TỪ GÓC ĐỘ CỦA KHỔNG TỬ


Ngô Thu Trang, 18-2-2012
Theo một vài nguồn tác giả thì thuật ngữ dân chủ có nguồn gốc đầu tiên từ Hy Lạp vào khoảng thế kỷ thứ 5 đến thứ 4 trước công nguyên với tên gọi là quyền lực nhân dân[1].
Nhưng theo tôi dấu hiệu của thuật ngữ dân chủ đã xuất hiện từ thời Nho giáo vào khoảng thế kỷ thứ 5 đến thứ 3 trước công nguyên. Và Nho giáo được  biết đến do công khai phát của Khổng Tử.
Thứ nhất, dân chủ hay được hiểu là dân làm chủ, người dân được tham gia công việc nhà nước, công việc chính trị. Theo như thuật ngữ ‘‘quân tử’’ của Khổng Tử thì có thể nhận định rằng dân chủ là điều tất yếu trong xã hội.
Sở dĩ như vậy vì theo như quan điểm ‘‘chính danh’’ của Khổng Tử thì quân tử không phải dùng để chỉ con vua hay người người giúp việc cho vua, mà quân tử dùng để chỉ những người có tài, có đức không phân biệt là quí tộc hay người bình dân.
Và trong thời Trung Hoa cổ đại thì xu hướng ‘‘nhân đạo chính vi đại’’ là chủ đạo, tức là mọi học thuyết triết học đều có xu hướng giải quyết các vấn đề chính trị[2]. Có nghĩa là vấn đề chính trị hay nói rõ hơn là nhu cầu cai trị đất nước luôn là mối quan tâm thường trực của các nhà triết học Trung Quốc cổ đại. Do đó người quân tử không phải ngoại lệ, họ có tài đức và đáng phải tham gia vào công việc quốc gia.
Do đó, chúng ta thấy được những người có tài đức, không phân biệt tầng lớp, đều được tham gia công việc quốc gia. Vấn đề đã được đặt ra, đó chính là những người dân bình thường, nhưng có tài đức há chi lại không được tham gia vào công việc quốc gia?
Vậy nên một phần biểu hiện của sự dân chủ đã được đề cập từ rất sớm ở thời Khổng Tử.
Thứ hai,  theo Khổng Tử công thức của nhà nước nhân bản là ‘‘Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ’’. Do đó việc đầu tiên là tu thân rồi cuối cùng mới đến công việc nhà nước. Vì thế một nhà nước muốn tạo điều kiện cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước ( dân chủ) trước tiên phải cho người dân no ấm, sau đó là dạy họ, giáo hóa họ. Đó chính là chính sách mà Khổng Tử đưa ra ở một nhà nước nhân bản: trước tiên dưỡng dân sau đó là an dân.
Do đó, khi nhìn vào một nhà nước dân chủ hiện đại, muốn hướng tới một nền dân chủ đúng nghĩa phải lấy con người làm trung tâm, phải chăm lo cho dân, cho dân no ấm. Sau đó mới nghĩ đến việc hướng người dân vào công việc nhà nước, dạy dân tham gia vào cai trị đất nước. Khi đó việc thực hiện dân chủ trong dân mới thực sự có chất lượng. Suy nghĩ này cũng từng được đặt ra, khi có sự tranh cãi nên có dân chủ trước hay phát triển kinh tế trước, theo tôi là xây dựng nền kinh tế trước sau đó mới xây dựng nền dân chủ đúng nghĩa.
Thứ ba, quan điểm của Khổng Tử là không coi trọng vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước cũng có cái đáng để học tập, ông không phủ nhận hoàn toàn pháp luật nhưng coi pháp luật là một công cụ bất đắc dĩ.
Theo ông: ‘‘Dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình phạt để đưa dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội, nhưng không biết hổ thẹn mà theo đường chính; dùng đức mà dẫn dắt dân, dùng lễ mà đưa dân vào khuôn phép thì dân có lòng hổ thẹn mà lại cố làm điều hay’’[3]
Liên hệ với thực tế hiện nay, sự sa sút của một số không nhỏ cán bộ nhà nước, đang là vấn đề Nhà nước ta quan tâm. Do đó, Nhà nước ta muốn cải cách, muốn đổi mới bộ máy thì phải nói đạo đức, nhân nghĩa thay vì đơn thuần nói pháp luật với nhau, có chăng nên đề cao đạo đức hơn là những hình phạt, nếu những hình phạt đôi khi không tương xứng với hành vi vi phạm. Khi mà xã hội hiện nay đạo đức con người đang xuống cấp trầm trọng. Mà theo Khổng Tử thì đó là những hành động của bản năng và đã là bản năng hành động thì không phải là người.
Kết luận:
Cũng như nhân quyền thì dân chủ đã xuất hiện từ rất sớm với nhiều hình thức và một vài dấu hiệu của dân chủ đã có từ thời Khổng Tử.
Một Nhà nước muốn có một nền dân chủ đúng nghĩa, việc đầu tiên là phải bảo đảm cuộc sống cho người dân, chính sách gì liên quan đến cuộc sống của dân phải được giải quyết trước tiên, rồi mới đến những chính sách khác.
Đạo đức phải được đề cao, có chăng trở thành một khẩu hiệu trong toàn tổ chức, trong toàn dân. Và không ai không hổ thẹn khi mà bị gọi là vô đạo đức, trong xã hội toàn người đạo đức.
< Cảm hứng viết của người viết: Do vừa mới học Lịch sử học thuyết chính trị, xem clip cắt cổ chủ tiệm vàng, mấy bài báo về Đòan Văn Vươn, đề tài dân chủ> =))))




[2] Thạc sĩ Bùi Ngọc Sơn, Các học thuyết chính trị Trung Quốc cổ đại, Giáo trình lịch sử các học thuyết chính trị,NxbĐHQGHN, tr 37
[3] Thạc sĩ Bùi Ngọc Sơn, Các học thuyết chính trị Trung Quốc cổ đại, Giáo trình lịch sử các học thuyết chính trị,NxbĐHQGHN, tr 85

Friday, February 17, 2012

Thực trạng, quan điểm và hướng sửa đổi các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam (Phần 1)


Thực trạng các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Hiến pháp năm 1992 dành 55 điều (Điều 3, 5, 6, 7, 10, 11, 12, 16, 18, 20, 22, 25, 28, 29, 32, 34, 35, 36, 40, 42, 44, 49, 50 - 82) quy định 11 nguyên tắc chung (có 6 nguyên tắc mới so với Hiến pháp năm 1980), 96 quyền cơ bản (có 33 quyền mới) và 43 nghĩa vụ cơ bản (có 15 nghĩa vụ mới) của công dân.
Hiến pháp năm 1992 dành 8 điều (Điều 25, 49, 50 – 52, 75, 81, 82) quy định 11 nguyên tắc. Cụ thể gồm: nguyên tắc pháp lý để một cá nhân được thừa nhận là công dân Nước CHXHCN Việt Nam (Điều 49); tôn trọng quyền con người (Điều 50 - mới); quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân (Điều 51); Nhà nước bảo đảm quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội (Điều 51); quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định (Điều 51 - mới); mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 52); Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (Điều 25 - mới); Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 75 - mới); người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam (Điều 81 - mới), Nhà nước Việt Nam bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam (Điều 81 - mới); Nhà nước Việt Nam xem xét việc cho cư trú đối với người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hòa bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại (Điều 82).
Các quy định về các quyền cơ bản của công dân Việt Nam nằm trong các Chương I, II, III và V của Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp năm 1992 đã dành 34 điều (Điều 3, 5, 6, 7, 11, 16, 18, 20, 28, 32, 49, 53 – 74, 77) quy định 96 quyền cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế và xã hội, trong đó có 33 quyền mới so với Hiến pháp năm 1980. Có 56 quyền được quy định một cách trực tiếp theo các công thức: chủ thể quyền + có quyền...; chủ thể quyền + động từ; hoặc chủ thể quyền + được. Và có 40 quyền được quy định một cách gián tiếp bằng nhiều phương thức khác nhau: hoặc chủ thể quyền + được Nhà nước, xã hội bảo đảm, giúp đỡ; hoặc định nghĩa khái niệm pháp lý...
Các quy định về quyền chính trị của công dân. Đối với mọi cá nhân công dân nói chung, tại 5 điều (các Điều 11, 49, 53, 74 và 77), Hiến pháp năm 1992 quy định 9 quyền chính trị, trong đó có 3 quyền mới. Đó là: làm chủ ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội (Điều 11), quyền có quốc tịch Việt Nam (Điều 49), tham gia quản lý Nhà nước và xã hội (Điều 53), thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương (Điều 53 - mới), kiến nghị với cơ quan Nhà nước (Điều 53 - mới), biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 53 - mới), khiếu nại (Điều 74), tố cáo (Điều 74) và bảo vệ Tổ quốc (Điều 77). Đối với những cá nhân công dân mang tư cách nhất định, Hiến pháp năm 1992 quy định 3 quyền trong 2 điều (Điều 7 và 54), đó là: quyền của cử tri bãi miễn ĐBQH và HĐND (Điều 7), của cử tri bầu ĐBQH và HĐND các cấp (Điều 54), của người đủ 21 tuổi trở lên ứng cử vào QH và HĐND (Điều 54). Về quyền chính trị của nhóm (tập thể) cá nhân công dân, Hiến pháp năm 1992 quy định quyền làm chủ của nhân dân (Điều 3) và quyền của nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua QH và HĐND (Điều 6).
Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định 32 quyền dân sự của cá nhân công dân trong 9 điều, trong đó có 9 quyền mới (các Điều 58, 60, 68 - 74), gồm: sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt (Điều 58); được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt (Điều 58); thừa kế (Điều 58); được Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế (Điều 58); quyền tác giả (Điều 60); được Nhà nước bảo hộ quyền tác giả (Điều 60 - mới); quyền sở hữu công nghiệp (Điều 60) và được Nhà nước bảo hộ quyền này (Điều 60 - mới); tự do đi lại ở trong nước (Điều 68), cư trú ở trong nước (Điều 68), ra nước ngoài (Điều 68 - mới) và từ nước ngoài về nước (Điều 68 - mới); tự do ngôn luận (Điều 69), báo chí (Điều 69); được thông tin (Điều 69 - mới); hội họp (Điều 69); lập hội (Điều 69); biểu tình (Điều 69); tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 70); được Nhà nước bảo hộ những nơi thờ tự (Điều 70 - mới); bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 71); được pháp luật bảo hộ về tính mạng (Điều 71); được pháp luật bảo hộ về sức khỏe (Điều 71 - mới), danh dự (Điều 71), nhân phẩm (Điều 71); được suy đoán vô tội (Điều 72 - mới); được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự khi bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật (Điều 72 - mới); bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 73); được bảo đảm an toàn và bí mật về thư tín (Điều 73); được bảo đảm an toàn và bí mật về điện thoại (Điều 73), điện tín (Điều 73); được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự của người bị thiệt hại bởi hành vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang hoặc bất cứ cá nhân nào (Điều 74).
Hiến pháp năm 1992 dành 8 điều (Điều 3, 16, 18, 20, 28, 55, 57, 58) quy định 14 quyền kinh tế của công dân (có 12 quyền mới). Các quy định này phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN ở nước ta. Đối với mọi cá nhân công dân, có quyền: quyền được sản xuất, kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm (Điều 16 - mới); được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật (Điều 18 - mới); chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh (Điều 20 - mới); thành lập doanh nghiệp (Điều 20 - mới); lao động (Điều 55); tự do kinh doanh (Điều 57 - mới); sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác và được Nhà nước bảo hộ quyền này (Điều 58 - mới); sở hữu tư nhân đối với vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác (Điều 58 - mới) và được Nhà nước bảo hộ quyền này (Điều 58 - mới). Đối với cá nhân công dân mang tư cách nhất định, có quyền: quyền của người sản xuất được Nhà nước bảo hộ quyền lợi (Điều 28 - mới) và quyền của người tiêu dùng được Nhà nước bảo hộ quyền lợi (Điều 28 - mới). Về các nhóm (tập thể) công dân, có quyền: quyền của nhân dân làm chủ về kinh tế (Điều 3) và của tổ chức thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm (Điều 16 - mới).
Các quy định về quyền văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ của công dân. Tại 4 điều (Điều 5, 32, 59 và 60), Hiến pháp năm 1992 tiếp tục quy định 11 quyền của công dân về văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ, trong 7 quyền đã được quy định trong Hiến pháp 1980, 4 quyền mới được bổ sung. Đối với mọi cá nhân công dân nói chung, Hiến pháp năm 1992 quy định các quyền: học tập (Điều 59); nghiên cứu khoa học (Điều 60); nghiên cứu kỹ thuật (Điều 60); phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất (Điều 60 - mới); sáng tác văn học (Điều 60); sáng tác nghệ thuật (Điều 60), phê bình văn học (Điều 60 - mới); phê bình nghệ thuật (Điều 60 - mới); tham gia các hoạt động văn hóa khác (Điều 60). Hiến pháp năm 1992 còn quy định quyền của các dân tộc được dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình (Điều 5) và của nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị (Điều 32 - mới).
Hiến pháp năm 1992 dành 8 điều (Điều 56, 61 - 67) quy định 25 quyền xã hội của công dân (có 5 quyền mới). Đối với công dân nói chung, có các quyền: được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe (Điều 61); xây dựng nhà ở (Điều 62 - mới); cho thuê nhà (Điều 62 - mới); thuê nhà (Điều 62 - mới); được Nhà nước bảo hộ đối với người thuê nhà (Điều 62 - mới); được Nhà nước bảo hộ đối với người có nhà cho thuê (Điều 62 - mới); bình đẳng nam nữ (Điều 63); được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình (Điều 64). Về công dân trong những tư cách nhất định, Hiến pháp năm 1992 quy định các quyền của viên chức nhà nước được nghỉ ngơi (Điều 56), được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (Điều 56); của người lao động làm công ăn lương được nghỉ ngơi (Điều 56) và được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (Điều 56); quyền của lao động nữ được hưởng chế độ thai sản (Điều 63). Đối với một số công dân trong hoàn cảnh đặc biệt, có quyền: quyền của nữ viên chức nhà nước và nữ làm công ăn lương được nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương (Điều 63). Đặc biệt, Hiến pháp 1992 quy định quyền của một số công dân được hưởng chế độ ưu đãi và chế độ khen thưởng, chăm sóc đặc biệt của Nhà nước – đó là: thương binh, bệnh binh được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước, trong đó đối với bệnh binh là quyền mới (Điều 67); người có công với nước được Nhà nước khen thưởng, chăm sóc (Điều 67). Đối với công dân thuộc nhóm người cần được Nhà nước, xã hội quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ hơn hoặc trong tình trạng yếu thế, dễ bị tổn thương, có quyền của trẻ em được gia đình, Nhà nước, xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (Điều 65); thanh niên được gia đình, Nhà nước, xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí... (Điều 66); người già được Nhà nước và xã hội giúp đỡ (Điều 67); người tàn tật được Nhà nước và xã hội giúp đỡ (Điều 67); trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ (Điều 67). Đối với nhóm (tập thể) cá nhân công dân, Hiến pháp năm 1992 quy định quyền của gia đình liệt sỹ được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước (Điều 67) và quyền của gia đình có công với nước được Nhà nước khen thưởng, chăm sóc (Điều 67).
Hiến pháp năm 1992 dành 21 điều (Điều 10, 11, 12, 18, 22, 29. 34 – 36, 40, 42, 44, 55, 59, 61, 64, 76 - 80) quy định 44 nghĩa vụ của công dân, tổ chức của công dân, trong đó có15 nghĩa vụ mới. Đối với công dân nói chung, có: bảo vệ của công (Điều 11); bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân (Điều 11 - mới); giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội (Điều 11); tổ chức đời sống cộng đồng (Điều 11); chấp hành Hiến pháp và pháp luật (Điều 12); đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác (Điều 12); bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất (Điều 18); sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường (Điều 29); bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em (Điều 40 - mới); thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình (Điều 40 - mới); thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh (Điều 44); lao động (Điều 55); học tập (Điều 59); thực hiện vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng (Điều 61 - mới); trung thành với Tổ quốc (Điều 76); bảo vệ Tổ quốc (Điều 77); tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng (Điều 78); tuân theo pháp luật (Điều 79); bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều 79); giữ gìn bí mật quốc gia (Điều 79); chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 79); đóng thuế (Điều 80); lao động công ích (Điều 80). Về nghĩa vụ của công dân mang tư cách nhất định, có: cha mẹ nuôi dạy con thành những công dân tốt (Điều 64); con cháu kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ (Điều 64). Hiến pháp năm 1992 dành 10 điều (Điều 10, 18, 22, 29, 34 – 36, 40, 42, 44) quy định 17 nghĩa vụ của nhóm (tập thể, tổ chức, cộng đồng) công dân, trong đó có 11 nghĩa vụ mới. Đó là: Công đoàn chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 10); tổ chức có nghĩa vụ bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất (Điều 18); các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước (Điều 22 - mới); tổ chức kinh tế phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường (Điều 29); tổ chức xã hội thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường (Điều 29 - mới); xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hóa, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh (Điều 34 - mới); xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, bồi dưỡng nhân cách (Điều 35 - mới); tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, gia đình giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, trong đó đối với tổ chức kinh tế là quyền mới (Điều 36); xã hội bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em (Điều 40 - mới); gia đình bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em (Điều 40 – mới); xã hội thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình (Điều 40 – mới); gia đình thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình (Điều 40 – mới); xã hội phát triển du lịch, mở rộng hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế (Điều 42 – mới); tổ chức kinh tế thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định (Điều 44 – mới); tổ chức xã hội thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định (Điều 44).
Có thể nói, Hiến pháp năm 1992 – Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế - đã có bước tiến lớn trên con đường phát triển và hoàn thiện các quy định hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý vững chắc vừa để bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam, vừa là công cụ pháp lý hữu hiệu để giáo dục, nhắc nhở và nâng cao ý thức trách nhiệm của công dân và của Nhà nước trong việc thực hiện các quy định hiến pháp đó ở Việt Nam hiện nay.
Từ những trình bày ở trên có thể rút ra mấy nhận xét. Về ưu điểm, một là, các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con người và quyền của công dân Việt Nam hoàn toàn phù hợp với các văn bản mang tính tuyên bố và mang tính pháp lý của Liên Hợp Quốc về quyền con người và với chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người, quyền của công dân Việt Nam, nhất là trong bối cảnh đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.
Hai là, số lượng về điều luật, các nguyên tắc chung, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (trong đó có số lượng nguyên tắc chung mới, các quyền và nghĩa vụ mới của công dân) tăng lên so với các Hiến pháp trước: từ 16 điều, 4 nguyên tắc chung, 27 quyền, 4 nghĩa vụ (trong Hiến pháp năm 1946) tới 32 điều, 5 nguyên tắc chung (có hai nguyên tắc mới), 50 quyền (có 31 quyền mới) và 12 nghĩa vụ (có 9 nghĩa vụ mới) của Hiến pháp năm 1959; đến 44 điều, 7 nguyên tắc chung (có 3 nguyên tắc mới), 71 quyền (có 35 quyền mới), 35 nghĩa vụ (có 26 nghĩa vụ mới) trong Hiến pháp năm 1980 và tới 55 điều, 11 nguyên tắc chung (có 6 nguyên tắc mới), 96 quyền (có 33 quyền mới), 43 nghĩa vụ (có 15 nghĩa vụ mới) của Hiến pháp năm 1992. Sự gia tăng này chứng tỏ quyền con người, quyền cơ bản của công dân ngày càng được ghi nhận, mở rộng và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng ngày một nhiều hơn.
Ba là, so với các Hiến pháp trước, quyền và nghĩa vụ Hiến định của công dân đa dạng, phong phú hơn về chủng loại (các quyền, nghĩa vụ về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội) và về chủ thể (quyền và nghĩa vụ của mọi cá nhân công dân nói chung, của các cá nhân công dân mang những tư cách hay trong hoàn cảnh nhất định và của các nhóm công dân). Điều đó, một mặt, thể hiện sự quan tâm ngày càng đầy đủ hơn của Nhà nước đối với các quyền và lợi ích chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân; mặt khác, cũng nói lên sự đòi hỏi ngày càng lớn của Nhà nước đối với trách nhiệm của người dân khi họ được hưởng những quyền và lợi ích đó.
Bốn là, các quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 so với các Hiến pháp trước có tính hiện thực (tính khả thi) hơn bằng các quy định của Hiến pháp về nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước cho các quyền ấy. Điều đó vừa thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm ngày càng tăng của Nhà nước đối với đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, vừa phản ánh sự phát triển ngày càng cao của xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Về nhược điểm, thứ nhất, nếu tính từ năm 1992 – năm ban hành Hiến pháp hiện hành đến nay đã trải qua 20 năm, xã hội Việt Nam và thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc về mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; trình độ phát triển của xã hội Việt Nam ngày càng cao; nhu cầu và lợi ích chính đáng của con người ngày càng phong phú, đa dạng cần được đáp ứng, thế nhưng những biến đổi đó chưa được phản ánh trong Hiến pháp năm 1992 và các nhu cầu, lợi ích đó chưa được nâng lên thành các quyền hiến định.
Thứ hai, giống như Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980, các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam không được tập trung trong một chương mà nằm rải rác trong nhiều chương. Điều đó gây trở ngại cho việc theo dõi, nghiên cứu và thực hiện.
Thứ ba, nội dung và hình thức của Chương V – chương chuyên biệt về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân - không tương xứng nhau và việc xếp đặt các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân chưa thật khoa học.
Thứ tư, còn có khá nhiều điều quy định về quyền của công dân Việt Nam không có nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước kèm theo, làm cho các điều luật này mang tính tuyên ngônnhiều hơn tính hiện thực. Bên cạnh đó, cũng có không ít các quy định về nghĩa vụ của công dân không kèm theo quyền của Nhà nước được áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện, làm cho các quy định này không có hiệu lực cao.
Thứ năm, có không ít quyền của công dân được quy định một cách gián tiếp thông qua việc quy định nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước đối với quyền công dân hoặc bằng các định nghĩa khái niệm pháp lý; còn tình trạng một điều luật quy định nhiều nghĩa vụ của công dân, hoặc vừa quy định quyền vừa quy định nghĩa vụ của công dân; lời văn trong một số điều luật còn dài dòng.
(Còn nữa)
Pgs.Ts Nguyễn Văn Động

CON HÁT MẸ KHEN HAY VÀ THÔNG ĐIỆP CẦN VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH

Lấy từ blog Nguyễn Minh Tuấn
link  http://tuanhsl.blogspot.com/ 

CON HÁT MẸ KHEN HAY VÀ THÔNG ĐIỆP CẦN VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH


Thí sinh Quỳnh Anh và phụ huynh. Ảnh: Vietnamgottalent.info
Tài năng đích thực hay chỉ là con hát mẹ khen hay?

Chương trình giải trí trên truyền hình có tên Vietnam‘s got Talent đang thu hút được sự chú ý của dư luận. Sau khi chương trình tuần vừa qua khép lại, đã có rất nhiều người bàn luận về tiết mục biểu diễn của thí sinh Quỳnh Anh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sẽ chẳng có gì đáng để „ồn ào“ như thế, nếu như chỉ thuần túy là việc dự thi và không được lựa chọn để đi tiếp vào vòng sau. Tuy nhiên trường hợp „không được lựa chọn“ này lại không bình thường như những trường hợp khác.

Điều không bình thường là trước khi bước lên sân khấu, người mẹ và cả gia đình của thí sinh Quỳnh Anh đã hết lời ca ngợi tài năng của em, rằng em  "quá có năng khiếu“, "quá tài năng", "đỉnh của đỉnh". Tuy nhiên, sau khi thể hiện, cả khán giả và Ban giám khảo mới thấy sự thật rằng tài năng thực sự của thí sinh đã không hoàn toàn giống như những gì gia đình ca ngợi trước đó. Nhạc sĩ Huy Tuấn đã nhận xét: "chất giọng của Quỳnh Anh có thể gặp bất cứ nơi đâu, kĩ thuật chưa thật hoàn hảo, những nốt lên cao còn rất nhiều hạn chế."

Điều khiến khán giả thất vọng ở đây không phải với thí sinh dự thi Quỳnh Anh, một cô bé chỉ mới 15 tuổi, mà thất vọng, bất bình với hành động của người mẹ. Sau khi có những lời nhận xét và kết quả không đồng ý đi tiếp vào vòng sau của Ban giám khảo, mẹ của thí sinh đã cầm micro, lên tiếng phát biểu ngay trên sân khấu để "bảo vệ" con mình. Bà cho rằng thí sinh Quỳnh Anh đã trình bày rất tốt, không có lỗi nào, rằng con gái bà thực sự có tài, hơn nhiều thí sinh khác và có ý phê bình Ban giám khảo đã không cho Quỳnh Anh một cơ hội (?!).

Việc người mẹ này dám đứng lên bảo vệ con thực chất không có gì là sai, nếu như lập luận bà đưa ra là đúng và đủ sức thuyết phục. Tuy nhiên, trong một cuộc thi, thí sinh có tài hay không, tài đến mức độ nào, muốn khách quan, công bằng quan trọng nhất là phải để công luận và những người có chuyên môn đánh giá. Tất cả những việc người mẹ làm chỉ cho thấy một điều rõ nhất rằng những gì bà ca ngợi con mình và tài năng thực sự của cô bé đã thể hiện trên sân khấu là khác nhau quá xa.

Điều rất đáng buồn là hiện nay có khá nhiều vị phụ huynh vẫn ngộ nhận về khả năng thực sự của con cái mình để chạy theo một thứ thành tích ảo như thế. Trên đời có người mẹ nào mà không yêu con, thương con. Nhưng yêu thương không phải là đánh giá con một cách mù quáng, cao quá mức so với khả năng thực sự của con, mà phải rèn luyện cho con tinh thần dũng cảm, dám nhìn thẳng vào sự thật, nhìn thẳng vào những điểm còn hạn chế của con mình, động viên con khiêm tốn, tiếp tục cố gắng học hỏi và dần hoàn thiện, chứ không phải áp đặt ý muốn của mình. Làm như thế, thực tế là...đang làm hại con mình.

„Hơn gấp vạn lần dân chủ tư sản“

Khép lại chuyện „con hát mẹ khen hay“, nhìn vào thực tế xã hội ta sẽ thấy có muôn vàn những cách suy nghĩ, cách làm tương tự như thế của những người được coi là „người lớn“, "người có học", thậm chí cả những người hiện đang giữ những trọng trách quan trọng trong bộ máy nhà nước. Điều này khiến cho rất nhiều người trong chúng ta không khỏi phải day dứt, suy nghĩ.

Dường như ai cũng biết, so với nhiều nước, nước ta vẫn là một nước nghèo, chúng ta hiện đang thua kém họ ở nhiều phương diện. Nhẽ ra cần phải biết mình, biết người, mà phấn đấu, vậy mà trong một bài viết gần đây đăng trên Báo nhân dân, ngày 5/11/2011, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan lại khẳng định rằng: "Nhà nước ta đang phát triển lên tầm cao mới, khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản…"

Bà Nguyễn Thị Doan, Ảnh: Tuổi trẻ

Như đã đề cập về phần thi của thí sinh Quỳnh Anh, việc đánh giá em có tài thực sự hay không thì phải căn cứ vào sự thể hiện của em trên sân khấu, sự đánh giá của Ban giám khảo, cũng như ngàn vạn khán giả theo dõi, chứ không phải chỉ nghe một phía từ người mẹ hay gia đình em.  

Cũng tương tự vậy, vấn đề nước ta có dân chủ thực sự hay không và dân chủ ở mức độ nào thì phải dựa trên những căn cứ, tiêu chí cụ thể và được đánh giá một cách khách quan từ phía bên ngoài, tức là bởi những người dân trong nước và dư luận quốc tế, chứ không phải chỉ dựa vào kết luận chủ quan, cảm tính, một chiều của những người lãnh đạo 

Như khẳng định của bà Doan, không rõ "dân chủ" mà bà nói là dân chủ gì, „tầm cao mới“ ấy là tầm cao nào mà có khả năng cao „gấp vạn lần dân chủ“ của những nước tư bản ngày nay? Tất nhiên, bà Phó chủ tịch nước có thể nói, có thể viết, có thể đưa ra quan điểm riêng, đó là quyền của bà. Tuy nhiên, khi bà đưa ra nhận định, muốn thuyết phục được người khác, bà phải dựa trên lý lẽ và có nghĩa vụ chứng minh những gì mình nói là đúng sự thật. 

Phó chủ tịch nước đã nói thì chắc không phải chuyện chơi. Vậy thì liệu bà Phó chủ tịch nước có thể chứng minh bằng những chứng cứ cụ thể, thuyết phục với nhân dân cả nước và với các nước trên thế giới rằng Việt Nam ta đang có „dân chủ cao hơn gấp vạn lần“ các nước tư bản như Anh, Đức, Mỹ, Nhật, Pháp hiện nay không? Chúng tôi – những người dân luôn sẵn sàng lắng nghe bà tiếp tục trình diễn phần thi "chứng minh Việt Nam có dân chủ cao hơn gấp vạn lần" các nước tư bản hiện nay của mình. 

Người dân sẽ tiếp tục xem bà trình diễn, nhưng mong bà đừng giống như người mẹ của thí sinh Quỳnh Anh trong cuộc thi Vietnam’s got Talent tuần vừa rồi, trình diễn xong, khán giả lại „ồ lên" rõ to...ồ lên không phải vì sung sướng, mà là...tràn đầy thất vọng.

Dũng cảm nhìn lại và tự sửa mình

Dù gì thì chương trình Vietnam’s got Talent cũng chỉ là một cuộc chơiCuộc chơi nào, ánh hào quang nào, ồn ào mấy rồi cũng sẽ khép lại. Con đường phía trước của Quỳnh Anh còn rất dài, sự việc vừa rồi có thể khiến em phần nào bị tổn thương, nhưng tôi nghĩ ban giám khảo đã quyết định đúng và quyết định đó là cần thiết cho em, vì hi vọng qua những lời nhận xét của Ban giám khảo, của mọi người, Quỳnh Anh sẽ tĩnh tâm nhìn lại mình, xem xét lại cách mình được giáo dục để trưởng thành hơn. Với nhiều người có thể em hát chưa thật hay, nhưng em hãy tiếp tục khám phá khả năng của bản thân, tiếp tục cố gắng với những đam mê thật sự của mình, em vẫn có nhiều cơ hội để thành công.

Với nhiều vị phụ huynh, con cái dù có lớn đến đâu trong mắt họ vẫn chỉ là những đứa trẻ. Cách suy nghĩ ấy đến nay cần phải thay đổi. Khi con đã lớn, bố mẹ cần phải luôn tin tưởng và động viên con hướng tới những điều tốt đẹp, cho con quyền tự quyết định và tự chịu trách nhiệm dần về việc mình làm. Khi đã trưởng thành, điều đáng quí nhất của người con là có chính kiến riêng của mình, không ngại khó, ngại khổ để vươn tới những điều mà mình cho là tốt đẹp.  

Đối với nhà nước cũng vậy, đã qua rồi thời kì dù sai hay đúng nhà nước nói gì dân cũng tin, qua rồi thời chính quyền có thể "ru ngủ" nhân dân bằng những từ ngữ mĩ miều, đẹp đấy nhưng không hề có thật. 

Tự do, dân chủ không bao giờ là quà tặng từ trên trời rơi xuống, những điều hay ho đó chỉ có được khi người dân nhìn nhận ra những sai trái, bất công, dám lên tiếng, đấu tranh, bảo vệ những quyền căn bản, những giá trị sống của mình.

Người dân Myanmar chào đón sự trở lại của bà Aung San Suu Kyi. Người phụ nữ Châu Á đấu tranh cho Nhân Quyền nổi tiếng nhất thế giới hiện nay. Ảnh:  ABC

Cô bé Quỳnh Anh sẽ lại ngoan ngoãn nghe theo lời mẹ bất luận đúng sai HAY qua cuộc thi này em sẽ trưởng thành hơn, sẽ mạnh mẽ hơn mà suy nghĩ độc lập, quyết định tương lai và sự thành công theo cách của mình? Câu trả lời là ở phía em. Điều này cũng giống với một dân tộc, nếu không nhìn ra bên ngoài, không nhìn thẳng vào những hạn chế, yếu kém của mình mà dũng cảm sửa đổi, dân tộc ấy sẽ mãi chìm đắm một cách êm ái trong lạc hậu, đói nghèo. Thời nay dân chủ có được hay không, đó không phải chỉ là việc của chính quyền nữa rồi, giờ đã đến lúc phải suy nghĩ khác, làm khác, người dân phải tự quyết định lấy vận mệnh, nếu như muốn có một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân mình và con cháu mai sau. 

NMT

Monday, February 13, 2012

Suy nghĩ ...

Hôm nay Hạnh ''phó'' hỏi mình rằng, cái gì đánh cắp được trái tim?

Đơn giản thôi chỉ có trái tim mới đánh cắp được trái tim. 

Tại sao lại vậy? Đơn giản là vì chỉ có trái tim mới hiểu ngôn ngữ riêng của nó.

Vậy hóa ra là cái gì cũng có ngôn ngữ riêng của nó hay sao?

Đúng vậy. Xung quanh chúng ta vạn vật đều có ngôn ngữ riêng của nó, loài người cũng có ngôn ngữ riêng, loài chim cũng có ngôn ngữ riêng, những người cùng quốc gia cũng có ngôn ngữ riêng, những người cùng chung sống trong 1 gia đình cũng có ngôn ngữ riêng...Chúng ta dường như đã áp đặt thứ ngôn ngữ riêng đó của những người khác là ngôn ngữ của chính mình và mình cũng có thể hiểu. Sai rồi, không bao giờ có thể hiểu được đâu!

Tuy nhiên như ví dụ ở trên trái tim mới đánh cắp được trái tim, cũng tức là cũng có những người cùng chung ngôn ngữ.

Nhưng tại sao họ lại có chung ngôn ngữ? Phải chăng họ là những con người bản sao, những con người giống nhau như đúc?

Sai rồi! Chả ai giống ai cả, cũng chả có bản sao nào y như đúc trên thế giới này.

Cái chính là những người có chung ngôn ngữ họ cũng xuất phát điểm là từ những người không cùng ngôn ngữ mà thôi. Nhưng họ đã gắn kết và trao đổi với nhau, bù đắp cho nhau để hiểu được rằng ngôn ngữ của người khác, không đơn thuần là cái lập dị của người khác, mà nó cũng chính là  thứ ngôn ngữ mà mình đang cần, thứ ngôn ngữ mà mình đang tìm kiếm...

Vậy nên hai trái tim lạc nhịp, đã hòa chung một nhịp chỉ đơn giản là hai trái tim sinh ra đã hẹn ngày gặp lại...