Nguyễn Minh Tuấn
Một nội dung quan trọng của Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới là vấn đề Lịch sử nhà nước và pháp luật Phương Đông và Phương Tây thời cổ đại. Đây là một giai đoạn hình thành những nhà nước, những sản phẩm pháp điển hóa đầu tiên, mà hình thức cũng như nội dung của chúng ảnh hưởng lớn đến thời trung đại và cận, hiện đại sau này trong một chiều dài lịch sử phát triển. Vấn đề quan trọng là sau khi nghiên cứu từng nhà nước điển hình ở hai khu vực này, sinh viên phải chỉ ra được những đặc điểm cơ bản, những điểm giống và khác, cũng như cơ sở tạo nên sự tương đồng và khác biệt ấy dưới góc nhìn của nhà luật học. Phần tổng hợp dưới đây chỉ dừng lại ở mức nêu vấn đề để những bạn sinh viên quan tâm khi có điều kiện tiếp tục cùng tìm hiểu, nghiên cứuchứ không làm thay những gì các bạn phải làm. Chớ vội "copy + paste" các nội dung này rồi nhân bản thành các bài tiểu luận hoặc bài kiểm tra na ná giống nhau, điều này là vô ích vì những vấn đề chính cần phải giải thích làm rõ, tác giả về cơ bản đã không/ chưa giải đáp mà nêu thành câu hỏi, để trong dấu ngoặc vuông, chữ màu xanh. Hi vọng những câu hỏi này phần nào sẽ kích thích các bạn sinh viên tư duy, thậm chí phản biện lại và rút ra những cơ sở lý luận cũng như những bài học kinh nghiệm cho hiện tại.I. PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
Thuật ngữ "Phương Đông" ban đầu từ quan niệm của người phương Tây. Người Châu Âu luôn coi mình là trung tâm nên Phương Đông là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ khu vực Châu Á nằm ởPhía đông của Phương Tây và được chia thành Cận Đông, Trung Đông và Viễn Đông.
Đến nay trong giới khoa học giới hạn địa lý của Phương Đông đến đâu vẫn chưa hoàn toàn thống nhất. Do vậy, mỗi khi bàn đến Phương Đông thông thường người ta hay đưa ra một khung không gian cụ thể để định vị đối tượng mà người ta muốn nói. Các nhà sử học của Việt Nam hầu như tương đối thống nhất với ý kiến cho rằng phạm vi không gian phương Đông có tầm ảnh hưởng lớn đến Việt Nam là hai vùng Đông Bắc Á (mà nhiều người còn gọi là Đông Á) và Đông Nam Á. [Tìm trên bản đồ và xác định khu vực Đông Á và Đông Nam Á hiện nay gồm những quốc gia nào?]
Những nhà nước ra đời sớm ở Phương Đông thời cổ đại là Ai cập cổ đại, Lưỡng Hà cổ đại, Ấn Độ cổ đại và Trung Quốc cổ đại [Tìm trên bản đồ vị trí địa lý tương ứng? Khu vực này ngày nay là những quốc gia nào?]. Đây là những nhà nước ra đời sớm cả về thời gian và không gian, xuất phát từ đặc điểm đặc thù về tự nhiên, kinh tế, xã hội.
Khái niệm Phương Tây được hiểu là Châu Âu. Các nhà nước cổ đại ở Phương Tây tiêu biểu là các nhà nước Hy Lạp và La Mã. Về địa lý, hai nhà nước này được hình thành chủ yếu trên 2 bán đảo là bán đảo Ban căng và bán đảo Italia (ngoài ra còn có các đảo nhỏ khác). Hai bán đảo này đều nhìn ra Địa Trung Hải, đối diện với các nước Tây Á. [Tìm trên bản đồ vị trí địa lý tương ứng? Khu vực này hiện nay là lãnh thổ của những quốc gia nào?].
Về mặt thời gian, khái niệm thời cổ đại được hiểu theo từng nhà nước, từng khu vực khác nhau. Ví dụ: Nhà nước Lưỡng Hà cổ đại tồn tại từ khoảng 4000 năm TCN đến năm 539 TCN chế độ xã hội này bị đế quốc Ba Tư xâm lược và diệt vong. Nhà nước Ấn Độ cổ đại tồn tại từ khoảng 2000 năm TCN đến cuối thế kỷ 3 TCN. Ở Phương Tây, nhà nước La Mã cổ đại ra đời muộn hơn vào khoảng thế kỷ 6 TCN và tồn tại đến năm 476 SCN khi đế quốc La Mã bị diệt vong.
II. NHỮNG NÉT TƯƠNG ĐỒNG CƠ BẢN
1. Về nhà nước
- Về bản chất: theo học thuyết Mác - Lênin, quyền lực chính trị trong các nhà nước ở Phương Đông và Phương Tây cổ đại thuộc về giai cấp chủ nô. Cơ cở kinh tế của nhà nước là dựa trên chế độ chiếm hữu của chủ nô đối với toàn bộ tư liệu sản xuất và nô lệ. Cơ sở xã hội là một hệ thống kết cấu giai cấp khá phức tạp trong đó về cơ bản có hai giai cấp chủ nô và nô lệ [Tiếp tục nghiên cứu và phân tích những quan điểm khoa học không phải theo học thuyết Mác - Lênin về vấn đề này? Nhận xét, đánh giá?].
- Về chức năng: Hoạt động chủ yếu của nhà nước thời kỳ này là bảo vệ, củng cố chế độ sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất, tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thờiphòng thủ, bảo vệ đất nước và tiến hành các hoạt động ngoại giao, buôn bán với các quốc gia khác [Ngoài những chức năng trên nhà nước Phương Đông cổ đại còn có những chức năng nào khác? Nêu dẫn chứng?].
- Về hình thức nhà nước: Trước hết xét về hình thức chính thể thì các nhà nước ở Phương Đông cổ đại được tổ chức theo chính thể quân chủ chuyên chế chủ nô với các mức độ tập trung quyền lực khác nhau (Ví dụ: Trung Quốc cổ đại, Ấn Độ cổ đại, Ai cập cổ đại, Lưỡng Hà cổ đại). Ở Phương Tây cổ đại, các nhà nước được tổ chức chủ yếu theo chính thể quân chủ và cộng hòa chủ nô [Vì sao hình thức chính thể cộng hòa lại xuất hiện ở Phương Tây?]. Các nhà nước cộng hòa chủ nô tồn tại dưới hai dạng thức là cộng hòa dân chủ chủ nô và cộng hòa quý tộc chủ nô (Ví dụ nhà nước Xpác (nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô); nhà nước Aten (nhà nước dân chủ chủ nô); nhà nước La mã (cộng hoà và quân chủ chuyên chế). Hình thức cấu trúccơ bản của nhà nước chủ nô là cấu trúc đơn nhất, tuy nhiên ở Phương Tây xuất hiện các nhà nước thành bang có tính tự trị cao [Giải thích?]. Chế độ chính trị phổ biến thời kỳ này là chế độ độc tài chuyên chế với việc áp dụng công khai các biện pháp thực hiện quyền lực nhà nước bằng bạo lực và phản dân chủ, tuy nhiên cũng có nhà nước áp dụng những biện pháp dân chủ sơ khai, điển hình như thiết chế Hội nghị công dân, việc bỏ phiếu bằng vỏ sò ở nhà nước Aten ở Hy Lạp cổ đại.
- Về tổ chức bộ máy nhà nước: Bộ máy nhà nước ở cả Phương Đông và Phương Tây đã bao gồm các cơ quan chuyên trách với chức năng, nhiệm vụ khác nhau và trong bộ máy đều có một bộ phận quan trọng là các cơ quan quản lý về quân sự, cảnh sát [Nêu rõ tên những cơ quan nhà nước cụ thể? Nhận xét?].2. Về pháp luật- Về tính giai cấp và giá trị xã hội của pháp luật
Pháp luật (hiểu theo nghĩa hẹp là những Bộ luật thành văn) thường ra đời muộn hơn nhiều thời điểm xuất hiện nhà nước [Dẫn chứng? Thời gian, địa điểm?]. Theo học thuyết Mác - Lênin, thời kỳ nào và ở đâu thì pháp luật về cơ bản cũng thể hiện và bảo vệ lợi ích trước hết của giai cấp thống trị và thời cổ đại cũng không phải ngoại lệ. Thời kỳ này bản chất pháp luật là pháp luật chủ nô có mục đích thiết lập một trật tự xã hội có lợi cho giai cấp chủ nô. Ngoài tính giai cấp, pháp luật chủ nô cũng có vai trò xã hội quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ kinh tế - xã hội. Tính xã hội của nhà nước cũng như pháp luật ở Phương Đông trong một chừng mực nhất định còn có trước và tỏ ra trội vượt hơn cả tính giai cấp. Ví dụ: Ở phần mở đầu của Bộ luật, Hammurabi tuyên bố: “Vì hạnh phúc của loài người, thần Anu và thần Enlin đã ra lệnh cho trẫm – Hammurabi, một vị quốc vương quang vinh và ngoan đạo, vì chính nghĩa, diệt trừ những kẻ gian ác không tuân theo pháp luật, làm cho kẻ mạnh không hà hiếp người yếu, làm cho trẫm giống như thần Samát sai xuống dân đen, tỏa ánh sáng khắp muôn dân.” Hoặc ở phần kết của Bộ luật, Hammurabi khẳng định lại mục đích của Bộ luật: “Để cho kẻ mạnh không hà hiếp kẻ yếu; để cho những người cô quả có thể nương tựa ở thành Babilon…; để cho sự tuyên án trong nước tiện việc quyết định; để cho những kẻ thiệt thòi được trình bày lẽ phải…Nếu kẻ nào thi hành triệt để bộ luật này thì sẽ được các thần phù hộ, trái lại nếu người nào không nghiêm chỉnh thi hành hoặc sửa đổi bộ luật thì sẽ bị thần linh trừng phạt”. [Nêu thêm các ví dụ khác để chứng minh: tính xã hội của nhà nước cũng như pháp luật trong lịch sử ở Phương Đông ở một chừng mực nhất định còn có trước và tỏ ra trội vượt hơn cả tính giai cấp?].
- Bảo vệ chế độ chiếm hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệ, hợp pháp hóa các hình thức bóc lột của chủ nô đối với nô lệ.
Pháp luật ghi nhận và bảo vệ chặt chẽ quyền tư hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất được thể hiện trong Bộ Luật Hammurabi, Luật 12 Bảng ở La Mã sơ kỳ nền cộng hòa, Bộ pháp điển Corpus iuris Civilis của Hoàng đế Justinian. Cụ thể pháp luật nhiều nước thời kỳ này cho phép tra tấn, giam cầm con nợ để yêu cầu trả nợ. Các hành vi mua bán, chuyển nhượng tài sản của chủ tư hữu cũng được pháp luật nhiều nước quy định chặt chẽ nhằm tránh sự lừa dối, gian lận làm phương hại đến quyền tư hữu (Ví dụ: Điều 2 Bảng III Luật 12 Bảng qui định: „Người chủ nợ có thể cầm tay con nợ và đưa con nợ đến Tòa. Nếu con nợ không trả được nợ theo phán quyết của Tòa và cũng không có ai bảo lãnh cho anh ta, chủ nợ có thể tống giam con nợ"). Đồng thời pháp luật chủ nô cũng công khai tuyên bố tình trạng vô quyền của nô lệ và thừa nhận nhiều hình thức bóc lột, hình thức tra tấn tàn nhẫn của chủ nô đối với nô lệ (Điều 3 Bảng III Luật 12 Bảng quy định: "Đến ngày phiên chợ thứ ba, các chủ nợ có thể tùng xẻo con nợ không trả được nợ. Nếu xử quá mức, họ cũng không bị tội" [Các ví dụ khác?].
- Ghi nhận tình trạng phân biệt đẳng cấp trong xã hội.
Pháp luật cho phép những chủ nô giàu có thuộc các đẳng cấp cao trong xã hội có những đặc quyền về kinh tế và chính trị. Ví dụ: Điều 1 Bảng X Luật 12 Bảng qui định cấm kết hôn giữa quí tộc và bình dân: "Cấm kết hôn giữa người bình dân và quí tộc" [Các ví dụ khác?].
- Ghi nhận và bảo vệ chế độ gia trưởng.
Pháp luật của nhiều nhà nước thời kỳ này ghi nhận quyền tuyệt đối của người gia trưởng đối với tài sản trong gia đình và địa vị chi phối của người gia trưởng đối với các thành viên khác của gia đình. Thí dụ, ở Bộ luật Hammurabi nếu không có con, người chồng có quyền ly dị hoặc bán vợ hoặc lấy vợ lẽ; nếu bắt được vợ ngoại tình thì chồng có quyền trói vợ và nhân tình của vợ ném xuống sông. Ngược lại nếu vợ bắt được chồng ngoại tình, chỉ có quyền ly dị mà thôi. Điều 129 qui định : "Nếu vợ của dân tự do ngủ với người đàn ông khác mà bị bắt, thì phải trói cả hai người này lại và ném xuống sông" [Nêu thêm các ví dụ khác để chứng minh?].
- Hình phạt mang nặng tính trừng trị, ít chứa đựng tính chất giáo dục và cảm hóa.Pháp luật thời kỳ này hình sự hóa hầu hết các vi phạm, kể cả các vi phạm trong quan hệ dân sự[Giải thích?]. Các qui phạm pháp luật đặc biệt là ở Phương Đông thời kỳ cổ đại thường mangtính hàm hỗn (hầu hết các điều luật đều kèm theo chế tài). Hình phạt được áp dụng phổ biến nhất là tử hình bằng rất nhiều hình thức khác nhau như: ném đá cho đến chết, buộc đá ném xuống sông, ném người vào vạc dầu, chặt người ra thành nhiều mảnh, thiêu chết, chôn sống, treo cổ... [Dẫn chứng cụ thể?] Các hình phạt dã man khác cũng được áp dụng cho các hành vi phạm tội ít nghiêm trọng hơn như: chọc mù mắt, khắc chữ vào mặt, chặt chân tay, cắt lưỡi, bắt đi trên than hồng... Pháp luật chủ nô còn cho phép tra tấn nhục hình phạm nhân, cho phép trả thù ngang bằng (Ví dụ: Điều 2 Bảng VIII Luật 12 bảng: "Nếu ai gây thương tích làm tàn tật người khác và không bồi thường, thì việc trả thù ngang bằng là hợp pháp"). Trong nhiều trường hợp, pháp luật chủ nô cho phép giết cả những người không liên quan đến hành vi phạm tội. (Ví dụ:Điều 38 Bộ luật Hammurabi qui định: " Nếu thợ xây nhà mà xây không đảm bảo, nhà đổ, chủ nhà chết thì người thợ xây bị giết." hoặc Điều 39 Bộ luật Hammurabi: "Nếu nhà đổ, con của người chủ nhà chết thì con của người thợ xây cũng phải chết theo") [Nêu thêm các ví dụ khác để chứng minh?].
- Nguồn luật, phạm vi điều chỉnh, mức độ điều chỉnh của pháp luật.
Hình thức biểu hiện của pháp luật chủ nô rất đa dạng, bao gồm: Tập quán pháp, Tiền lệ pháp và văn bản pháp luật. Nhiều nhà nước chủ nô đã xây dựng được những bộ luật lớn. Điển hình như: Bộ luật Hammurabi của nhà nước chủ nô Babilon (thế kỉ XVIII TCN); Bộ luật Đôracông của nhà nước chủ nô Hy lạp (thế kỉ VII TCN); Bộ luật 12 bảng của nhà nước chủ nô La Mã (thế kỉ V TCN); Bộ luật Pháp Kinh của nước Hàn - một quốc gia cát cứ ở Trung Quốc (thế kỉ V TCN); Luật Manu của nhà nước chủ nô Ấn độ (thế kỉ I TCN); Bộ pháp điển Luật La Mã của Hoàng Đế Justinian ở hậu kỳ nền Cộng hòa Corpus Iuris Civilis...
Các bộ luật cổ thường được chia thành nhóm các điều khoản có nội dung khác nhau. Phạm vi điều chỉnh của các Bộ luật trên tương đối rộng, điều chỉnh hầu hết mọi quan hệ xã hội từ các vấn đề tội phạm, hình phạt, tố tụng đến các quan hệ về hợp đồng, hôn nhân gia đình, thừa kế, sở hữu, hợp đồng, mai táng...[Dẫn chứng cụ thể?]. Về mức độ điều chỉnh của luật, thông thường người ta phân biệt thành hai mức độ điều chỉnh pháp luật: cụ thể – chi tiết và khái quát hoá. Các Bộ luật cổ về cơ bản áp dụng mức độ điều chỉnh cụ thể, chi tiết [Tìm những ví dụ là những qui phạm cụ thể chứng minh?]. Tuy nhiên trong các Bộ luật cổ cũng có nhiều qui định điều chỉnh ở mức độ khái quát hóa điển hình là các qui định về dân sự ở Luật La Mã [Tìm những vị dụ là những qui phạm cụ thể chứng minh?].
[...]
III. NHỮNG ĐIỂM KHÁC BIỆT CƠ BẢN
1. Điều kiện tự nhiên
Các nhà nước ở Phương Đông ra đời sớm ở lưu vực các con sông lớn (Sông Nin ở Ai Cập, Sông Ti-grơ và Ơ-ph-rát ở Lưỡng Hà, Sông Hằng Hà ở Ấn Độ, Sông Hoàng Hà và Trường Giang ở Trung Quốc) ["sớm" ở đây hiểu theo những nghĩa nào?]. Đây là nơi thuận lợi cho kinh tế nông nghiệp phát triển.
Trong khi đó về điều kiện tự nhiên, ở Phương Tây, các nhà nước Hy Lạp và La Mã được hình thành chủ yếu trên 2 bán đảo là bán đảo Ban-căng và bán đảo I-ta-li-a. Đây là nơi không thuận lợi cho kinh tế nông nghiệp, nhưng thuận lợi cho việc phát triển kinh tế thủ công nghiệp, thương nghiệp [Nêu dẫn chứng cụ thể để chứng minh cho lập luận trên? lý giải vì sao nhà nước ở Phương Tây lại ra đời muộn hơn ở Phương Đông?].
2. Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất
Ở Phương Đông, nhà nước Phương Đông ra đời trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển thuộcgiai đoạn đồ đồng. Kinh tế tự nhiên, trong đó nông nghiệp chiếm vai trò chủ đạo. Ở Phương Tây, nhà nước ra đời trên cơ sở lực lượng sản xuất đã phát triển thuộc giai đoạn đồ sắt [Sự khác nhau về tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất nói lên điều gì?].
3. Thời điểm xuất hiện nhà nước
Các nhà sử học cho rằng khoảng thế kỷ 7 TCN, tức là mãi sau hơn 2000 năm, sau sự xuất hiện của nhà nước Phương Đông cổ đại, nhà nước Phương Tây mới ra đời (Cụ thể: nhà nước thành bang của Hy Lạp xuất hiện sớm nhất vào khoảng thế kỷ VIII - VI TCN trong khi đó nhà nước Phương Đông lại xuất hiện rất sớm từ cuối thiên niên kỷ thứ IV TCN) [Dựa vào đâu mà người ta xác định được thời điểm xuất hiện nhà nước? Tiêu chí nào để biết rằng nhà nước ra đời? Liệu có một cái mốc cụ thể rằng nhà nước năm này hay năm kia ra đời không?].
4. Thành thị
Nhà nước Phương Đông cổ đại tồn tại và phát triển trên cơ sở nền kinh tế tự nhiên, kinh tế hàng hoá chậm phát triển nên không xuất hiện những trung tâm kinh tế lớn. [Tại sao kinh tế hàng hóa lại chậm phát triển ở Phương Đông?].
Ở Phương Tây, nền kinh tế vẫn mang tính chất tự nhiên, nhưng khác với Phương Đông là kinh tế công thương nghiệp ở Phương Tây rất phát triển, nên ở Phương Tây đã sớm xuất hiện những thành thị, những khu tập trung buôn bán, trao đổi hàng hóa.
Khác cơ bản với thành thị ở Phương Đông mang nhiều yếu tố "tĩnh" chủ yếu là trung tâm chính trị, ngược lại thành thị Phương Tây mang nhiều yếu tố "động", vừa là trung tâm chính trị vừa là trung tâm kinh tế. Hoạt động lưu thông tiền tệ, kinh tế hàng hoá phát triển nên thành thị phương Tây cổ đại rất phồn thịnh [Lý giải vì sao có sự khác biệt nói trên?].
5. Sở hữu ruộng đất
Ở Phương Đông, ruộng đất hầu hết thuộc quyền sở hữu của nhà nước. Quyền sở hữu ruộng đất của tư nhân có nơi có lúc xuất hiện nhưng đóng vai trò không đáng kể [Giải thích?]. Công xã nông thôn ở Phương Đông không bị phá vỡ mà được bảo lưu, tồn tại một cách vững chắc [Lý giải sự tồn tại lâu dài và phổ biến của công xã nông thôn ở Phương Đông?]. Chính sự tồn tại của công xã nông thôn đã làm cho quyền sở hữu ruộng đất của nhà nước Phương Đông càng thêm ổn định, củng cố thêm chế độ độc tài chuyên chế [Giải thích?].
Ở Phương Tây, quyền sở hữu ruộng đất chủ yếu thuộc về tư nhân. Ví dụ: ở La Mã, sau các cuộc chiến tranh chinh phục, nhà nước đã biến ruộng đất chiếm được thành đất công rồi đem bán hoặc chia cho tư nhân [Tại sao lại có sự khác biệt như vậy?].6. Tính giai cấp, xu hướng tập quyền hay phân quyền
Phương Đông bước vào xã hội có giai cấp sớm [Chỉ ra điểm giống và khác giữa việc phân chia thành giai cấp và sự phân chia thành đẳng cấp (ví dụ ở Ấn Độ cổ đại)?]. Ngay từ đầu tính tập quyền của nhà nước Phương Đông có xu hướng phát triển mạnh (Tại sao? ở nhà nước nào?).Nếu như ở Phương Đông càng có các cuộc chiến tranh thì nhu cầu hợp nhất, sáp nhập hay tập quyền càng mạnh thì các nhà nước ở Phương Tây lại có phần ngược lại, sau những cuộc chiến tranh, sớm hay muộn cũng đều tồn tại một xu hướng chia tách hoặc phân quyền [Bạn đồng ý hay phản đối nhận định này? Hãy nêu dẫn chứng chứng minh và lập luận?] vì thực chất một trong những lý do quan trọng là ban đầu các nhà nước ở Phương Tây không có nhu cầu nội tại và thường trực về trị thủy như các nhà nước Phương Đông [Thử phản biện lại?]. Sự phân quyền ấy ở Phương Tây thời cổ đại là sự xuất hiện các nhà nước thành bang, sau này phát triển hơn ở thời trung cổ là sự chia tách giữa quyền lực nhà nước và quyền lực của giáo hội, quyền lực của nhà vua và các lãnh chúa [Còn có những nguyên nhân nào khác không?].
7. Hình thức nhà nướcHình thức chính thể ở Phương Đông hầu hết là hình thức quân chủ (Nêu ví dụ?). Vua đứng đầu nhà nước, có quyền lực cao nhất về mọi mặt, vua được thần thánh hoá, được coi là vị thần vĩ đại, là thiên tử hoặc tăng lữ tối cao [Ở nhà nước nào? Người đứng đầu nhà nước thời kỳ này ở Phương Đông có những đặc điểm gì giống và khác so với người đứng đầu nhà nước ở những giai đoạn sau đó? Cho ví dụ?]. Quần chúng nhân dân phải phục tùng vô điều kiện giai cấp thống trị và hầu như không được tham gia bất cứ sinh hoạt chính trị nào của đất nước [Dẫn chứng?].Ở Phương Tây, hình thức chính thể được biểu hiện rất đa dạng gồm dân chủ chủ nô, cộng hoà quý tộc, quân chủ chuyên chế. Ví dụ nhà nước Xpác (nhà nước cộng hoà quý tộc chủ nô); nhà nước Aten (nhà nước cộng hòa dân chủ chủ nô); nhà nước La mã (cộng hoà và quân chủ chuyên chế). Những nhà nước được tổ chức theo chính thể cộng hòa thì các thiết chế quan trọng được hình thành bằng phương thức bầu cử. Ví dụ: Thiết chế Hội nghị công dân ở nhà nước Aten; Hai vua trong nhà nước Xpac được hình thành bằng phương thức bầu cử (Tại sao ở Phương Tây lại xuất hiện đa dạng các hình thức chính thể như vậy? hình thức quân chủ ở Phương Đông và Phương Tây thời kỳ này có những điểm khác nhau nào?].
Về hình thức cấu trúc nhà nước,đa phần các nhà nước là đơn nhất. Ở Phương Tây đặc biệt là ở Hy Lạp và La Mã cổ đại đã lần lượt xuất hiện các nhà nước thành bang (Tại sao? Nêu ví dụ?).
Về chế độ chính trị, khác với các nhà nước Phương Đông, các biện pháp và biểu hiện dân chủ (Demokratie) đã xuất hiện ở nhà nước Phương Tây. Ví dụ: Hội nghị công dân - cơ quan quyền lực cao nhất trong nhà nước Aten cổ đại. Một trong những lý do khiến tính chất, mức độ dân chủ của nhà nước ở Phương Tây cao hơn Phương Đông thời kỳ này là do những nhà nước ở Phương Tây thời kỳ này liên tục có những cuộc cải cách rất toàn diện từ chính trị, kinh tế đến xã hội (Ví dụ: điển hình là các cuộc cải cách của Xô-lông, Clít-x-ten, Pê-ri-clét ở nhà nước Aten cổ đại) [Tại sao ở Phương Tây lại diễn ra các cuộc cải cách như vậy? So sánh các cuộc cải cách ở Phương Đông (ví dụ cải cách của Thương Ưởng) và Phương Tây (cải cách của Xô-lông, Clít-x-ten, Pê-ri-clét để thấy rõ sự khác biệt?]. Tuy nhiên cũng phải thừa nhận, về tính chất và mức độ của dân chủ ở đây chỉ dừng lại ở dân chủ đa số và chứa đựng những hạn chế nhất định. Khái niệm "dân" ở đây cũng chỉ được hiểu là những người dân tự do chứ không phải là một bộ phận lớn trong xã hội lúc này là những người nô lệ [Phân tích để làm rõ hơn giá trị và hạn chế của dân chủ trong nhà nước Aten? Nâng cao: Thử so sánh dân chủ sơ khai của nhà nước Aten với những hình thức và mức độ dân chủ trên thế giới hiện nay ? Dân chủ có những hạn chế gì không? Trong khi nhân loại chưa tìm ra những hình thức mới tiến bộ hơn thì cần hạn chế những hiệu ứng nghịch nào của dân chủ?].8. Vấn đề "nô lệ" và "kiểu nhà nước"Ở Phương Tây, theo học thuyết Mác - Lênin, chế độ nô lệ là điển hình (hay còn gọi là kiểu nhà nước chiếm hữu nô lệ điển hình). Sự điển hình thể hiện ở tính chất, số lượng và vai trò nô lệ trong các ngành sản xuất. Hy Lạp và La Mã là nơi mà số lượng nô lệ hết sức đông đảo, là lực lượng lao động chính tạo ra của cải và sự giàu có cho chủ nô. Ví dụ: Ở Hy lạp trong thời kỳ chiến tranh Ba Tư, con số nô lệ ở Ca-ran-tơ lên đến 46 vạn, ở E-gi-i-nơ lên đến 47 vạn, tức là tính theo dân số thì trung bình cứ 10 nô lệ mới có 1 người tự do [Tại sao chế độ nô lệ ở Phương Tây thì được coi là "điển hình", còn ở Phương Đông thì không được coi là "điển hình"? Học thuyết Mác - Lênin về hình thái kinh tế xã hội có hạn chế không? Nếu có ở điểm nào?].
Kiểu nhà nước ở Phương Đông thời cổ đại nhiều nhà khoa học đặt tên là kiểu nhà nước Châu Á (hay Phương thức sản xuất châu Á) mang những đặc trưng riêng. Khác với Phương Tây, chế độ nô lệ Phương Đông là chế độ nô lệ không điển hình, mang nặng tính chất gia trưởng, căn cứ vào nhiều yếu tố, song quan trọng nhất là nô lệ thời kì này không phải là lực lượng đông đảo và lao động chính trong xã hội, chủ yếu chỉ phục dịch trong gia đình các quí tộc. Nô lệ có nguồn gốc xuất thân chủ yếu từ các tù binh chiến tranh, hoặc những người nông dân, thợ thủ công bị phá sản[Nô lệ thì khác, vậy chủ nô có khác không? đưa ra dẫn chứng để so sánh].
9. Về bộ máy nhà nước
Ở Phương Đông, hệ thống các cơ quan giúp việc cho nhà vua từ trung ương đến địa phương được phân chia theo chức năng, lĩnh vực (kể tên các cơ quan, chức năng, nhiệm vụ cụ thể?). Ở Phương Tây, ví dụ nhà nước cộng hòa quí tộc chủ nô Xpac cũng có thiết chế nhà vua (hai nhà vua) - người đứng đầu nhà nước, nhưng hai vua không phải là thiết chế nắm nhiều quyền hành. Ở các nhà nước Phương Tây cổ đại, sự chuyên môn hóa trong hoạt động của các cơ quan nhà nước cũng cao hơn, xuất phát từ nguyên nhân những nhà nước này liên tục có các cuộc cải cách rất toàn diện [Còn có nguyên nhân nào khác không?]. Ví dụ: Sự chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của các thiết chế như: Hội đồng 5 quan giám sát ở nhà nước Xpac, Hội đồng 10 tướng lĩnh ở Aten, Hội đồng quan án ở La Mã [Tiêu chí nào để đánh giá sự chuyên nghiệp?].
Về cơ quan xét xử, ở Phương Đông nhìn chung cơ quan xét xử không tách riêng thành cơ quan độc lập với cơ quan hành chính. Cụ thể quyền xét xử tối cao thuộc về người đứng đầu nhà nước và thường được nhà vua uỷ nhiệm cho một cơ quan đặc biệt ở trung ương. Tại các địa phương, hoạt động xét xử thuộc thẩm quyền của viên quan đứng đầu đơn vị hành chính đó. [Tại sao ở Phương Đông thì cơ quan xét xử không tách riêng thành cơ quan độc lập với các cơ quan hành chính? Hệ quả?]. Ở Phương Tây ngay từ đầu tính chuyên nghiệp và tính độc lập trong hoạt động xét xử đã cao hơn. Các cơ quan xét xử thường được tách khỏi cơ quan hành chính và phân nhóm để xét xử những loại vụ việc cụ thể. Ví dụ: ở La mã (thời kì cộng hòa) cơ quan xét xử chuyên trách được thành lập với số lượng khá đông các thẩm phán được bầu, hoạt động thường xuyên theo các nhóm với quy chế hoạt động chặt chẽ. [Vậy ở nhà nước Hy Lạp thời cổ đại có sự tách biệt này không?].
10. Pháp luật
Thời cổ đại đã có những sản phẩm lập pháp rất đồ sộ và thể hiện tính pháp điển hóa cao như Bộ luật Hammurabi và Bộ luật Manu (ở Phương Đông), Luật 12 Bảng và Bộ pháp điển Corpus Iuris Civilis năm 533 SCN ở La Mã (ở Phương Tây). Đây là những thành tựu nổi bật về lập pháp thời cổ đại.
Điểm khác biệt rõ nhất giữa pháp luật Phương Đông và Phương Tây thời cổ đại là ở chỗ: Nếu so sánh với các nước Phương Tây thời cổ đại thì pháp luật dân sự ở Phương Đông kém phát triển hơn Phương Tây. Ở Phương Đông, lĩnh vực pháp luật hình sự với các qui định về tội phạm và hình phạt được qui định nhiều hơn hơn pháp luật dân sự. (Đồng tình hay phản đối? Nêu ví dụ, lập luận? Ngoài ra còn có những khác biệt nào nữa?).
Điểm hạn chế rõ nhất của các Bộ luật cổ là các chế định hình sự. Sự hàm hỗn giữa hình luật và dân luật chính là nét đặc trưng cơ bản của luật pháp thời kỳ này. Hay nói theo ngôn ngữ hiện đại là nhiều bộ luật (đặc biệt là các Bộ luật ở Phương Đông) đã hình sự hoá hầu hết các quan hệ xã hội. [Các bộ luật cổ ở Phương Tây có đặc điểm này không? Nêu dẫn chứng?]. Ngoài ra các qui định hình sự cũng thể hiện sự bất bình đẳng rõ nét và sự tiếp thu các tàn dư của cách xử sự trong xã hội công xã nguyên thuỷ [Chứng minh?].
Vượt ra khỏi tính giai cấp, pháp luật cổ đại chứa đựng nhiều điểm tiến bộ [Vậy hiểu thế nào là "tiến bộ"? dựa vào đâu để đánh giá?] :
- Trong Bộ luật Hammurabi có nhiều qui định tiến bộ như: 1) quan hệ hợp đồng khi qui định ba điều kiện bắt buộc đối với hợp đồng mua bán; 2) qui định con trai, con gái đều được hưởng quyền thừa kế ngang nhau; 3) kết hôn phải có giấy tờ; 4) người chồng không được bỏ vợ khi biết người vợ mắc bệnh phong hủi; 5) trách nhiệm của thẩm phán khi xử oan người vô tội v.v... [Đọc bản dịch của Bộ luật và trích dẫn chính xác những điều luật tương ứng và đưa ra nhận xét, bình luận?].
- Trong Luật 12 Bảng cũng có nhiều qui định đặc biệt tiến bộ như: 1). Qui định thủ tục xét xử bắt buộc và trách nhiệm của thẩm phán. (Ví dụ: Điều 6. Bảng IX : “Cấm xử tử hình một người mà chưa thông qua xét xử“. Điều 4. Bảng IX: “Thẩm phán sẽ bị xử tử hình nếu có bằng chứng về việc phạm tội nhận hối lộ”); 2). Qui định cụ thể về trình tự tố tụng như Điều 4 Bảng I: „Nếu các bên đã thỏa thuận giao kèo, thì phải công bố công khai thỏa thuận này. Nếu các bên có tranh chấp, thì họ phải đưa vụ kiện ra nơi công cộng trước buổi trưa. Họ sẽ cùng tự bào chữa cho mình. Sau buổi trưa, thẩm phán sẽ phán quyết. Nếu cả hai đều có mặt, vụ kiện sẽ kết thúc lúc mặt trời lặn"; 3). Xác định rõ thời hiệu, hiệu lực của thỏa thuận dân sự. (Ví dụ: Điều 1. Bảng III: „Trong trường hợp một khoản nợ đã được xác định trước hoặc khoản nợ mà Tòa án đã tuyên bố buộc phải trả, thì trong thời hạn ba mươi ngày khoản nợ đó phải được thanh toán“; Điều 1. Bảng VI: “Nếu một người làm một giao kèo hoặc chuyển nhượng và thông báo điều đó bằng lời nói, thì kể từ thời điểm đó quyền lợi được xác lập); 4). Xác định rõ quyền đối với bất động sản liền kề (Ví dụ: Điều 1. Bảng VII: “Một người chủ tài sản phải làm một con đường để đi lại (nếu tồn tại một quyền với lối đi - right-of-way); nếu người chủ từ chối không làm, khách qua đường vẫn có quyền đi qua cùng với gia súc bất cứ chỗ nào mà họ phải đi qua.”); 5). Xác định rõ đối tượng được hưởng thừa kế (Ví dụ: Điều 1. Bảng V: “Nếu một người qua đời không để lại di chúc mà cũng không có người thừa kế theo luật, thì người đàn ông tiếp theo thuộc họ hàng gần nhất sẽ hưởng thừa kế. Nếu không có người đàn ông kế tiếp thuộc họ hàng gần nhất, những người đàn ông thuộc dòng tộc còn lại sẽ được hưởng thừa kế”; Điều 2. Bảng V Luật 12 Bảng: “Nếu một người bị điên, thì người đàn ông tiếp theo thuộc họ hàng gần nhất của người đó sẽ có quyền đối với tài sản của anh ta")...[Nhận xét, bình luận?].
- Bộ pháp điển Corpus Iuris Civilis năm 533 SCN ở La Mã là đỉnh cao về lập pháp thời cổ đại. Đây được coi là cội nguồn của luật pháp Châu Âu thời Trung đại và Cận hiện đại. Sự tiến bộ của Bộ pháp điển này ở chỗ pháp luật bảo vệ tất cả các mặt của chế độ tư hữu, phạm vi điều chỉnh của luật rất sâu và rộng, liên quan đến cá nhân như sở hữu, hôn nhân và gia đình, hợp đồng, thừa kế. Điển hình là các qui định như: 1). Phân loại sở hữu đất đai thành sở hữu nhà nước, sở hữu công xã và tư hữu; 2). về qui định điều kiện hợp đồng phải thoả mãn 2 điều kiện là phải dựa trên cơ sở thoả thuận tự nguyện giữa hai bên, không được lừa dối, không được dùng bạo lực và nội dung của hợp đồng phải hợp pháp, phù hợp với các qui định của pháp luật, người kí kết phải có đủ năng lực theo qui định của pháp luật; 3). Các cách phân loại hợp đồng; 4). Qui định về cầm cố tài sản; 5). Cách qui định về giải quyết tranh chấp hợp đồng khi gặp phải trường hợp bất khả kháng; 6). Về thừa kế theo di chúc (Testato) và thừa kế theo luật (Intestato); 7. Về qui định tài sản riêng của vợ chồng; 8. Về việc cho phép người vợ có quyền li hôn và nhận lại của hồi môn của mình...([Đọc bản dịch của Bộ luật và trích dẫn đúng những điều luật cụ thể tương ứng và đưa ra nhận xét, bình luận?].
Thời phong kiến, các nhà nước phương Tây đã dựa vào những chế định của Luật La Mã để xây dựng luật riêng cho vương quốc họ [Cụ thể?]. Đến thời cận hiện đại, các nhà làm luật cũng kế thừa Luật La Mã cổ đại để xây dựng thành Bộ luật dân sự của quốc gia mình. Điển hình là Bộ luật dân sự của Pháp do hoàng đế Napôlêông xây dựng năm 1804, Bộ luật dân sự của Đức năm 1900. Các Bộ luật dân sự đương đại trên thế giới hiện nay, kể cả Bộ luật dân sự của Việt Nam đều ít nhiều kế thừa những qui định tiến bộ đã có từ Luật La Mã thời cổ đại và pháp luật của các quốc gia Tây Âu hiện đại [Bộ luật dân sự Việt Nam hiện hành có kế thừa gì từ Luật La Mã không?].
[...]
Câu hỏi tổng hợp: Việc nghiên cứu nhà nước và pháp luật Phương Đông và Phương Tây thời cổ đại cũng như chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt cơ bản về nhà nước và pháp luật của hai khu vực này (vấn đề đã xảy ra trong quá khứ, có thời điểm rất xa so với hiện tại) liệu có ích gì không?NMT
Thursday, April 19, 2012
TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT CƠ BẢN GIỮA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT PHƯƠNG ĐÔNG, PHƯƠNG TÂY CỔ ĐẠI
Wednesday, February 22, 2012
Pháp quyền và Hiến pháp
| David Williams |
Trong một xã hội pháp quyền, nguyên tắc pháp quyền cơ bản là quyền lực của chính quyền phải chịu ràng buộc trong khuôn khổ các nguyên tắc pháp lý bền vững, được bảo vệ bởi một bản hiến pháp khó thay đổi. Để pháp quyền trở thành hiện thực, hệ thống tòa án cần được đào tạo về chuyên môn, trung thành với pháp luật, và đặc biệt phải được đảm bảo tính độc lập cao.
Quyền lực chính quyền phải chịu ràng buộc bởi các nguyên tắc pháp lý bền vững
Ở một số quốc gia, chính quyền hoàn toàn tự do làm bất cứ điều gì mà họ muốn mà không phải chịu bất cứ ràng buộc nào từ bên ngoài. Ở những nơi này, chính quyền nắm quyền lực tối cao. Họ dùng luật để cai trị người dân, nhưng chính họ lại không phải là đối tượng chịu điều chỉnh bởi bất cứ một hệ thống những nguyên tắc pháp lý tối thượng nào đứng trên những mong muốn của họ. Những quốc gia như thế được gọi là những quốc gia pháp trị (rule by law): luật pháp chỉ là công cụ của những người có quyền lực dùng để thống trị người khác. Kinh nghiệm thế giới cho thấy những chính quyền như thế là rất nguy hiểm cho người dân. Những chính quyền này có thể vi phạm quyền của công dân, như tước đoạt đất đai tùy tiện hay nhũng nhiễu hối lộ. Dù có thể họ được bầu lên một cách dân chủ nhưng sau đó họ có thể toan tính cầm quyền mãi mãi và giao những vai trò quan trọng trong chính quyền cho thân bằng quyến thuộc của họ. Sau một cuộc bầu cử, phe thắng cử có thể dùng quyền lực mới giành được để đàn áp đối lập, như bằng cách đặt các đảng chính trị khác ra ngoài vòng pháp luật và bỏ tù lãnh đạo của các đảng đó, hoặc chỉ dành những quyền lợi tài chính cho những người đã ủng hộ họ mà không dành cho ai khác.
Nếu được cho phép có quyền hạn tối thượng, một chính quyền có thể làm bất kỳ điều gì họ muốn mà không chịu trách nhiệm trước người dân. Một chính quyền như thế sớm muộn cũng sẽ trở nên một chính quyền áp bức. Khi quyền lực không bị kiềm chế và kiểm soát, người đức hạnh cũng có khuynh hướng trở nên bạo ngược.
Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của người dân, không thể để chính quyền có thể tự do làm bất cứ điều gì họ muốn. Thay vào đó, chính quyền phải bị ràng buộc bởi những nguyên tắc pháp lý bền vững. Những nguyên tắc này, bên cạnh những ràng buộc khác, là nhằm bảo vệ quyền cá nhân, định ra những cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng, và giới hạn những gì những người thắng cử có thể làm với những người thất cử. Những quốc gia có chính quyền như thế được gọi là những quốc giapháp quyền (rule of law): luật pháp, chứ không phải chính quyền, mới là thực thể có quyền lực cuối cùng. Ngày nay hầu như mọi người đều tin rằng pháp quyền là yếu tố quan trọng cho một chính quyền hợp thức và công minh.
Pháp quyền được bảo vệ hữu hiệu nhất bởi một bản hiến pháp khó thay đổi
Nhiều quốc gia pháp trị muốn trở thành pháp quyền. Trong quá trình chuyển đổi, họ phải tìm cách thiết lập và bảo vệ các nguyên tắc pháp lý bền vững nhằm hạn chế quyền hạn của chính quyền. Nếu người dân không thực sự coi trọng nguyên tắc pháp quyền, thì nền pháp quyền đó sẽ không phát triển. Vì vậy, để bảo vệ nền pháp quyền, đầu tiên có thể tính đến yếu tố văn hóa: một xã hội coi trọng pháp quyền là điều kiện cần để tạo nền tảng cho một nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, yếu tố văn hóa không đủ, vì chính quyền không phải lúc nào cũng tôn trọng ý chí của nhân dân. Do đó, minh định các nguyên tắc pháp quyền trong một hiến pháp được viết ra và tồn tại lâu dài là cần thiết.
Hiến pháp bảo vệ pháp quyền bằng nhiều cách.
• Thứ nhất, bởi vì hiến pháp được soạn thảo với những điều khoản cụ thể và bất kỳ ai quan tâm cũng có thể nắm bắt ngay nội dung của pháp quyền, cũng như những quy tắc pháp lý nhằm bảo vệ người dân mà pháp quyền đòi hỏi chính quyền phải tôn trọng. Điều đó cũng có nghĩa là giới hạn quyền lực của các quan chức chính quyền cũng được đề ra cụ thể. Nếu họ không tôn trọng những giới hạn đó, các quan chức khác và công dân sẽ có cơ sở pháp lý, vốn đã được viết ra một cách rõ ràng, để áp dụng nhằm bảo vệ hiến pháp và kiểm soát những quan chức vi phạm.
• Thứ hai, xét theo một góc độ lý tưởng, việc toàn dân tham gia làm ra hiến pháp giúp họ trực tiếp xây dựng và xác lập các “pháp quyền” cho đất nước. Khi đó, thành quả lập hiến đại chúng sẽ bảo vệ nền pháp quyền hữu hiệu hơn nhiều so với một bản hiến pháp áp đặt bởi các cơ quan quyền lực. Bởi vì, khi quần chúng tham gia thiết lập nền pháp quyền cho chính quốc gia của họ, họ sẽ có cơ hội đề ra những nguyên tắc pháp quyền đáp ứng được nhu cầu và hoàn cảnh cụ thể của họ. Qua đó giúp các cơ quan quyền lực được giới hạn bởi những nguyên tắc pháp quyền phù hợp để vận hành tốt hơn, và sinh hoạt chính trị của đất nước cũng sẽ lành mạnh hơn. Chính trị lành mạnh hơn sẽ tạo ra những điều kiện sống tốt hơn: kinh tế phát triển hơn, trường học và y tế tốt hơn, bảo vệ môi trường hiệu quả hơn, v.v… Nói một cách khác, hiến pháp được toàn dân thông qua sẽ góp phần cải thiện cuộc sống của mỗi người dân. Kết quả là người dân sẽ thấy gắn bó và muốn bảo vệ hiến pháp: nếu hiến pháp đã được làm ra để bảo vệ người dân, người dân cũng sẽ muốn bảo vệ nó.
• Thứ ba, một bản hiến pháp tốt sẽ phân chia quyền lực cho nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, do đó sẽ rất khó cho một cá nhân hoặc một cơ quan nhà nước thâu tóm hết tất cả quyền lực. Kết quả là, nếu một cá nhân hoặc cơ quan nhà nước tìm cách vi phạm hiến pháp, những cá nhân hoặc cơ quan nhà nước khác có thể ngăn chặn các vi phạm đó. Ví dụ rõ ràng nhất là một cơ chế bảo vệ hiến pháp, dù đó là một tòa án hoặc một cơ quan bảo hiến nào khác, sẽ xem xét kỹ lưỡng văn bản và hành động của các quan chức để xác định xem họ có hành xử phù hợp với hiến pháp hay không. Tất nhiên, cơ quan bảo hiến không phải là định chế duy nhất có thể bảo vệ pháp quyền. Nếu một quan chức, ở bất kể cương vị nào, hành xử một cách vi hiến, các thành phần khác của hệ thống chính trị có thể có khả năng kiểm soát và ngăn chặn quan chức đó - các thành phần khác ở đây có thể là cơ quan lập pháp, các cơ quan hành chính, chính quyền địa phương, công dân, hoặc thậm chí là thành viên nội các. Như vậy, một bản hiến pháp tốt không chỉ xác định các nguyên tắc pháp quyền, nó còn cần đặt ra một cơ cấu chính quyền để bảo vệ các nguyên tắc pháp quyền đó.
• Cuối cùng, một hiến pháp tốt phải là một hiến pháp khó sửa đổi và không cần phải sửa đổi thường xuyên. Tốt nhất là những sửa đổi hiến pháp phải được nhân dân phúc quyết phê chuẩn. Sửa đổi hiến pháp chỉ có thể được thông qua bởi đa số hoặc thậm chí siêu đa số phiếu thuận. Điều quan trọng nhất là chính quyền không được phép tự sửa đổi hiến pháp. Khi bản hiến pháp được bảo vệ bằng cách này, nền pháp quyền sẽ bền vững, vì một hiến pháp tốt chính là hiện thân của pháp quyền.
Những nguyên tắc pháp lý bền vững cốt lõi
Các quốc gia khác nhau có thể chọn những nguyên tắc pháp lý khác nhau, phù hợp đối với hoàn cảnh của quốc gia đó. Nhưng nền pháp quyền đòi hỏi một số nguyên tắc pháp lý cốt lõi mà mọi quốc gia pháp quyền cần tuân thủ.
Có nhiều cách hiểu khác nhau về “pháp quyền”, và cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về một định nghĩa phổ quát cho khái niệm này. Các chính trị gia hoặc các nhà bình luận đôi khi sử dụng cụm từ này một cách mơ hồ mà không xác định ý nghĩa của nó. Các học giả tuy chưa đạt đồng thuận về một định nghĩa nhất quán, nhưng ít ra họ cũng đề xuất những định nghĩa cụ thể hơn. Đến nay, tất cả học giả đều đồng ý rằng, trong một quốc gia pháp quyền, quyền lực nhà nước nhất thiết phải bị giới hạn bởi một số nguyên tắc pháp lý bền vững. Nhưng các nguyên tắc pháp lý này cụ thể là những gì thì họ chưa thống nhất. Một số học giả cho rằng nguyên tắc pháp quyền đòi hỏi những quy chuẩn pháp lý minh bạch. Một số học giả khác tin rằng pháp quyền đòi hỏi dân chủ và quyền con người.
• Quy chuẩn pháp lý minh bạch đòi hỏi khi các nhà lập pháp phải soạn ra những điều luật rõ ràng, sao cho người dân dễ dàng nắm bắt các quy định có liên quan đến đời sống của họ, nhằm hoạch định cuộc sống của họ cho phù hợp. Chẳng hạn, luật hình sự không được mập mờ khi quy định những hành vi nào là bất hợp pháp, để người dân biết và tránh các hành vi đó. Luật hợp đồng cần rõ ràng về những biện pháp thi hành, dù đối với giao kèo mua đất hay thỏa thuận thành lập hiệp hội kinh doanh, để người dân có thể quyết định một cách sáng suốt trước khi đặt bút ký và chấp nhận những nghĩa vụ pháp lý đi kèm. Tương tự, trong tất cả các lĩnh vực khác của pháp luật, người dân cần có điều kiện hợp lý để nắm bắt luật pháp. Nếu không, nhà nước luôn có thể tùy tiện can thiệp và xâm phạm vào cuộc sống của công dân mà họ không lường trước được – điều này cũng đồng nghĩa với việc để cho chính quyền hành xử độc đoán. Để đảm bảo rằng mọi công dân hiểu biết luật và điều chỉnh cuộc sống của họ cho phù hợp, quy chuẩn pháp lý minh bạch đòi hỏi luật pháp phải được phổ biến công khai (không bí mật), không hồi tố (không áp dụng đối với các hành vi trước khi luật được thông qua), rõ ràng (để ai cũng có thể hiểu cụ thể các quy định pháp luật), và phổ quát (áp dụng cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu nghèo, yếu mạnh, quan chức hay dân thường v.v...).
• Dân chủ về cơ bản là một chế độ chính trị trong đó người dân tự cai trị. Chế độ dân chủ đại diện là phổ biến nhất: người dân tham gia vào những cuộc bầu cử có tính tự do, công bằng, và thật sự có tính đại diện cao cho những quyền lợi và nhu cầu thực tiễn phong phú, đa dạng của người dân, từ đó bầu ra những dân biểu thực sự có năng lực để thay mặt họ quản lý nhà nước. Nguyên tắc pháp quyền đòi hỏi chế độ dân chủ để pháp quyền được thực thi, nhưng nó không chỉ định một hình thức dân chủ cụ thể nào, miễn là người dân thực sự kiểm soát chính quyền chứ không phải là chính quyền cai trị họ. Vì có nhiều chế độ dân chủ khác nhau, mỗi quốc gia có thể lựa chọn chế độ mà họ cho là phù hợp. Một số nước theo tổng thống chế, một số khác theo chế độ nghị viện. Một số nước chọn chế độ lập pháp lưỡng viện, trong khi đó một số khác lại chọn lập pháp đơn viện. Một số nước chọn nguyên tắc đại diện theo tỷ lệ, một số khác theo hệ thống đa số đại diện. Và còn nhiều ví dụ khác.
• Quyền cá nhân thuộc phạm vi tự chủ, là quyền đòi hỏi có được những điều kiện cần thiết cho những lĩnh vực đời sống quan trọng nhất của cá nhân, trước hết là với tư cách công dân, như quyền bầu cử, hay với tư cách cá nhân riêng tư, như quyền thành hôn. Chính quyền không thể xâm phạm các quyền này, trừ những trường hợp đặc biệt cần thiết, như khi an ninh quốc gia đang bị đe dọa nghiêm trọng, hay trong nỗ lực ngăn chặn một âm mưu khủng bố nơi công cộng. Tuy nhiên, chính quyền không thể hạn chế quyền của các cá nhân chỉ đơn giản với lý do chung chung, ví dụ như “trật tự công cộng”. Hầu hết những người cổ vũ pháp quyền đều tin rằng mọi quốc gia phải tôn trọng một số quyền căn bản, vốn thường được gọi là “nhân quyền” trong luật quốc tế. Bên cạnh những quyền căn bản đó, quốc gia có thể lựa chọn bảo vệ những quyền cá nhân khác, tùy thuộc hoàn cảnh cụ thể của từng nước. Ví dụ, hiến pháp Hoa Kỳ công nhận quyền sở hữu súng tư nhân, nhưng không bảo vệ quyền hưởng y tế công cộng; ngược lại, hiến pháp của Đức lại bảo vệ quyền hưởng y tế công cộng mà không cho phép cá nhân sở hữu súng.
Như vậy, rõ ràng định nghĩa khái niệm “pháp quyền” chỉ là một quy ước, có thể mang bất kỳ ý nghĩa gì mà một xã hội quyết định. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, để bảo vệ quyền lợi của người dân, một nền pháp quyền đòi hỏi chính quyền phải bị giới hạn bằng những nguyên tắc pháp lý bền vững. Vì vậy, khi muốn xác định ý nghĩa của “pháp quyền” cho một quốc gia, câu hỏi thực sự cần được đặt ra là “chúng ta đang muốn đặt ra trong hiến pháp những giới hạn pháp lý lâu dài nào đối với chính quyền?” Hiện nay, hầu như cả thế giới đều đồng thuận rằng một chính quyền tốt là một chính quyền dân chủ, tôn trọng các quyền cá nhân, và chỉ hành xử theo các quy chuẩn pháp lý minh bạch.
Để pháp quyền trở thành hiện thực, hệ thống tòa án cần đảm bảo tính độc lập, được đào tạo chuyên môn, và trung thành với pháp luật
Pháp quyền là các nguyên tắc pháp lý được soạn thảo trong hiến pháp nhằm giới hạn quyền lực của chính quyền. Chính quyền không thể coi nhẹ các nguyên tắc này, vì quyền lực chính quyền bị giới hạn bằng pháp luật là đòi hỏi tiên quyết của pháp quyền. Tuy vậy, chỉ đề ra các nguyên tắc pháp quyền là chưa đủ, còn cần có cơ quan áp dụng và giám sát việc thi hành các nguyên tắc này.
Toà án, hoặc các định chế tương tự, không có nhiều quyền lực để thực thi quyết định họ thông qua – như ngạn ngữ thường nói, tòa án “không có tiền mà cũng chẳng có vũ khí.” Chiếu theo các tiêu chuẩn đánh giá quyền lực thông thường, tòa án là một trong những định chế nhà nước yếu nhất. Nếu một bộ phận chính quyền cố ý vi phạm pháp luật, chỉ có nhân dân (qua cơ chế chính trị dân chủ - bầu cử) hoặc các bộ phận khác của chính quyền (qua kiểm soát và cân bằng quyền lực) mới có sức mạnh ngăn chặn các vi phạm đó. Dù vậy, tòa án, hoặc các định chế bảo hiến, giữ một vai trò khác nhưng không kém phần quan trọng: họ có thể giải thích luật, giúp nhân dân và các cơ quan khác của chính quyền biết một người hoặc một cơ quan chính quyền đang tìm cách vi phạm pháp luật. Với căn cứ chính tắc là kết luận của toà án, nhân dân và các cơ quan công quyền có quyền lực mạnh hơn tòa án, sẽ hợp lực để bảo đảm pháp quyền được thực thi.
Để làm tốt vai trò của mình, tòa án không cần nhiều tiền hoặc cảnh sát hỗ trợ. Yếu tố đầu tiên tòa án cần là sự độc lập với các cơ quan khác trong chính quyền, để tòa án có thể đảm bảo tất cả các bộ phận của chính quyền tuân thủ pháp quyền mà không có sự thiên vị hoặc nể nang, kiêng dè. Trong công việc của mình, các thẩm phán đôi khi sẽ cần phải đưa ra những quyết định gây tranh cãi, có thể làm một số quan chức chính quyền khó chịu, và đôi khi có thể làm đa số người dân phật ý. Để có thể thực hiện bổn phận, các thẩm phán cần phải được bảo vệ để tránh bị trả thù: an ninh thân thể của họ phải được bảo vệ, và nhiệm kỳ của họ phải được bảo đảm, cùng với mức lương cố định.
Ngoài ra, bản thân các thẩm phán không được coi họ là chính trị gia. Vai trò chính trị gia đòi hỏi nhà chính trị phải trung thành với cử tri hoặc với các chính trị gia khác. Trong khi đó, các thẩm phán phải tâm niệm bản thân mình làm việc theo chuyên môn và trung thành với pháp luật. Để làm được điều đó, các thẩm phán phải là những người được đào tạo chuyên sâu về luật. Các thẩm phán cũng cần phải trung dung: họ không được dính líu hay phụ thuộc vào các cơ quan quyền lực khác của chính quyền, các tổ chức chính trị, hoặc các nhóm lợi ích kinh tế. Với tư cách công dân, họ có quyền đi bầu cử. Thậm chí, họ có thể là một thành viên của một tổ chức chính trị, nhưng không được tham gia vào các hoạt động đảng chính trị, hay nắm giữ chức vụ trong các đảng chính trị, nếu những điều này ảnh hưởng tới tính trung dung mà vai trò của một người thẩm phán đòi hỏi.
---
Ở một số quốc gia, chính quyền hoàn toàn tự do làm bất cứ điều gì mà họ muốn mà không phải chịu bất cứ ràng buộc nào từ bên ngoài. Ở những nơi này, chính quyền nắm quyền lực tối cao. Họ dùng luật để cai trị người dân, nhưng chính họ lại không phải là đối tượng chịu điều chỉnh bởi bất cứ một hệ thống những nguyên tắc pháp lý tối thượng nào đứng trên những mong muốn của họ. Những quốc gia như thế được gọi là những quốc gia pháp trị (rule by law): luật pháp chỉ là công cụ của những người có quyền lực dùng để thống trị người khác. Kinh nghiệm thế giới cho thấy những chính quyền như thế là rất nguy hiểm cho người dân. Những chính quyền này có thể vi phạm quyền của công dân, như tước đoạt đất đai tùy tiện hay nhũng nhiễu hối lộ. Dù có thể họ được bầu lên một cách dân chủ nhưng sau đó họ có thể toan tính cầm quyền mãi mãi và giao những vai trò quan trọng trong chính quyền cho thân bằng quyến thuộc của họ. Sau một cuộc bầu cử, phe thắng cử có thể dùng quyền lực mới giành được để đàn áp đối lập, như bằng cách đặt các đảng chính trị khác ra ngoài vòng pháp luật và bỏ tù lãnh đạo của các đảng đó, hoặc chỉ dành những quyền lợi tài chính cho những người đã ủng hộ họ mà không dành cho ai khác.
| Nếu được cho phép có quyền hạn tối thượng, một chính quyền có thể làm bất kỳ điều gì họ muốn mà không chịu trách nhiệm trước người dân. Một chính quyền như thế sớm muộn cũng sẽ trở nên một chính quyền áp bức. |
Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của người dân, không thể để chính quyền có thể tự do làm bất cứ điều gì họ muốn. Thay vào đó, chính quyền phải bị ràng buộc bởi những nguyên tắc pháp lý bền vững. Những nguyên tắc này, bên cạnh những ràng buộc khác, là nhằm bảo vệ quyền cá nhân, định ra những cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng, và giới hạn những gì những người thắng cử có thể làm với những người thất cử. Những quốc gia có chính quyền như thế được gọi là những quốc giapháp quyền (rule of law): luật pháp, chứ không phải chính quyền, mới là thực thể có quyền lực cuối cùng. Ngày nay hầu như mọi người đều tin rằng pháp quyền là yếu tố quan trọng cho một chính quyền hợp thức và công minh.
Pháp quyền được bảo vệ hữu hiệu nhất bởi một bản hiến pháp khó thay đổi
Nhiều quốc gia pháp trị muốn trở thành pháp quyền. Trong quá trình chuyển đổi, họ phải tìm cách thiết lập và bảo vệ các nguyên tắc pháp lý bền vững nhằm hạn chế quyền hạn của chính quyền. Nếu người dân không thực sự coi trọng nguyên tắc pháp quyền, thì nền pháp quyền đó sẽ không phát triển. Vì vậy, để bảo vệ nền pháp quyền, đầu tiên có thể tính đến yếu tố văn hóa: một xã hội coi trọng pháp quyền là điều kiện cần để tạo nền tảng cho một nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, yếu tố văn hóa không đủ, vì chính quyền không phải lúc nào cũng tôn trọng ý chí của nhân dân. Do đó, minh định các nguyên tắc pháp quyền trong một hiến pháp được viết ra và tồn tại lâu dài là cần thiết.
Hiến pháp bảo vệ pháp quyền bằng nhiều cách.
| …xét theo một góc độ lý tưởng, việc toàn dân tham gia làm ra hiến pháp giúp họ trực tiếp xây dựng và xác lập các “pháp quyền” cho đất nước. Khi đó, thành quả lập hiến đại chúng sẽ bảo vệ nền pháp quyền hữu hiệu hơn nhiều so với một bản hiến pháp áp đặt bởi các cơ quan quyền lực… hiến pháp được toàn dân thông qua sẽ góp phần cải thiện cuộc sống của mỗi người dân. Kết quả là người dân sẽ thấy gắn bó và muốn bảo vệ hiến pháp. |
• Thứ hai, xét theo một góc độ lý tưởng, việc toàn dân tham gia làm ra hiến pháp giúp họ trực tiếp xây dựng và xác lập các “pháp quyền” cho đất nước. Khi đó, thành quả lập hiến đại chúng sẽ bảo vệ nền pháp quyền hữu hiệu hơn nhiều so với một bản hiến pháp áp đặt bởi các cơ quan quyền lực. Bởi vì, khi quần chúng tham gia thiết lập nền pháp quyền cho chính quốc gia của họ, họ sẽ có cơ hội đề ra những nguyên tắc pháp quyền đáp ứng được nhu cầu và hoàn cảnh cụ thể của họ. Qua đó giúp các cơ quan quyền lực được giới hạn bởi những nguyên tắc pháp quyền phù hợp để vận hành tốt hơn, và sinh hoạt chính trị của đất nước cũng sẽ lành mạnh hơn. Chính trị lành mạnh hơn sẽ tạo ra những điều kiện sống tốt hơn: kinh tế phát triển hơn, trường học và y tế tốt hơn, bảo vệ môi trường hiệu quả hơn, v.v… Nói một cách khác, hiến pháp được toàn dân thông qua sẽ góp phần cải thiện cuộc sống của mỗi người dân. Kết quả là người dân sẽ thấy gắn bó và muốn bảo vệ hiến pháp: nếu hiến pháp đã được làm ra để bảo vệ người dân, người dân cũng sẽ muốn bảo vệ nó.
• Thứ ba, một bản hiến pháp tốt sẽ phân chia quyền lực cho nhiều cơ quan nhà nước khác nhau, do đó sẽ rất khó cho một cá nhân hoặc một cơ quan nhà nước thâu tóm hết tất cả quyền lực. Kết quả là, nếu một cá nhân hoặc cơ quan nhà nước tìm cách vi phạm hiến pháp, những cá nhân hoặc cơ quan nhà nước khác có thể ngăn chặn các vi phạm đó. Ví dụ rõ ràng nhất là một cơ chế bảo vệ hiến pháp, dù đó là một tòa án hoặc một cơ quan bảo hiến nào khác, sẽ xem xét kỹ lưỡng văn bản và hành động của các quan chức để xác định xem họ có hành xử phù hợp với hiến pháp hay không. Tất nhiên, cơ quan bảo hiến không phải là định chế duy nhất có thể bảo vệ pháp quyền. Nếu một quan chức, ở bất kể cương vị nào, hành xử một cách vi hiến, các thành phần khác của hệ thống chính trị có thể có khả năng kiểm soát và ngăn chặn quan chức đó - các thành phần khác ở đây có thể là cơ quan lập pháp, các cơ quan hành chính, chính quyền địa phương, công dân, hoặc thậm chí là thành viên nội các. Như vậy, một bản hiến pháp tốt không chỉ xác định các nguyên tắc pháp quyền, nó còn cần đặt ra một cơ cấu chính quyền để bảo vệ các nguyên tắc pháp quyền đó.
• Cuối cùng, một hiến pháp tốt phải là một hiến pháp khó sửa đổi và không cần phải sửa đổi thường xuyên. Tốt nhất là những sửa đổi hiến pháp phải được nhân dân phúc quyết phê chuẩn. Sửa đổi hiến pháp chỉ có thể được thông qua bởi đa số hoặc thậm chí siêu đa số phiếu thuận. Điều quan trọng nhất là chính quyền không được phép tự sửa đổi hiến pháp. Khi bản hiến pháp được bảo vệ bằng cách này, nền pháp quyền sẽ bền vững, vì một hiến pháp tốt chính là hiện thân của pháp quyền.
Những nguyên tắc pháp lý bền vững cốt lõi
Các quốc gia khác nhau có thể chọn những nguyên tắc pháp lý khác nhau, phù hợp đối với hoàn cảnh của quốc gia đó. Nhưng nền pháp quyền đòi hỏi một số nguyên tắc pháp lý cốt lõi mà mọi quốc gia pháp quyền cần tuân thủ.
| ...khi muốn xác định ý nghĩa của “pháp quyền” cho một quốc gia, câu hỏi thực sự cần được đặt ra là “chúng ta đang muốn đặt ra trong hiến pháp những giới hạn pháp lý lâu dài nào đối với chính quyền?” Hiện nay, hầu như cả thế giới đều đồng thuận rằng một chính quyền tốt là một chính quyền dân chủ, tôn trọng các quyền cá nhân, và chỉ hành xử theo các quy chuẩn pháp lý minh bạch. |
• Quy chuẩn pháp lý minh bạch đòi hỏi khi các nhà lập pháp phải soạn ra những điều luật rõ ràng, sao cho người dân dễ dàng nắm bắt các quy định có liên quan đến đời sống của họ, nhằm hoạch định cuộc sống của họ cho phù hợp. Chẳng hạn, luật hình sự không được mập mờ khi quy định những hành vi nào là bất hợp pháp, để người dân biết và tránh các hành vi đó. Luật hợp đồng cần rõ ràng về những biện pháp thi hành, dù đối với giao kèo mua đất hay thỏa thuận thành lập hiệp hội kinh doanh, để người dân có thể quyết định một cách sáng suốt trước khi đặt bút ký và chấp nhận những nghĩa vụ pháp lý đi kèm. Tương tự, trong tất cả các lĩnh vực khác của pháp luật, người dân cần có điều kiện hợp lý để nắm bắt luật pháp. Nếu không, nhà nước luôn có thể tùy tiện can thiệp và xâm phạm vào cuộc sống của công dân mà họ không lường trước được – điều này cũng đồng nghĩa với việc để cho chính quyền hành xử độc đoán. Để đảm bảo rằng mọi công dân hiểu biết luật và điều chỉnh cuộc sống của họ cho phù hợp, quy chuẩn pháp lý minh bạch đòi hỏi luật pháp phải được phổ biến công khai (không bí mật), không hồi tố (không áp dụng đối với các hành vi trước khi luật được thông qua), rõ ràng (để ai cũng có thể hiểu cụ thể các quy định pháp luật), và phổ quát (áp dụng cho tất cả mọi người, không phân biệt giàu nghèo, yếu mạnh, quan chức hay dân thường v.v...).
• Dân chủ về cơ bản là một chế độ chính trị trong đó người dân tự cai trị. Chế độ dân chủ đại diện là phổ biến nhất: người dân tham gia vào những cuộc bầu cử có tính tự do, công bằng, và thật sự có tính đại diện cao cho những quyền lợi và nhu cầu thực tiễn phong phú, đa dạng của người dân, từ đó bầu ra những dân biểu thực sự có năng lực để thay mặt họ quản lý nhà nước. Nguyên tắc pháp quyền đòi hỏi chế độ dân chủ để pháp quyền được thực thi, nhưng nó không chỉ định một hình thức dân chủ cụ thể nào, miễn là người dân thực sự kiểm soát chính quyền chứ không phải là chính quyền cai trị họ. Vì có nhiều chế độ dân chủ khác nhau, mỗi quốc gia có thể lựa chọn chế độ mà họ cho là phù hợp. Một số nước theo tổng thống chế, một số khác theo chế độ nghị viện. Một số nước chọn chế độ lập pháp lưỡng viện, trong khi đó một số khác lại chọn lập pháp đơn viện. Một số nước chọn nguyên tắc đại diện theo tỷ lệ, một số khác theo hệ thống đa số đại diện. Và còn nhiều ví dụ khác.
• Quyền cá nhân thuộc phạm vi tự chủ, là quyền đòi hỏi có được những điều kiện cần thiết cho những lĩnh vực đời sống quan trọng nhất của cá nhân, trước hết là với tư cách công dân, như quyền bầu cử, hay với tư cách cá nhân riêng tư, như quyền thành hôn. Chính quyền không thể xâm phạm các quyền này, trừ những trường hợp đặc biệt cần thiết, như khi an ninh quốc gia đang bị đe dọa nghiêm trọng, hay trong nỗ lực ngăn chặn một âm mưu khủng bố nơi công cộng. Tuy nhiên, chính quyền không thể hạn chế quyền của các cá nhân chỉ đơn giản với lý do chung chung, ví dụ như “trật tự công cộng”. Hầu hết những người cổ vũ pháp quyền đều tin rằng mọi quốc gia phải tôn trọng một số quyền căn bản, vốn thường được gọi là “nhân quyền” trong luật quốc tế. Bên cạnh những quyền căn bản đó, quốc gia có thể lựa chọn bảo vệ những quyền cá nhân khác, tùy thuộc hoàn cảnh cụ thể của từng nước. Ví dụ, hiến pháp Hoa Kỳ công nhận quyền sở hữu súng tư nhân, nhưng không bảo vệ quyền hưởng y tế công cộng; ngược lại, hiến pháp của Đức lại bảo vệ quyền hưởng y tế công cộng mà không cho phép cá nhân sở hữu súng.
Như vậy, rõ ràng định nghĩa khái niệm “pháp quyền” chỉ là một quy ước, có thể mang bất kỳ ý nghĩa gì mà một xã hội quyết định. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên, để bảo vệ quyền lợi của người dân, một nền pháp quyền đòi hỏi chính quyền phải bị giới hạn bằng những nguyên tắc pháp lý bền vững. Vì vậy, khi muốn xác định ý nghĩa của “pháp quyền” cho một quốc gia, câu hỏi thực sự cần được đặt ra là “chúng ta đang muốn đặt ra trong hiến pháp những giới hạn pháp lý lâu dài nào đối với chính quyền?” Hiện nay, hầu như cả thế giới đều đồng thuận rằng một chính quyền tốt là một chính quyền dân chủ, tôn trọng các quyền cá nhân, và chỉ hành xử theo các quy chuẩn pháp lý minh bạch.
Để pháp quyền trở thành hiện thực, hệ thống tòa án cần đảm bảo tính độc lập, được đào tạo chuyên môn, và trung thành với pháp luật
Pháp quyền là các nguyên tắc pháp lý được soạn thảo trong hiến pháp nhằm giới hạn quyền lực của chính quyền. Chính quyền không thể coi nhẹ các nguyên tắc này, vì quyền lực chính quyền bị giới hạn bằng pháp luật là đòi hỏi tiên quyết của pháp quyền. Tuy vậy, chỉ đề ra các nguyên tắc pháp quyền là chưa đủ, còn cần có cơ quan áp dụng và giám sát việc thi hành các nguyên tắc này.
| Để làm tốt vai trò của mình, tòa án không cần nhiều tiền hoặc cảnh sát hỗ trợ. Yếu tố đầu tiên tòa án cần là sự độc lập với các cơ quan khác trong chính quyền, để tòa án có thể đảm bảo tất cả các bộ phận của chính quyền tuân thủ pháp quyền mà không có sự thiên vị hoặc nể nang, kiêng dè. |
Để làm tốt vai trò của mình, tòa án không cần nhiều tiền hoặc cảnh sát hỗ trợ. Yếu tố đầu tiên tòa án cần là sự độc lập với các cơ quan khác trong chính quyền, để tòa án có thể đảm bảo tất cả các bộ phận của chính quyền tuân thủ pháp quyền mà không có sự thiên vị hoặc nể nang, kiêng dè. Trong công việc của mình, các thẩm phán đôi khi sẽ cần phải đưa ra những quyết định gây tranh cãi, có thể làm một số quan chức chính quyền khó chịu, và đôi khi có thể làm đa số người dân phật ý. Để có thể thực hiện bổn phận, các thẩm phán cần phải được bảo vệ để tránh bị trả thù: an ninh thân thể của họ phải được bảo vệ, và nhiệm kỳ của họ phải được bảo đảm, cùng với mức lương cố định.
Ngoài ra, bản thân các thẩm phán không được coi họ là chính trị gia. Vai trò chính trị gia đòi hỏi nhà chính trị phải trung thành với cử tri hoặc với các chính trị gia khác. Trong khi đó, các thẩm phán phải tâm niệm bản thân mình làm việc theo chuyên môn và trung thành với pháp luật. Để làm được điều đó, các thẩm phán phải là những người được đào tạo chuyên sâu về luật. Các thẩm phán cũng cần phải trung dung: họ không được dính líu hay phụ thuộc vào các cơ quan quyền lực khác của chính quyền, các tổ chức chính trị, hoặc các nhóm lợi ích kinh tế. Với tư cách công dân, họ có quyền đi bầu cử. Thậm chí, họ có thể là một thành viên của một tổ chức chính trị, nhưng không được tham gia vào các hoạt động đảng chính trị, hay nắm giữ chức vụ trong các đảng chính trị, nếu những điều này ảnh hưởng tới tính trung dung mà vai trò của một người thẩm phán đòi hỏi.
Nguyễn Thị Hường và đồng nghiệp dịch
---
* Giám đốc Trung tâm Hiến pháp Dân Chủ , Đại học Indiana, Hoa Kỳ
TRAO ĐỔI VỀ BÀI VIẾT: “TỘI GIẾT NGƯỜI KHÔNG CÓ NGƯỜI CHẾT?”
lấy từ blog http://tuanhsl.blogspot.com
| Vụ cưỡng chế ở Tiên Lãng khiến người dân bất an (Ảnh: Tia sáng) |
Tác giả: Nguyễn Minh Tuấn
(Bài viết đã gửi Tia sáng ngày 21/2/2012)
(Bài viết đã gửi Tia sáng ngày 21/2/2012)
Tạp chí Tia sáng ngày 20/2/2012 có đăng bài viết Tội "giết người" không có người chết? của tác giả TS. Nguyễn Sỹ Phương. Bài viết có rất nhiều thông tin thú vị, đề cập đến những vấn đề rất bức xúc hiện nay. Tuy nhiên, sau khi đọc bài viết, tôi thấy có một vài vấn đề còn chưa rõ, rất mong được trao đổi, học hỏi thêm về mặt khoa học cùng với tác giả và bạn đọc dưới đây:
- Cần phân biệt “tội giết người đã hoàn thành” và “tội giết người chưa đạt”
TS. Nguyễn Sĩ Phương cho rằng: "Không luật pháp quốc gia tiên tiến nào cáo buộc phi thực tế, khép tội giết người lại không có người chết như vậy cả. Trong trường hợp này, pháp luật ở ta đã không hội nhập cộng đồng thế giới. Ở họ dấu hiệu đầu tiên cấu thành tội danh giết người phải có bằng chứng là nạn nhân đã chết. [….]Trong khi đó ở Việt Nam, nhiều tài liệu kể cả từ điển mở tiếng Việt, lại định nghĩa: “Hành vi giết người là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người”, “Có khả năng gây ra”, chứ không phải đã gây ra, mang thì tương lai, tức hành vi phạm tội chưa hoàn thành, nhưng vẫn bị khép tội, hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên lý, chỉ được phép khép tội khi hành vi tội phạm đã hoàn thành.”
Tôi cho rằng luận điểm này của tác giả đưa ra về pháp luật Việt Nam là chưa thực sự thuyết phục. Theo Bộ luật hình sự (BLHS) Việt Nam 2009, đối với tội giết người (Điều 93 và các Điều liên quan khác), hậu quả chết người vẫn là dấu hiệu bắt buộc đối với tội phạm hoàn thành.
Vấn đề đặt ra là có những trường hợp trên thực tế chủ thể thực hiện hành vi cố ý giết người, mong muốn cho hậu quả xảy ra, nhưng hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của chủ thể đó. Xin nêu một ví dụ, năm 2009 có trường hợp một người phụ nữ tên là D. đã thực hiện một hành vi đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, do ghen tuông mà D. đã dùng chiếc kim khâu bao tải dài đến 8cm đâm vào đầu một cháu bé mới 40 ngày tuổi để trả thù tình địch, nhưng rất may là cháu bé đã thoát chết. Vấn đề ở đây là hung thủ chưa giết người thành công (theo cách nói của tác giả chưa có “người chết”) là do nguyên nhân khách quan ngoài ý muốn của D.[1]Vậy trường hợp này sẽ xử lý như thế nào?
![]() |
| Dị vật nằm trong đầu cháu bé (Ảnh: VTC News) |
![]() |
| Dị vật nằm trong đầu cháu bé (Ảnh: VTC News) |
Do yêu cầu phải xử lý đồng bộ các hành vi nguy hiểm cho xã hội[2], trong trường hợp này nhà làm luật Việt Nam đã dự liệu rằng nếu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan, nằm ngoài ý muốn của người phạm tội thì hành vi phạm tội vẫn có thể bị coi là giết người chưa đạt (khi có lỗi cố ý trực tiếp) theo Điều 18 BLHS 2009 hoặc là cố ý gây thương tích (khi có lỗi cố ý gián tiếp) theo Điều 104 BLHS 2009.
Trở lại trường hợp đã nêu ở trên, muốn xác định D có phạm tội giết người chưa đạt không, cần phải chứng minh ý chí của người phạm tội có mong muốn hậu quả chết người xảy ra nhưng hậu quả đã không xảy ra do các nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội không. Nếu xác định được đúng như vậy, D. vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người chưa đạt.[3] Do hậu quả chưa xảy ra (cháu bé vẫn còn sống), nên thực hiện chính sách nhân đạo của nhà nước, D sẽ được xử lý nhẹ hơn tội giết người đã hoàn thành. Hay nói cách khác, không có hậu quả “người chết” nhưng theo pháp luật Việt Nam đây vẫn là “tội giết người chưa đạt”.
- Luật pháp của Đức có qui định về phạm tội chưa đạt (Versuchsstadium, Strafbarkeit nach § 22, 23 StGB) và vấn đề phòng vệ chính đáng trong trường hợp khẩn cấp (§ 32 Notwehr)
Thứ nhất, ở Đức cũng có qui định về phạm tội chưa đạt (Tiếng Đức: Der Versuch) tại các Điều 22, 23 Bộ luật hình sự[4] , theo đó tại Điều 23 Khoản 2, tội phạm chưa đạt có thể được xử phạt nhẹ hơn tội phạm đã hoàn thành.[5] Mức độ miễn giảm cụ thể ra sao được qui định tại Điều 49 Khoản 1 Bộ luật hình sự. Như vậy, Bộ luật hình sự của Đức bên cạnh việc qui định tội phạm hoàn thành, cũng đã dự liệu cho cả những trường hợp phạm tội chưa đạt (Versuchsstadium, Strafbarkeit nach § 22, 23 StGB). Hay nói cách khác, những trường hợp cố ý giết người nhưng chưa đạt vì lý do khách quan (Tiếng Đức: Mordversuch) vẫn bị xử lý theo qui định của pháp luật Đức. (Xem thêm: Peter Kasiske, Strafrecht I: Grundlagen und Allgemeiner Teil, Stuttgart, 2011, Rn. 238 f.)
Thứ hai, phòng vệ chính đáng thì không bị coi là tội phạm. Tác giả cho rằng: “[…] hành động chống cự đó chỉ được coi phạm tội ở dạng tự vệ khẩn cấp, như Đức quy định tại điều 32 Bộ Luật Hình sự của họ”. Thông tin này theo tôi là không chính xác. Điều 32 Khoản 1 Bộ luật hình sự Đức không coi phòng vệ chính đáng trong trường hợp khẩn cấp (hay theo tác giả dịch là tự vệ khẩn cấp - Notwehr) là hành vi phạm tội. Điều khoản này qui định: Bất cứ ai thực hiện hành vi tự vệ chính đáng trong trường hợp khẩn cấp thì hành vi đó không bị coi là trái luật.[6] (Xem thêm: Peter Kasiske, Strafrecht I: Grundlagen und Allgemeiner Teil, Stuttgart, 2011, Rn. 96 f.)
Thứ ba, Tác giả đã nêu: “Như ở Đức tội danh này được quy định tại điều 215 Giết người, điều 216 Bức tử, điều 212 Làm chết người không chủ đích, điều 222 Ngộ sát, và điều 32 Làm chết người do tự vệ khẩn cấp.” Sau khi tra cứu lại thì tôi thấy có sự không thống nhất giữa trích dẫn của tác giả và những Điều luật hiện hành của Bộ luật hình sự Đức[7] và có kết quả khác như sau:
Thứ ba, Tác giả đã nêu: “Như ở Đức tội danh này được quy định tại điều 215 Giết người, điều 216 Bức tử, điều 212 Làm chết người không chủ đích, điều 222 Ngộ sát, và điều 32 Làm chết người do tự vệ khẩn cấp.” Sau khi tra cứu lại thì tôi thấy có sự không thống nhất giữa trích dẫn của tác giả và những Điều luật hiện hành của Bộ luật hình sự Đức[7] và có kết quả khác như sau:
Trích dẫn của tác giả
|
Điều luật tra cứu trong Bộ luật hình sự của Đức
(có chú thích tham khảo dịch nghĩa theo cách hiểu của tôi)
|
Điều 215 Giết người
|
Điều 215 đã bị hủy bỏ (weggefallen)
Điều 211 - Mord - Tội giết người trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, mức xử phạt: tù chung thân, mức cao nhất trong BLHS của Đức (Tiếng Đức: Mord/ Tiếng Anh: Murder under specific aggravating circumstances).[8]
|
Điều 216 Bức tử
|
Điều 216 - Tötung auf Verlangen - Tội giúp người khác tự sát, mức xử phạt: phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm (Tiếng Đức: Tötung auf Verlangen/ Tiếng Anh: voluntary euthasasia, assisted suicide).[9]
|
Điều 212 Làm chết người không chủ đích
|
Điều 212 - Totschlag - Tội giết người (không thuộc trường hợp giết người trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng của Điều 211), mức xử phạt: không dưới 5 năm tù (Tiếng Đức: Totschlag/ Tiếng Anh: Murder).[10]
|
Điều 222 Ngộ sát
|
Điều 222 - Fahrlässige Tötung - Tội vô ý giết người, mức xử phạt: bị phạt tù đến 5 năm hoặc bị phạt tiền (Tiếng Đức: Fahrlässige Tötung / Tiếng Anh: negligent homicide).[11]
|
Điều 32 Làm chết người do tự vệ khẩn cấp
|
Điều 32 - Notwehr - Phòng vệ chính đáng (Tiếng Đức: Notwehr/ Tiếng Anh: self-defence).[12]
|
Như vậy qua phân tích đã trình bày ở trên có thể thấy, luật pháp Việt Nam và luật pháp CHLB Đức đều phân biệt rõ hành vi phạm tội chưa đạt (Versuchsstadium, Strafbarkeit nach §§ 22, 23 StGB) vàphạm tội đã hoàn thành (Vollendung, Alle Merkmale sind verwirklicht). Mục đích của qui định này làkhông làm oan người vô tội và không để lọt tội phạm, đồng thời phải xử lý đồng bộ các hành vi nguy hiểm cho xã hội. (Xem thêm: Peter Kasiske, Strafrecht I: Grundlagen und Allgemeiner Teil, Stuttgart, 2011, Rn. 250).
- Quan điểm về trường hợp của Đoàn Văn Vươn
Liên quan đến vụ gia đình anh Vươn, tôi đồng tình với quan điểm của tác giả khi cho rằng không nên cáo buộc tội giết người trong khi vụ việc đang được tiến hành điều tra.
Đi vào cụ thể, tôi cho rằng cần làm rõ anh Vươn “có ý định giết người” hay không hay hành vi của anh chỉ là “phòng vệ chính đáng” theo Điều 15 khoản 1 BLHS 2009.
Thực tế, muốn xác định chính xác cần phải nghiên cứu hồ sơ vụ án một cách đầy đủ, toàn diện, tỉ mỉ, trong đó cần chú trọng đánh giá các nội dung, diễn biến của các yếu tố khác nhau như:
![]() |
| Ảnh: Tuần Việt Nam |
- Địa điểm nơi anh Vươn thực hiện hành vi (Khi xem xét hành vi của anh Vươn cũng cần hết sức lưu ý rằng địa điểm thực hiện hành vi là chỗ ở riêng của họ, không nằm trong diện tích đất bị cưỡng chế)
- Hoàn cảnh cụ thể (Cần xem xét rằng hành vi của anh Vươn thực chất là chống trả lại người đang có hành vi trái pháp luật trực tiếp xâm phạm lợi ích chính đáng của mình, xâm hại chỗ ở hợp pháp của mình).
- Mối quan hệ giữa nạn nhân và anh Vươn như thế nào, nhất là mâu thuẫn giữa đôi bên sâu sắc ở mức nào (Cần lưu ý là gia đình Đoàn Văn Vươn đã tiến hành các thủ tục theo đúng qui định pháp luật, gia đình anh đã khởi kiện lên Tòa án huyện, khởi kiện tiếp lên Tòa án tỉnh thì không được giải quyết…)
- Tác dụng, tính năng của loại phương tiện mà anh Vươn sử dụng, cách thức tiến hành trên thực tế (Súng hoa cải mức độ sát thương ra sao, với loại súng tự tạo, có đủ gây chết người không);
- Hành vi tấn công, cường độ tấn công của hành vi có mức độ mãnh liệt ra sao;
- Vị trí tấn công trên cơ thể nạn nhân (Xem xét vị trí tấn công đó có chứa đựng khả năng chết người hay không);
- Động cơ nào đã thúc đẩy anh Vươn thực hiện hành vi đó (Cần xem xét động cơ thực hiện hành vi của anh Vươn là để bảo vệ tài sản, tính mạng, bảo vệ gia đình);
- Thái độ của anh Vươn biểu hiện trước và sau khi sự việc đã xảy ra như thế nào v.v… Trên thực tế, tôi cho rằng chính việc giao đất, thu hồi đất và việc cưỡng chế sai trái là nguồn gốc dẫn đến hành vi chống trả của anh em Đoàn Văn Vươn. Đến nay khi mà hành vi thu hồi đất, cưỡng chế của chính quyền đã được kết luận là bất hợp pháp (dù là từ phía Thủ tướng chính phủ, không phải Tòa án), thì có nên đặt ra vấn đề xem xét hành vi của anh Vươn theo hướng là một hành vi phòng vệ chính đáng theo Điều 15 Khoản 1 BLHS 2009 hay không? Tất nhiên để chứng minh được điều này là không dễ, nhưng đó vẫn là hướng có lợi nhất cho anh Vươn và gia đình lúc này.
Vụ việc Tiên Lãng xét rộng ra thực chất không chỉ là việc của gia đình anh Vươn mà còn liên quan đến số phận của hàng triệu người nông dân có đất và đang trong nguy cơ mất đất khác trên cả nước. Người dân rất nóng lòng chờ đợi và hy vọng với cách xử lý vấn đề hợp tình hợp lý, chính quyền sẽ tạo được niềm tin với nhân dân, đem lại nhiều điều tốt đẹp không chỉ với gia đình anh Vươn, mà còn với tất cả những người nông dân cả nước.
[1] Xem cụ thể bài viết: Cháu bé 40 ngày tuổi bị kim khâu lốp đóng ngập đầu, đăng ngày 11/11/2009, tại đây: http://www.vtc.vn/2-231279/xa-hoi/chau-be-40-ngay-tuoi-bi-kim-khau-lop-dong-ngap-dau.htm.
[2] Xem thêm: Trịnh Tiến Việt, Về tội phạm chưa đạt và một số hình thức phạm tội khác trong quá trình thực hiện tội phạm, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà nội, Luật học 25 (2009), tr. 125–133.
[3] Xem thêm ý kiến bình luận của Luật sư Phạm Hồng Hải trong bài viết Vụ đâm kim xuyên não: Giết người vì động cơ đê hèn, đăng ngày 16/11/2009, truy cập tại địa chỉ:http://www.baomoi.com/Home/HinhSu/vtc.vn/Luat-su-Pham-Hong-Hai-Chac-chan-la-toi-giet-nguoi/3505030.epi
[4] Bộ luật hình sự của Đức (Strafgesetzbuch - StGB) được thông qua lần đầu ngày 15/5/1871, có hiệu lực 1/1/1872, sửa đổi, bổ sung gần nhất ngày 6/12/2011, hiệu lực lần sửa đổi gần nhất từ ngày 14/12/2011.
[5] Nguyên văn Tiếng Đức: „§ 23 Strafbarkeit des Versuchs (2) Der Versuch kann milder bestraft werden als die vollendete Tat.“/ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 23 (2) An attempt may be punished more leniently than the completed offence”. Theo Điều 22 BLHS Đức hành vi phạm tội chưa đạt phải thỏa mãn hai điều kiện người thực hiện hành vi có lỗi cố ý trực tiếp (ein unmittelbares Ansetzen zur Verwirklichung des Tatbestands) và hậu quả không xảy ra là do nguyên nhân ngoài ý muốn chủ quan của người thực hiện hành vi đó (einen vorbehaltlosen Entschluss zur Verwirklichung des Tatbestandes).
[6] Nguyên văn Tiếng Đức: „§ 32 (1) Wer eine Tat begeht, die durch Notwehr geboten ist, handelt nicht rechtswidrig.“/ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 32 (1) A person who commits an act in self-defence does not act unlawfully”.
[7] Truy cập trang web chính thức của Bộ Tư pháp liên bang Đức (Bundesministerium der Justiz), ngày 21/2/2012, truy cập tại địa chỉ http://www.gesetze-im-internet.de/stgb/index.html hoặc Cổng thông tin pháp luật Đức (Dejure) tại địa chỉ: http://dejure.org/gesetze/StGB (Tình trạng cập nhật văn bản luật (Gesetzesstand): 14/2/2012).
[8] Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 211 Mord (1) Der Mörder wird mit lebenslanger Freiheitsstrafe bestraft. (2) Mörder ist, wer aus Mordlust, zur Befriedigung des Geschlechtstriebs, aus Habgier oder sonst aus niedrigen Beweggründen, heimtückisch oder grausam oder mit gemeingefährlichen Mitteln oder um eine andere Straftat zu ermöglichen oder zu verdecken, einen Menschen tötet.“ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 211 - Murder under specific aggravating circumstances (1) Whosoever commits murder under the conditions of this provision shall be liable to imprisonment for life. (2) A murderer under this provision is any person who kills a person for pleasure, for sexual gratification, out of greed or otherwise base motives, by stealth or cruelly or by means that pose a danger to the public or in order to facilitate or to cover up another offence.”
[9] Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 216 Tötung auf Verlangen (1) Ist jemand durch das ausdrückliche und ernstliche Verlangen des Getöteten zur Tötung bestimmt worden, so ist auf Freiheitsstrafe von sechs Monaten bis zu fünf Jahren zu erkennen. (2) Der Versuch ist strafbar”./ Dịch tham khảo Tiếng Anh:“Section 216 - voluntary euthasasia, assisted suicide (1) If a person is induced to kill by the express and earnest request of the victim the penalty shall be imprisonment from six months to five years. (2) The attempt shall be punishable”.
[10] Nguyên bản Tiếng Đức: “§ 212 Totschlag (1) Wer einen Menschen tötet, ohne Mörder zu sein, wird als Totschläger mit Freiheitsstrafe nicht unter fünf Jahren bestraft. (2) In besonders schweren Fällen ist auf lebenslange Freiheitsstrafe zu erkennen.“/ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 212 Murder (1) Whosoever kills a person without being a murderer under section 211 shall be convicted of murder and be liable to imprisonment of not less than five years. (2) In especially serious cases the penalty shall be imprisonment for life”.
[11] Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 222 Fahrlässige Tötung - Wer durch Fahrlässigkeit den Tod eines Menschen verursacht, wird mit Freiheitsstrafe bis zu fünf Jahren oder mit Geldstrafe bestraft.“ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 222 Negligent homicide - Whosoever through negligence causes the death of a person shall be liable to imprisonment of not more than five years or a fine.”
[12] Nguyên bản Tiếng Đức: „§ 32 (1) Wer eine Tat begeht, die durch Notwehr geboten ist, handelt nicht rechtswidrig.“/ Dịch tham khảo Tiếng Anh: “Section 32 (1) A person who commits an act in self-defence does not act unlawfully”.
Subscribe to:
Posts (Atom)




