Thursday, December 29, 2011

Sửa đổi Hiến pháp ở Mỹ



1. Những chủ thuyết của việc sửa đổi Hiến pháp ở Mỹ
Người Mỹ không tin vào khả năng có một bản hiến pháp hoàn hảo, trường tồn vượt thời gian. Niềm tin này có lẽ khởi nguồn từ những ý tưởng của các tác giả viết về chính quyền của Đảng Whig1 gồm các nhà các cải cách hiến pháp từ giữa thế kỷ 18 như James Burgh, John Cartwright, cũng như các triết gia về chính quyền theo khuynh hướng cộng hòa vào thế kỷ 17, đặc biệt là Algernon Sidney2, người đã từng tuyên bố: “Nếu con người không buộc phải sống trong các hang động và các hốc cây, phải ăn những quả dầu, phải ở trần, thì tại sao họ phải vĩnh viễn sống dưới một hình thức chính quyền mà cha ông họ đã dựng nên vào một thời kỳ đã qua” (Các luận thuyết về chính quyền). Vị Tổng thống Mỹ đầu tiên George Washington, trong một bức thư gửi cho người cháu trai là Bushord, hai tháng sau khi Hội nghị lập hiến Philadephia kết thúc, đã viết: “Những người bạn nhiệt tình nhất và những người ủng hộ nhất đối với bản Hiến pháp cũng không nghĩ rằng nó không có một sai lầm nào”3. Có lẽ người Mỹ ủng hộ mạnh mẽ nhất với với việc cải cách hiến pháp là Tổng thống Jefferson. Điểm đặc trưng trong tư tưởng hiến pháp của Jefferson, làm cho tư tưởng của ông khác với những người đương thời, là sự ủng hộ rất nhiệt tình đối với việc thay đổi hiến pháp, kể cả ở cấp tiểu bang lẫn cấp quốc gia4. Những triết lý về việc sửa đổi hiến pháp của ông được trích dẫn một cách rộng rãi trong các nghiên cứu về sửa đổi hiến pháp Mỹ. Người ta thường trích dẫn lại những lời này trong một bức thư mà Jefferson viết năm 1861 tuyên bố với Samuel Kercheval vai trò của ông đối với vấn đề thay đổi hiến pháp: “Một số người nhìn hiến pháp với một lòng sùng đạo quá mức, và tưởng rằng hiến pháp là một ánh hào quang của sự thỏa thuận, sợ không dám đụng vào chúng5. Họ gán cho các bậc tiền bối sự thông thái hơn con người, và nghĩ rằng những gì họ làm không thể sửa đổi… Tôi đương nhiên là không ủng hộ việc thay đổi luật và hiến pháp một cách thường xuyên và thiếu kinh nghiệm… Nhưng tôi cũng nghĩ rằng, luật và các định chế phải song hành với sự phát triển của trí tuệ con người. Khi trí tuệ con người trở nên phát triển hơn, sáng suốt hơn, khi xuất hiện những khám phá mới, sự thật mới được phơi bày, cách cư xử và quan niệm thay đổi cùng với sự thay đổi của hoàn cảnh, các định chế cũng phải tiến bộ theo… Mỗi thế hệ đều độc lập như những thế hệ đi trước… Vậy thì họ cũng phải có quyền, như các thế hệ trước, chọn cho mình một mô hình chính quyền mà họ tin rằng sẽ đem lại một cách tốt nhất hạnh phúc của riêng họ”6.
Tư tưởng hiến pháp của Jefferson gợi mở những cơ sở duy lý của việc sửa đổi hiến pháp ở Mỹ. Các nghiên cứu hiến pháp ở Mỹ về sau cụ thể hơn những lý do về mặt lý thuyết của việc sửa đổi hiến pháp. Tại sao hiến pháp phải được sửa đổi?
Học thuyết chủ quyền nhân dân được coi là cơ sở quan trọng của việc sửa đổi hiến pháp. Như được đề cập trong bức thư của Jefferson, người dân trong các thế hệ khác nhau phải có quyền lựa chọn mô hình chính quyền cho mình. Điều này cần phải truy nguyên đến học thuyết về chủ quyền nhân dân của John Locke được phát triển trong danh tác “Luận thuyết thứ hai về chính quyền”. Ban đầu, người Mỹ coi học thuyết chủ quyền nhân dân như một tảng nền lý thuyết để lập quốc7, rồi sau đó là cơ sở để xây dựng hiến pháp, và sau đó nữa, việc sửa đổi hiến pháp cũng dựa trên học thuyết này. Mặc dù tư tưởng chủ quyền nhân dân đã được người Mỹ nhận thức rõ rệt từ năm 1776 (thông qua Tuyên ngôn Độc lập), sự áp dụng học thuyết này để xây dựng nên các thể chế chính quyền chỉ diễn ra ở các thập kỷ tiếp theo. Dần dần, người ta nhận ra rằng học thuyết chủ quyền nhân dân đòi hỏi hiến pháp phải được soạn thảo bởi một đại hội phổ thông do dân chúng bầu, chứ không phải là một cơ quan lập pháp thường, và sau đó được phê chuẩn theo một quy trình thể hiện sự chấp thuận của dân chúng - lý tưởng nhất là thông qua trưng cầu dân ý. Điều này đã được ứng dụng trong việc ban hành Hiến pháp của tiểu bang Massachusetts năm 1780 và hiến pháp của tiểu bang New Hampshire năm 1784. Sau đó, cho đến thế kỷ 19, hình thức trưng cầu dân ý trở thành một tiêu chuẩn để lập hiến ở các tiểu bang8. Người Mỹ nhanh chóng kết luận rằng: nếu một bản hiến pháp dựa vào sự ưng thuận của dân chúng, thì người dân cũng có thể thay thế nó bằng một bản hiến pháp khác. John Locke cho rằng dân chúng có quyền thay đổi chính quyền khi chính quyền xâm hại đến hạnh phúc của dân chúng đến mức xã hội dân sự phải trở về trạng thái tự nhiên. Người Mỹ đã đi xa hơn tư tưởng của Locke khi định chế hóa quyền thay đổi hiến pháp của xã hội dân sự. Điều này không chỉ gồm có việc thay đổi một hiến pháp mới mà còn gồm cả việc sửa đổi một cách chính thức hiến pháp đó9.
Như vậy, việc sửa đổi hiến pháp được gắn với hạnh phúc của những con người đang sống dưới hình thức chính quyền mà hiến pháp đó điều tiết. Những thế hệ đang sống phải có quyền điều chỉnh những gì mà cha ông họ đã xác lập theo một cách thức đem lại hạnh phúc cho họ.
Trong một bức thư viết cho Madison, Jefferson đã đưa ra một lý thuyết quan trọng làm cơ sở cho sự ủng hộ của mình đối với việc thay đổi hiến pháp. Đó là lý thuyết “chủ quyền của thế hệ hiện tại”. Lý thuyết này được thể hiện qua một văn thức đặc biệt trong bức thư: “Trái đất thuộc về những người đang sống”. Một câu hỏi cơ bản mà Jefferson đặt ra trong bức thư gửi cho Madison là: “ Một thế hệ có quyền ràng buộc một thế hệ khác không?” Jefferson bắt đầu với một nguyên lý hiển nhiên là: “Hoa lợi trên trái đất thuộc về những người đang sống”. Người chết không có quyền và quyền lợi đối với nó. Bất cứ quyền và quyền lợi mà một người có trong khi sống cũng sẽ chấm dứt sau cái chết của anh ta. Lấy quyền tài sản của một cá nhân làm ví dụ, Jefferson cho rằng quyền và quyền lợi của một thế hệ cũng tương tự như vậy: “Điều gì đúng với mỗi thành viên riêng rẽ của một xã hội thì cũng đúng với họ như một tổng thể vì quyền của tổng thể không thể là gì khác hơn là tổng số quyền của các cá nhân”. Điều đó có nghĩa, trái đất thuộc về thế hệ đang sống. Tiêu chuẩn để đo lường đời sống của một thế hệ nhất định là triển vọng sống của đa số những người ở độ tuổi cao nhất vào thời điểm mà một hợp đồng (hiến pháp, luật) được xác lập. Jefferson tính toán rằng, 19 năm là khoảng thời gian sống trung bình của một thế hệ. Những lập luận trên là cơ sở cho quan niệm về sửa đổi hiến pháp. “Không một xã hội nào có thể làm ra một hiến pháp vĩnh hiễn hay một đạo luật bất diệt”, “ Trái đất luôn thuộc về những người đang sống. Hiến pháp và luật của những thế hệ cha ông họ mất đi cùng với sự mất đi của những người đã đem lại cho chúng sự sống”. Jefferson kết luận: “Mọi hiến pháp và mọi luật sẽ tự nhiên mất hiệu lực vào thời điểm cuối cùng của 19 năm tồn tại. Nếu nó hiệu lực lâu hơn, nó là một sự áp đặt, không phải là quyền”10.
Tóm lại, người Mỹ quan niệm hiến pháp phải được sửa đổi vì đó là quyền của thế hệ đang tồn tại: họ được quyền điều chỉnh mô hình chính quyền sao cho có thể đem lại hạnh phúc cho họ. Một mô hình chính quyền đã được xác lập từ thế hệ trước nếu không được điều chỉnh sẽ là một áp đặt đối với thế hệ đang sống. Như vậy, đối với vấn đề sửa đổi hiến pháp ở Mỹ, lý thuyết chủ quyền nhân dân đã dẫn đến lý thuyết “chủ quyền của thế hệ hiện tại.”
2. Quy trình sửa đổi hiến pháp ở Mỹ
Quy trình sửa đổi Hiến pháp liên bang ở Mỹ được quy định trong điều V của Hiến pháp như sau: “Khi hai phần ba thành viên của hai Viện đều xét thấy cần thiết sẽ đưa ra những điều sửa đổi đối với Hiến pháp, hoặc theo yêu cầu của các cơ quan lập pháp ở hai phần ba các bang, sẽ triệu tập một Hội nghị để đề xuất những điều sửa đổi; trong cả hai trường hợp, các điều khoản sửa đổi Hiến pháp đều có hiệu lực như một bộ phận của Hiến pháp khi được phê chuẩn bởi các cơ quan lập pháp của ba phần tư các bang, hoặc bởi Đại hội của ba phần tư các bang, theo một thể thức phê chuẩn do Quốc hội đề nghị với điều kiện là không một điều sửa đổi nào có thể được đề xuất trước năm 1808 theo một cách thức ảnh hưởng đến đoạn 1 và đoạn 4 trong khoản 9 của Điều 1; và không một bang nào, nếu bản thân không đồng ý, lại có thể bị tước đoạt quyền bỏ phiếu bình đẳng trong Thượng Viện”. 
2.1. Sáng quyền tu chính hiến pháp
Hiến pháp Mỹ dự trù hai chủ thể có sáng quyền tu chính hiến pháp là Quốc hội liên bang và Hội nghị hiến pháp.
Quốc hội liên bang được đề xuất sửa đổi hiến pháp. Khi đề xuất sửa đổi hiến pháp, cần phải có sự đồng ý của 2/3 tổng số thành viên có mặt theo túc số hành động của hai viện Quốc hội, chứ không phải 2/3 tất cả các thành viên của Quốc hội. Việc bỏ phiếu với tỉ lệ 2/3 chỉ áp dụng đối với việc thông qua văn bản cuối cùng về đề nghị sửa đổi. Như vậy, bản đề nghị sửa đổi có thể được sửa đổi bằng một cuộc bỏ phiếu đa số, nhưng tỉ lệ 2/3 là cần thiết khi một viện bỏ phiếu lần cuối cùng đồng ý với bản đề nghị sửa đổi của viện kia11.
Khi Quốc hội trình đề nghị sửa đổi hiến pháp, Quốc hội không phải đang thực thi quyền lập pháp thông thường. Vì vậy, đề nghị sửa đổi hiến pháp của Quốc hội không cần sự chấp nhận của Tổng thống, và cũng không bị ảnh hưởng bởi quyền phủ quyết của Tổng thống. Tòa án tối cao liên bang đã đưa ra phán quyết về vấn đề này trong vụ Hollingsworth v.Virgina. Tòa án đã giải thích: Đề nghị sửa đổi hiến pháp không cần phải đưa cho Tổng thống. Hiến pháp chỉ yêu cầu Tổng thống ký vào các đạo luật thường. Hành động của Quốc hội trong việc đề nghị sửa đổi hiến pháp là một hành động có tính hiến pháp chứ không phải là ban hành một đạo luật thường12.
Hiến pháp Mỹ không đặt ra những giới hạn của quyền đề nghị sửa đổi hiến pháp của Quốc hội, trừ một giới hạn là các tiểu bang không bị tước quyền bình đẳng trong Thượng viện khi không đồng ý với nội dung sửa đổi hiến pháp. Tòa án tối cao liên bang đã cho rằng điều V của Hiến pháp có khuynh hướng trao cho Quốc hội một quyền lực rộng lớn trong việc đề nghị sửa đổi hiến pháp. Khi đệ trình đề nghị sửa đổi hiến pháp, Quốc hội không cần phải tuyên bố rõ ràng việc sửa đổi hiến pháp là cần thiết vì một nghị quyết chung giữa hai viện đủ để cho thấy rằng sửa đổi hiến pháp là cần thiết13.
Hiến pháp Mỹ cũng quy định rằng, Quốc hội, khi có yêu cầu của cơ quan lập pháp của 2/3 các bang, “sẽ” triệu tập một Hội nghị để sửa đổi hiến pháp. Tòa án tối cao giải thích rằng “sẽ” có nghĩa là “phải”. Nhiệm vụ của Quốc hội là phải triệu tập một Hội nghị như vậy. Nhưng Quốc hội có quyền quyết định trong điều kiện như thế nào thì Quốc hội phải thực hiện nghĩa vụ đó, việc tổ chức Hội nghị có hợp lý hay không, khi nào số lượng các bang đủ đề yêu cầu triệu tập Hội nghị14.
Mặc dù hiến pháp tạo ra hai con đường hình thành sáng quyền tu chính hiến pháp là Quốc hội và Đại hội hiến pháp nhưng trên thực tế, tất cả các tu chính án hiến pháp Mỹ đều do Quốc hội đề xuất. Chưa có một sửa đổi hiến pháp nào được thông qua trên cơ sở sáng quyền tu chính của Đại hội hiến pháp. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Hiến pháp đã dự trù ra một con đường tu chính thứ hai vô nghĩa. Theo giải thích của Akhil Reed Amar, giáo sư luật hiến pháp danh tiếng của Trường Luật Yale, việc hiến pháp dự trù hình thức Đại hội hiến pháp đệ trình đề nghị sửa đổi hiến pháp có ý nghĩa ngăn cản không để cho Quốc hội có quyền tự quyết đối với những cải cách hiến pháp cần thiết để giới hạn quyền lực của Quốc hội. Một Đại hội hiến pháp được triệu tập trên cơ sở đề nghị của 2/3 cơ quan lập pháp của các bang có quyền đệ trình đề nghị sửa đổi hiến pháp có nghĩa việc sửa đổi hiến pháp không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của Quốc hội liên bang15.
2.2. Phê chuẩn sửa đổi hiến pháp
Hiến pháp Mỹ dự trù hai hình thức phê chuẩn hiến pháp là phê chuẩn bởi các cơ quan lập pháp của ¾ các bang; hoặc phê chuẩn bởi Đại hội hiến pháp của ¾ các bang. Như vậy, trong cả hai trường hợp, sửa đổi hiến pháp phải được sự đồng ý của ¾ các bang. Trong cả hai trường hợp, việc sửa đổi hiến pháp được xem xét cẩn trọng bởi người đại diện của dân chúng (cơ quan lập pháp bang hoặc Hội nghị hiến pháp). Với cách thức như vậy, tiếng nói của dân chúng được phản ánh trong việc sửa đổi hiến pháp.
Việc phê chuẩn của cơ quan lập pháp bang đối với việc sửa đổi hiến pháp không phải là một hành vi lập pháp theo nghĩa thông thường của từ này. Nó là sự thể hiện sự đồng thuận của bang đối với dự án sửa đổi hiến pháp. Chức năng của cơ quan lập pháp bang trong việc phê chuẩn hiến pháp là một chức năng liên bang16. Các học giả luật hiến pháp Mỹ lưu ý rằng, khi các bang phê chuẩn sửa đổi hiến pháp liên bang, họ hành động một cách đặt biệt, như một Cơ quan Liên bang. Quyền lực của họ trong việc phê chuẩn hiến pháp bắt nguồn từ nguồn lực liên bang17. Vì Hiến pháp liên bang trao cho họ quyền này và quyết định của họ có giá trị ràng buộc đối với toàn liên bang.
Khi dự trù một hình thức thứ hai để phê chuẩn hiến pháp là Đại hội hiến pháp của ¾ các bang, Hiến pháp Mỹ không quy định cụ thể Đại hội này sẽ được triệu tập và thành lập như thế nào. Vì không có luật của liên bang quy định về vấn đề này, các bang phải tự quy định. Có bang, luật pháp quy định rằng các đại biểu phải được bầu từ những đơn vị khác nhau trong nội bộ bang. Các đại biểu đó không tập hợp thành những nhóm lớn có tổ chức, không được bầu theo đảng phái, bởi vì nếu như thế cử tri sẽ thể hiện sự lựa chọn của mình bằng cách loại bỏ nhóm đối lập. Nhưng, có bang lại quy định cử tri sẽ bỏ phiếu cho một nhóm đại biểu18. Như vậy, việc lựa chọn các đại biểu tham gia Đại hội hiến pháp tùy thuộc vào pháp luật của từng bang.
Hiến pháp Mỹ có thể được sửa đổi dưới hình thức trưng cầu dân ý không? Có nghĩa là thay vì dự thảo sửa đổi hiến pháp được phê chuẩn bởi cơ quan lập pháp của bang, nó có thể được phê chuẩn bởi một cuộc trưng cầu dân ý ở các bang hay không? Vấn đề này đã phải được phán quyết tại Tòa án tối cao liên bang trong vụ Hawke v.Smith. Tòa án giải thích rằng quyền lập pháp của bang xuất phát từ nhân dân của bang nhưng quyền phê chuẩn dự thảo sửa đổi hiến pháp liên bang của bang lại xuất phát từ Hiến pháp liên bang. Hành động phê chuẩn bởi các bang do Hiến pháp quy định, điều mà các bang và nhân dân các bang đã đồng ý. Phương pháp phê chuẩn tùy thuộc vào sự lựa chọn của Quốc hội. Việc xác định phương pháp phê chuẩn là việc thực thi quyền lực của quốc gia được quy định bởi Hiến pháp liên bang. Ngôn ngữ trong điều V của Hiến pháp đã rõ ràng. Tòa án, cũng như các cơ quan lập pháp của quốc gia, của các bang không có chức năng thay đổi phương pháp sửa đổi hiến pháp mà Hiến pháp đã ấn định19.
Một vấn đề liên quan đến việc phê chuẩn sửa đổi hiến pháp là thời hạn phê chuẩn. Hiến pháp không ấn định thời hạn phê chuẩn hiến pháp20. Tuy nhiên, vấn đề này đã phần nào được giải quyết trong vụ án Dillon v. Gloss. Trong vụ án này, Tòa án tối cao liên bang đã cho rằng việc phê chuẩn phải tương thích với yêu cầu số lượng các bang để phản ánh ý chí của nhân dân. Vì vậy, phê chuẩn phải được tiến hành trong một “thời gian hợp lý” sau khi đệ trình đề nghị sửa đổi hiến pháp. Tòa án cho rằng, Hiến pháp đã trao cho Quốc hội một quyền lực rộng lớn trong việc đệ trình sửa đổi hiến pháp, và vì vậy, thời gian 7 năm cho việc phê chuẩn là hợp lý21.
Quy trình sửa đổi hiến pháp được ấn định trong Hiến pháp liên bang Mỹ không phải là sự sáng tạo riêng biệt của các đại biểu ở Philadelphia vào năm 1787. Trước đó, các tiểu bang mới giành được độc lập của Mỹ đã có hiến pháp và cũng đã thử nghiệm những hình thức sửa đổi hiến pháp khác nhau. Trong đó, có những hiến pháp tiểu bang đã quy định những hình thức sửa đổi hiến pháp tiến bộ, mà sau này được kế thừa trong Hiến pháp của liên bang. Đó là hiến pháp của ba tiểu bang Masachusettes, Pennsylvania, và New Hampshire.
Giáo sư Amar cho rằng, hệ thống sửa đổi hiến pháp được quy định trong Hiến pháp liên bang đã kết hợp được những ưu điểm và bỏ qua những khiếm khuyết của các điều khoản về sửa đổi hiến pháp trong hiến pháp của các tiểu bang. Thứ nhất, để bảo đảm những giới hạn quan trọng của nhân dân đối với quyền lực của Quốc hội, Hiến pháp đã sáng suốt không cho phép Quốc hội đơn phương thay đổi các giới hạn đó. Bằng cách này, Điều V của Hiến pháp đã đặt hiến pháp lên một vị trí tối cao so với các đạo luật thường của Quốc hội. Quốc hội bị đặt ra ngoài quá trình phê chuẩn hiến pháp, một điều có ý nghĩa ngăn cản những ý đồ tự điều chỉnh quyền lực hiến định của Quốc hội. Hơn nữa, để chống lại một Hội nghị liên bang độc tài có thể tự tôn mình làm bá chủ, Điều V quy định nếu và khi được triệu tập, Hội nghị đó chỉ được đệ trình đề nghị sửa đổi hiến pháp, còn sự phê chuẩn được tiến hành độc lập. Ngoài ra, để tránh rủi ro là các cơ quan lập pháp của tiểu bang tự cản trở những cải cách cần thiết để giới hạn quyền lực của họ hoặc bổ sung quyền cho chính phủ trung ương, Điều V đã cho phép Quốc hội bỏ qua những cơ quan này bằng việc ủng hộ các Hội nghị phê chuẩn đặc biệt ở các tiểu bang. Cuối cùng, để cho phép quốc gia có thể phản ứng được với những khủng hoảng bất cứ khi nào nó xảy ra, Điều V không đặt ra thời gian giới hạn đối với quy trình sửa đổi (tuy nhiên, viêc buôn bán nô lệ bên bờ kia Đại Tây Dương được miễn trừ khỏi việc sửa đổi hiến pháp cho đến năm 1808)22.
Tuy nhiên, những điều đó không có nghĩa quy trình sửa đổi hiến pháp Mỹ là hoàn hảo. Các học giả Mỹ đã chỉ ra những hạn chế trong Điều V của Hiến pháp Mỹ về quy trình tu chính hiến pháp. Một trong những hạn chế lớn nhất là giới hạn sửa đổi hiến pháp. Đặt biệt, giáo sư Amar đặt ra hàng loạt những câu hỏi: Bản thân điều V có thể là đối tượng của việc sửa đổi không? Nếu không, tại sao điều V không nói gì? Có những điều cốt yếu của Hiến pháp không thể sửa đổi được không? Ví dụ, chính thể cộng hòa có thể được sửa đổi không? Một vấn đề cũng gây quan ngại là vấn đề trưng cầu dân ý khi sửa đổi hiến pháp. Giáo sư Amar đặt ra vấn đề: nếu đa số người Mỹ yêu cầu triệu tập một Hội nghị hiến pháp, Quốc hội có nhiệm vụ phải đáp ứng không? Quốc hội hoặc Hội nghị hiến pháp có thể đưa dự án sửa đổi cho toàn thể dân chúng Mỹ bỏ phiếu trực tiếp dưới hình thức một hội nghị phê chuẩn toàn quốc hoặc trưng cầu dân ý toàn quốc?23 Nếu tham chiếu với nhiều hiến pháp của các nước Châu Âu, những điểm trên là nhược điểm trong quy trình sửa đổi hiến pháp Mỹ. Nhiều hiến pháp Châu Âu thường đặt ra những giới hạn đối với việc tu chính hiến pháp như không được sửa đổi chính thể và chính điều khoản quy định về việc sửa đổi hiến pháp. Ngoài ra, tôn trọng triệt để thuyết chủ quyền nhân dân, nhiều hiến pháp Châu Âu quy định trưng cầu dân ý như một thủ tục bắt buộc để thông qua hiến pháp.
(Kỳ sau đăng tiếp)
(1) Đảng Whig, tiền thân của Đảng tự do ở Anh, phát triển từ cuối thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19.
(2) Algernon Sidney (1623-1783), một nhà chính trị, một lý thuyết gia về chính trị người Anh, tác giả của “Các luận thuyết về chính quyền”, một tác phẩm được Jefferson đánh giá cao như một nghiên cứu chính yếu về chính quyền.
(3) Sanford Levinson. Our undemocratic Constitution ( New  York: Oxford University press, 2006), pp.21.
(4) David N.Mayer. The constitutional thought of Thomas Jefferson (Virgina: University of Virgina press, 1994), pp.296.
(5) Ở Mỹ, trong buổi đầu của nền cộng hòa, 6 trên 13 hiến pháp của các tiểu bang được viết như “những hiến chương bất diệt” và không có quy định về sửa đổi hiến pháp.
     
Ở Việt Nam, có vị học giả ví hiến pháp như “bàn thờ”. Đáp lại một cách hài hước, một vị học giả khác cho rằng “bàn thờ” cũng phải được lau chùi hàng năm trước những ngày Tết.
(6) Sanford Levinson. Our undemocratic Constitution ( New  York: Oxford University press, 2006), pp.IX.
(7) Đoạn đầu trong Tuyên ngôn Độc lập của Jefferson phản ánh rõ điều này qua văn thức: “Rằng để đảm bảo cho những quyền lợi này, các chính phủ được lập ra trong nhân dân và có được những quyền lợi chính đáng trên cơ sở sự nhất trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào một thể chế chính quyền nào đó phá vỡ những mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc loại bỏ chính quyền đó và lập nên một chính quyền mới…” Trích lại từ: Vũ Đình Hòe. Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh. Nxb Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 2005, tr.231.
(8) Cho đến nay, 48/50 tiểu bang ở Mỹ quy định trưng cầu dân ý như một quy trình bắt buộc của việc sửa đổi hiến pháp.
(9) Donald S.Lutz. “Toward a theory of constitutional amendment,” American Political Science Review. Vol. 88, No. 2 June 1994, pp.355-356.
(10) David N.Mayer. The constitutional thought of Thomas Jefferson (Virgina: University of Virgina press, 1994), pp.304
(11) Westel W.Willoughby. Principles of the Constitutional law of the United States (New York: Baker, Voorhis & Co press, 1933), pp. 247
(12) Joseph F.Menez, John R.Vile. Summaries of leading cases on the Constitution (Rowman & Littlefield Publisher press, 2004), pp.190..
(13) American Jurisprudence, Volume 16, Conflict of law to Constitutional law ( West Group, 1998) pp.360.
(14) American Jurisprudence, Volume 16, Conflict of law to Constitutional law ( West Group, 1998) pp.360.
(15) Akhil Reed Amar. America’s Constitution- A Biography (New York: Random House press, 2005), pp.290.
(16) American Jurisprudence, Volume 16, Conflict of law to Constitutional law (West Group, 1998) pp.361.
(17) Westel W.Willoughby. Principles of the Constitutional law of the United States (New York: Baker, Voorhis & Co press, 1933), pp. 213.
(18) American Jurisprudence, Volume 16, Conflict of law to Constitutional law ( West Group, 1998) pp.362.
(19)  Joseph F.Menez, John R.Vile. Summaries of leading cases on the Constitution (Rowman & Littlefield Publisher press, 2004), pp.192-193.
(20) Tu chính án thứ 27 của Hiến pháp Mỹ được ban hành sau 202 năm đề xuất.
(21) Joseph F.Menez, John R.Vile. Summaries of leading cases on the Constitution (Rowman & Littlefield Publisher press, 2004), pp.194.

Bùi Ngọc Sơn - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà nội

Tăng tính chịu trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội


Tác giả: Võ Trí Hảo
Bài đã được xuất bản.: 04/12/2011 05:00 GMT+7
Không thể dùng một Quốc hội nghiệp dư để kiểm soát một Chính phủ chuyên nghiệp được; không thể dùng một Quốc hội họp „xuân thu nhị kỳ" để bám sát dòng chảy liên tục của công việc quản lý nhà nước.
Hiện nay theo quy định của Hiến pháp 1992 cũng như theo quy định của Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội thì tất cả các thành viên của Chính phủ có thể bị chất vấn trước Quốc hội. Nhưng hiệu quả hoạt động chất vấn chưa đủ cao, chưa trở thành một áp lực thực sự đối với các thành viên của Chính phủ. Hiệu quả chất vấn cũng như tính chịu trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội còn chưa cao liên quan đến vấn đề ai chất vấn ai? Người chất vấn có động cơ gì, thông tin gì? Chất vấn xong để làm gì?
Nguyên tắc bất khả kiêm chưa được công nhận
Vấn đề lớn nhất hiện nay làm cho tính chịu trách nhiệm của Chính phủ trước Quốc hội thấp là nguyên tắc „bất khả kiêm" - là một nguyên tắc phổ quát của các nghị viện trên thế giới -  vẫn chưa được thừa nhận ở Việt Nam. Chính vì chế độ bất khả kiêm chưa được áp dụng nên hiện nay, ngoài số đại biểu chuyên trách[1] chiếm khoảng 30%, thì khoảng 70% đại biểu còn lại là đại biểu kiêm nhiệm[2]. Phần đông các đại biểu kiêm nhiệm này xem công việc của đại biểu QH là việc phụ, không mấy ảnh hưởng đến sự nghiệp chính trị của mình. Họ không có nhu cầu sống còn làm cho Quốc hội mạnh lên, không có động cơ xây dựng một Quốc hội thực quyền; ngược lại một Quốc hội yếu ớt, thiếu hiểu biết về quản lý nhà nước thì càng làm cho công việc của họ trở nên dễ thở, ít bị soi mói. Điều này càng đúng đối với những đại biểu quốc hội, nhưng chính bản thân họ hoặc thủ trưởng của họ thường phải trả lời chất vấn trước Quốc hội.
Ảnh Lê Anh Dũng
Hiện nay, các lãnh đạo Quốc hội bao giờ cũng muốn làm cho Quốc hội thực quyền, thông qua đó quyền lực chính trị của mình được mở rộng tầm ảnh hưởng. Tuy nhiên, đó chỉ là mong muốn của số ít trong Quốc hội, chưa phải là mong muốn của hơn 70% đại biểu còn lại. Không thể dùng một Quốc hội nghiệp dư để kiểm soát một Chính phủ chuyên nghiệp được; không thể dùng một Quốc hội họp „xuân thu nhị kỳ" để bám sát dòng chảy liên tục của công việc quản lý nhà nước.
Tình hình sẽ khác hẳn, khi nguyên tắc bất khả kiêm được thừa nhận. Nếu nguyên tắc bất khả kiêm được thừa nhận, thì không riêng gì lãnh đạo Quốc hội mà từng đại biểu Quốc hội đều xem việc làm đại biểu là một nghề, gắn liền với sự nghiệp chính trị của họ. Các đại biểu sẽ không còn lợi ích nào để chăm chút ngoài việc khẳng định, củng cố vị trí đại biểu của mình. Lúc đó các đại biểu Quốc hội sẽ đồng thanh với lãnh đạo Quốc hội xây dựng một Quốc hội chuyên nghiệp, thực quyền, thực hiện đúng thẩm quyền và chức năng mà hiến pháp đã quy định.
Chế độ thông tin của đại biểu Quốc hội chưa được bảo đảm
Để chất vấn nói riêng cũng như giám sát nói chung được hiệu quả thì Đại biểu Quốc cần có được thông tin một cách đầy đủ và kịp thời. Hiện nay Quốc hội giám sát Chính phủ chủ yếu dựa trên các số liệu, thông tin mà các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ cung cấp. Mà số liệu này thường không đầy đủ và có độ tin cậy thấp. Ví dụ điển hình là Petrolimex một mặt than kinh doanh xăng dầu lỗ để xin tăng giá, nhưng trong báo cáo để chuẩn bị IPO thì lại báo cáo lãi hàng nghìn tỷ đồng[3].
Việc che dấu thông tin của Chính phủ đối với Quốc hội, ở mức độ nhiều hay ít đều diễn ra ở các nước. Nhưng nghị sỹ các nước không bị mù khi phía Chính phủ che dấu thông tin vì họ có nhiều nguồn thông tin có giá trị khác.
Các nghị sỹ này thường có văn phòng riêng và được quyền tuyển dụng đội ngũ giúp việc cho mình. Chính đội ngũ này sẽ giúp nghị sỹ tìm kiếm và tổng hợp thông tin. Ngoài ra, mỗi nghị sỹ thường đại diện thực sự cho một ngành nghề hay một địa phương nào đó, nên các tổ chức này sẽ tích cực cung cấp thông tin cho các nghị sỹ. Đặc biệt các nghiệp đoàn, hiệp hội thường cử các luật sư, chuyên gia, cố vấn của mình phối hợp với các nghị sỹ để bảo vệ lợi ích của ngành, của các thành viên hiệp hội một cách tốt nhất. Chính sợi dây liên hệ chặt chẽ này, nên các nghị sỹ luật có thông tin đầy đủ kịp thời để chất vấn chính phủ; nâng cao tính chịu trách nhiệm của chính phủ.
Vấn đề bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ
Hiện nay, theo Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội thì Ủy ban thường vụ QH hoặc một nhóm từ 20% đại biểu Quốc hội (Điều 13) có thể đề xuất việc „bỏ phiếu tín nhiệm" đối với thành viên chính phủ. Tuy nhiên cơ chế „bỏ phiếu tín nhiệm" hiện nay có rất nhiều bất cập.
Trước hết, có lẽ người soạn thảo đạo luật này đã dùng lẫn lộn từ ngữ giữa „bỏ phiếu tín nhiệm" và „bỏ phiếu bất tín nhiệm". Nếu đề xuất bỏ phiếu xuất phát từ người được đưa ra bỏ phiếu nhằm đánh giá sự tín nhiệm của quốc hội/nghị viện dành cho mình cao hay thấp, đề từ đó mình có thể đưa ra chính sách cải cách mang tính đột phá hay không. Hay nói cách khác trong „bỏ phiếu tín nhiệm", thì các thành viên của chính phủ sẽ đóng vai trò chủ động, sẽ là người đề xuất việc bỏ phiếu.
Nếu nghị viện/quốc hội bất bình với cách lãnh đạo, điều hành của cá nhân bộ trưởng hay cả tập thể chính phủ nói chung, từ đó để xuất việc bỏ phiếu, thì trong trường hợp này là đề xuất bỏ phiếu nhằm bày tỏ sự không hài lòng, nên cần được gọi là „bỏ phiếu bất tín nhiệm". Hay nói cách khác, khi thành viên chính phủ bị động trong việc bị mang ra bỏ phiếu, thì đây chính là việc bỏ phiếu „bất tín nhiệm".
Theo hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay, thì không có hiện tượng thành viên Chính phủ hay tập thể Chính phủ tự nêu ra vấn đề bỏ phiếu, mà họ chỉ có thể bị bỏ phiếu ở dạng bị động, dạng này đáng tiếc là được Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội gọi là „bỏ phiếu tín nhiệm".
Vì sự nhầm lẫn này, nên trong bài viết này tôi xin dùng từ bỏ phiếu bất tín nhiệm để chỉ hiện tượng các thành viên Chính phủ bị động trong việc bị đưa ra bỏ phiếu.
Việc sử dụng nhầm từ, chỉ là dấu hiệu hình thức, không thay đổi bản chất, vị trí quyền lực nhưng nó gián tiếp thể hiện việc biên tập viên khi soạn thảo dự thảo luật đã chưa nghiên cứu thấu đáo về hoạt động giám sát của Quốc hội.
Vấn đề quan trọng nhất của cơ chế bỏ phiếu bất tín nhiệm của Luật này, nằm ở chỗ đã đặt ra yêu cầu quá cao, dẫn đến đề nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm gần như không thể hình thành từ các đại biểu Quốc hội được. Vì luật này đã đưa ra tỷ lệ 20% tổng số đại biểu QH, trong khi thông lệ của các nghị viện thì con số này chỉ là 10%. Đặc biệt trong điều kiện một đảng và cơ chế sinh hoạt của Đảng đoàn Quốc hội thì 10% cũng đã là đặc biệt khó rồi chứ nói gì đến 20%. Hơn nữa, Luật này cũng hoàn toàn không đề cập đến việc làm thế nào để có thể thu thập được sự đồng ý của 20% tổng số Đại biểu QH để có thể đưa ra đề nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm.
Không có chế định bất tín nhiệm tập thể Chính phủ. Hiện nay mặc dầu Hiến pháp 1992 quy định tập thể Chỉnh phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, nhưng trên thực tế Quốc hội không có công cụ gì để bắt Chính phủ phải chịu trách nhiệm một cách tập thể trước Quốc hội. Đơn giản, là Quốc hội chỉ có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với từng cá nhân bộ trưởng, mà không có quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với toàn bộ tập thể Chính phủ. Hay nói cách khác là dù hoàn thành tốt công việc hay không thì Quốc hội không thể bắt tập thể Chính phủ phải ra đi và bầu lại Chính phủ mới. Việc thiếu vắng cơ chế bỏ phiếu bất tín nhiệm đối với tập thể Chính phủ, cùng với thiếu vắng trách nhiệm liên đới giữa các thành viên Chính phủ nên dẫn đến việc đùn đẩy trách nhiệm giữa các bộ mà tranh cãi giữa Bộ tài chính và Bộ công thương về giá xăng dầu là một ví dụ.
Theo Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp

[1] Theo Điều 45 Luật tổ chức Quốc hội, thì tỷ lệ đại biểu chuyên trách chiếm ít nhất 25%
[2] Quốc hội Khóa XII chỉ có 29, 41% đại biểu chuyên trách, dẫn theo Bùi Ngọc Chương, Báo cáo khoa học đề tài „Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ đại biểu Quốc hội trong hoạt động lập pháp", năm 2009, trang 11


Bàn lại vấn đề “ông chủ” và “đầy tớ” trong mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội






NCLP. Ngày 20/12/2011, Website Nghiên cứu Lập pháp đăng bài Quyền tuyển và đuổi “đầy tớ” của dân của Võ Trí Hảo. Bài viết đã nhận được nhiều hồi âm thú vị từ bạn đọc trong và ngoài nước. Là “Diễn đàn về Nhà nước, Pháp luật và Chính sách”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp rất mong nhận được các ý kiến đa chiều về những nội dung được công bố trên Tạp chí và Website Tạp chí. Với chủ trương đó, Website Nghiên cứu Lập pháp trân trọng đăng bài viết Bàn lại vấn đề “ông chủ” và “đầy tớ” trong mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội của tác giả Bùi Hải Thiêm, hiện là Nghiên cứu sinh Đại học Queensland, Australia.

Vị trí và vai trò của nhà nước trong xã hội hiện đại luôn là một chủ đề được các trường phái nghiên cứu khoa học xã hội trên thế giới quan tâm. Các nghiên cứu về nhà nước thường đặt trong mối quan hệ với xã hội và mối quan hệ nhà nước - xã hội là đối tượng nghiên cứu cơ bản của nhiều ngành khoa học như chính trị học, xã hội học, luật, nhân học... Ở Việt Nam, khi nói đến mối quan hệ này, khái niệm “nhân dân”, hay ngắn gọn hơn là “dân”, thường được dùng thay thế cho “xã hội”. Nội hàm của hai khái niệm “nhân dân” và “xã hội” trong mối quan hệ với nhà nước có phần trùng, nhưng về cơ bản, có sự khác biệt. Bài viết này không bàn đến sự khác biệt đó mà đưa ra một số phân tích và đánh giá về mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân qua lăng kính “đầy tớ” và “ông chủ”, đồng thời chỉ ra những hạn chế cơ bản của cách nhìn này, nhất là sự phiến diện và thiếu chính xác khi đánh đồng “đầy tớ” với toàn bộ tổ chức nhà nước, không phân biệt giữa cơ quan hành chính và cơ quan dân cử. 
“Đầy tớ” của nhân dân: “Chính phủ” hay “Quốc hội”?
 Khi nói về vị trí, vai trò “đầy tớ” của nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nói đến và dùng từ “Chính phủ”: "Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân". Từ “Chính phủ được dùng trong các phát biểu và bài viết của Hồ Chí Minh phải được hiểu là “cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc[1][1] chứ không phải là toàn bộ Nhà nước nói chung, càng không phải là Nghị viện nhân dân hay Quốc hội ngày nay. Tuy nhiên, có tác giả đã hiểu: khái niệm "đầy tớ hay "công bộc mà Hồ Chí Minh dùng cho hệ thống các cơ quan hành chính là dùng cho cả toàn bộ cơ quan dân cử (Quốc hội) và cá nhân đại biểu Quốc hội và thậm chí, còn gọi đó là "đầy tớ to, "đầy tớ tập thể"đầy tớ bé, "đầy tớ cá nhân.[2][2] Đây là một cách hiểu thiếu chính xác lời Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người, chỉ có hệ thống cơ quan hành chính và các cán bộ, công chức thuộc hệ thống cơ quan hành chính mới được coi là "công bộc của dân. Quốc hội là cơ quan dân cử, thực hiện chức năng đại diện cho nhân dân "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam[3][3]. Nếu coi Quốc hội và đại biểu Quốc hội là “đầy tớ”, là “công bộc” của nhân dân thì rất phi lý. Có bao giờ, khi các “ông chủ” muốn cử ra người đại diện, người thay mặt mình để nắm quyền lực, lại cử “đầy tớ” không? Họ phải cử người ưu tú trong số họ, chứ không thể cử “đầy tớ”, và công việc của người đại diện đó làm chính là công việc của “ông chủ” chứ không phải công việc của “đầy tớ”. Còn khi ví von quan hệ “chủ” -“tớ” trong công ty công ty cổ phần, thì quan hệ này phải được hiểu: Đại hội cổ đông được coi là tập hợp của các “ông chủ”, những người này bầu ra người đại diện cho mình vào thể chế Hội đồng quản trị và thành viên của Hội đồng quản trị thực chất là các ông chủ. Tổng giám đốc, nhân viên và toàn bộ cơ cấu điều hành công ty, có thể được coi là người làm thuê, hay “đầy tớ” và chịu trách nhiệm giải trình trước Hội đồng quản trị về hoạt động của công ty. Khi Hội đồng quản trị hay thành viên nào đó của Hội đồng quản trị không thực hiện tròn trách nhiệm thì Đại hội cổ đông sẽ bãi miễn chức danh thành viên Hội đồng quản trị chứ không phải tư cách cổ đông, hay tư cách người chủ. Về bản chất, các cơ chế được bầu hay dân cử hiểu theo nghĩa nôm na chính là cơ chế làm chủ đại diện, chứ không phải là “đầy tớ”.
Trong tất cả các bài nói và viết của Hồ Chí Minh cũng như của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, không có từ nào gọi Quốc hội và đại biểu Quốc hội là “đầy tớ” hay tập hợp các “đầy tớ” cả. Hiểu nhầm Quốc hội và đại biểu Quốc hội thành “đầy tớ” trong quan hệ với “ông chủ” là nhân dân tức là đã hiểu sai về bản chất chức năng, nhiệm vụ và công việc của Quốc hội và đại biểu Quốc hội. Chữ “Chính phủ” viết hoa trong tiếng Việt thường được hiểu giới hạn là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, bao gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và tương đương (thành viên Chính phủ), hay còn được hiểu là Nội các. Chữ này khi dịch ra tiếng Anh thành “government” thì nghĩa rộng hơn nhiều và có thể được dùng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau, có lúc chỉ có nghĩa là Nội các - nhánh hành pháp, nhưng có lúc bao hàm nghĩa toàn bộ Nhà nước (gồm tất cả các nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp, tư pháp) nên nội hàm khá phức tạp, tùy theo bối cảnh mà hiểu nghĩa. Tuy nhiên, trong tiếng Việt thì thật khó để có thể hiểu quá rộng như vậy, mà luôn có sự phân biệt giữa cơ quan Chính phủ và Quốc hội. Vì lẽ đó nên khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng trong diễn văn nhậm chức thay mặt Chính phủ mới nói đến cụm từ “thực sự là công bộc của dân”, còn diễn văn của các lãnh đạo Quốc hội luôn không có từ này. Cũng cần lưu ý là cách nhìn “chủ - tớ” sẽ trở nên phức tạp hơn khi muốn phân biệt ai là chủ - ai là tớ trên thực tế, vì nhiều người giữ cả hai vai. Đa số thành viên Chính phủ là đại biểu Quốc hội và rất nhiều đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm làm việc trong các cơ quan hành pháp từ trung ương đến địa phương. Hạn chế này về cơ bản không ảnh hưởng đến việc phân biệt giữa hai thể chế Chính phủ và Quốc hội. Thể chế Nghị viện hay Quốc hội là rường cột của bất kỳ nền dân chủ nào, với sứ mệnh là giám sát và chế ước quyền lực của Chính phủ (thể chế cai trị, điều hành) thông qua việc định ra khuôn khổ pháp lý giới hạn sự lạm quyền của Chính phủ mà không cản trở một Chính phủ năng động, hiệu lực và hiệu quả phục vụ cho sự phát triển quốc gia. 
Chính vì nhầm lẫn giữa các ý nghĩa đó nên tác giả Võ Trí Hảo đã đánh đồng cơ chế bầu cử và miễn nhiệm đại biểu Quốc hội với cơ chế tuyển và sa thải “đầy tớ” của dân. Nhận định sai này khiến một số phân tích đúng của tác giả về các thiếu sót đang tồn tại có thể dẫn đến việc chệch hướng trong nhìn nhận phương án “sửa sai”, dễ trượt sang cái sai khác. Tác giả có lẽ sẽ đưa ra được những kiến giải và phân tích đúng đắn và có ý nghĩa khoa học hơn nếu phân tích về cơ chế tuyển dụng và bãi miễn các cán bộ, công chức trong hệ thống các cơ quan hành pháp, những người đang thực hiện chức trách, nhiệm vụ được coi là “công bộc” của dân.
Cơ chế bầu cử và bãi miễn đại biểu Quốc hội hiện nay đúng là còn nhiều điểm bất hợp lý, nhưng có phải những điểm bất hợp lý đó là căn nguyên của tệ tham nhũng ở nước ta hay không, như kết luận hơi vội vàng của tác giả, thì cần phải có những phân tích khoa học với bằng chứng thuyết phục hơn. Các khiếm khuyết của hệ thống bầu cử đều tồn tại ở bất kỳ quốc gia nào, cũng như không có hệ thống bầu cử nào hoàn hảo và hệ lụy của mỗi khiếm khuyết là khác nhau[4][4]. Câu hỏi căn bản ở đây là việc khắc phục những khiếm khuyết hiện tại trong cơ chế bầu cử và bãi miễn Đại biểu Quốc hội sẽ giải quyết mối quan hệ giữa các “ông chủ” với “đầy tớ” (cơ quan hành chính và cán bộ, công chức) như thế nào. Vấn đề này vượt quá khuôn khổ của bài viết. Tuy nhiên, có thể nói rằng, nếu tiếp tục sử dụng lăng kính “ông chủ” và “đầy tớ” khi bàn về mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội sẽ không giúp chúng ta tiến xa trong nhìn nhận khách quan, khoa học về mối quan hệ này.
Vượt trên quan niệm “chủ” - “tớ” khi nghiên cứu mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội           
Cách nói “ông chủ” - “đầy tớ” về quan hệ giữa nhân dân với chính quyền được Hồ Chí Minh sử dụng trong bối cảnh những năm đầu của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mang tính nôm na, dễ hiểu để thuận tiện trong truyền tải thông điệp đến quảng đại quần chúng. Nếu biến cách nói nôm na đó thành một cách tiếp cận để phục vụ nghiên cứu nghiêm túc về các vấn đề trong quan hệ nhà nước - nhân dân thì sẽ gặp nhiều hạn chế. Quan niệm “ông chủ” - “đầy tớ” mang hơi hướng của chế độ nô lệ hay phong kiến mà lịch sử loài người đã vượt qua, nó không còn thích hợp trong bối cảnh nhà nước và xã hội hiện đại. Quan niệm này hấp dẫn về mặt tình cảm đối với quảng đại quần chúng nhân dân lúc ấy, khi chuyển ngược vị thế quan hệ, từ vị trí “đầy tớ” lên thành người chủ, còn chính quyền - vốn là bộ máy cai trị hà khắc, tức là ở vị trí “ông chủ” - nay bị chuyển sang thế  “đầy tớ”. Nhưng hiện nay, cách nhìn như vậy hoàn toàn không phù hợp với bản chất và thực tế mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân trong xã hội hiện đại.  
Khi phân tích về nhà nước Trung Quốc, Fukuyama (2011) cho rằng, nước này còn chưa phát triển trách nhiệm giải trình về mặt chính trị và pháp lý, mà mới chỉ tập trung vào trách nhiệm giải trình về mặt đạo đức, tức là nhấn mạnh rằng người lãnh đạo phải biết cảm nhận về trách nhiệm đạo đức của mình trước người dân[5][5]. Đây là một điểm khá tương đồng với bối cảnh Việt Nam. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và cán bộ, công chức nói riêng đều được cho là phải có nghĩa vụ tận tụy, trung thành phục vụ nhân dân, tức chủ yếu là trách nhiệm về mặt đạo lý, một giá trị mang tính văn hóa truyền thống. Chỉ có khía cạnh này thôi thì chưa đủ để đạt trình độ phát triển văn minh, hiện đại. Ngày nay, đối với một nhà nước hiện đại, trách nhiệm giải trình về mặt chính trị và pháp lý trong một nền pháp quyền (rule of law) được đặt lên tầm quan trọng hàng đầu. Chính vì lẽ đó mà chúng ta mới đặt vấn đề phải xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong hai chục năm qua (khái niệm “xây dựng nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam lần đầu tiên được chính thức đề cập trong phát biểu của Tổng Bí thư Đỗ Mười tại Đại hội lần thứ bảy của Đảng năm 1991)[6][6]. Trong một nền pháp quyền, trách nhiệm giải trình về chính trị và pháp lý đặt ra giới hạn cho mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, dù thực sự là ai ở vị trí “ông chủ” hay “đầy tớ” đi chăng nữa.   
Trong các nghiên cứu về mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội ở Việt Nam, mô hình “nhà nước chiếm ưu thế” (dominant state hay statist socialism) được sử dụng rất phổ biến, trong đó nhấn mạnh quyền lực nhà nước bao trùm xã hội và chi phối mọi sinh hoạt xã hội của người dân. Nhà nước chịu trách nhiệm và đảm bảo mọi thứ trong xã hội, từ những “hàng hóa công” như quốc phòng, an ninh, giáo dục, y tế... đến những nhu yếu phẩm thường dùng nhất trong cuộc sống hàng ngày trong thời bao cấp. Mô hình này giải thích một cách thuyết phục tại sao trong các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 xuất hiện thường xuyên công thức như: “Nhà nước bảo đảm...”; “Nhà nước... có kế hoạch...”; “Nhà nước ban hành...”; “Nhà nước quy định” ; “Nhà nước giao...”; “ Nhà nước có chính sách...”; “Nhà nước tạo điều kiện...”; “Nhà nước bảo hộ...”. Đã có thống kê, riêng trong Chương V của Hiến pháp 1992 về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cụm từ Nhà nước như vậy đã xuất hiện hơn 20 lần[7][7]. Điều đó có nghĩa là Chương trong Hiến pháp dành riêng để nói về công dân nhưng lại chủ yếu là dùng Nhà nước để nói thay. Trong thời kỳ này ở nước ta, học thuyết “pháp chế xã hội chủ nghĩa” nhấn mạnh vị trí và vai trò của Nhà nước trong tất cả các khía cạnh sinh hoạt xã hội. Điều này cho thấy học thuyết này vẫn còn ảnh hưởng rất mạnh đến Hiến pháp 1992, một Hiến pháp được coi là của thời kỳ Đổi mới.
Từ cuối thập niên 1980, công cuộc Đổi mới được tiến hành rộng rãi trên nhiều mặt đời sống chính trị - kinh tế - xã hội của đất nước và việc áp dụng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã dẫn đến sự rút lui của Nhà nước trong việc cung ứng nhiều loại hàng hóa cho nhân dân. Cùng với việc phát triển nền kinh tế thị trường, các mối quan hệ xã hội ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp cần phải được điều chỉnh bằng pháp luật chứ không phải bằng mệnh lệnh, chỉ đạo của nhà nước. Trong bối cảnh đó, khái niệm nhà nước pháp quyền bắt đầu du nhập vào nước ta qua con đường từ Liên Xô khi Gorbachev khởi xướng Cải tổ (Perestroika) và xây dựng học thuyết pravovoe gosudarstvo (nhà nước pháp quyền). Học thuyết này được xây dựng dựa trên nguyên lý Rechtsstaat (pháp luật - nhà nước) của Đức, nhấn mạnh rằng chính sách của nhà nước phải được thực thi thông qua hoạt động lập pháp, nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, mọi người bình đẳng trước pháp luật [8][8]. Khi du nhập vào nước ta, học thuyết nhà nước pháp quyền được điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện chính trị - lịch sử, ghi nhận Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Điều đáng chú ý là lý luận của ta đặt “nhà nước” làm trọng tâm trong chữ “nhà nước pháp quyền” còn nguyên tắc pháp quyền (rule of law) được hiểu ở phương Tây không có chữ “nhà nước” đi kèm mà đặt pháp luật ở vị trí thượng tôn, trên bất kỳ thể chế nào, kể cả nhà nước. Mặc dù khi được tiếp thu và phát triển vào Việt Nam, khái niệm nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có sự khác biệt lớn với nguyên tắc pháp quyền ở Anh - Mỹ, nhưng quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền đã bắt đầu thay đổi từng phần diện mạo mối quan hệ nhà nước và xã hội ở nước ta. Từ đây xuất hiện một mô hình mới bổ sung cho cách nhìn trước đây về mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội. Mô hình này nhấn mạnh tới sự gắn kết và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các lực lượng xã hội với nhà nước (societal corportism), trong đó đặc biệt giải thích sự trỗi dậy của các nhóm lợi ích ảnh hưởng đến chính sách của nhà nước. Ngoài ra, trong nghiên cứu về lĩnh vực xã hội dân sự còn có một mô hình phân tích có ảnh hưởng lớn về mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, nhấn mạnh đến tính “đối thoại” (dialogical approach) giữa nhà nước với nhân dân, trong đó nhiều trường hợp các lực lượng xã hội đã tác động và thay đổi những chính sách của nhà nước, bảo vệ và phát triển những lợi ích công cộng to lớn[9][9].     
Trong những năm gần đây, cách hiểu chính thức về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta có những bước phát triển mới, xuất phát từ nhận thức quyền lực nhà nước luôn có xu hướng bị tha hóa và cần phải bị kiểm soát. Thực ra, quan điểm này không mới, nó đã bắt nguồn từ chủ nghĩa tự do với những triết gia tên tuổi như Locke, Rouseau, Montesquieu, Mill… từ thế kỷ 17-18 khi bàn về các quyền tự nhiên của con người, khế ước xã hội, và phân chia quyền lực qua các cơ chế cân bằng và kiểm soát… Một trong những hạt nhân cơ bản của chủ nghĩa tự do là quyền lực nhà nước phải bị giới hạn và kiểm soát, cá nhân người dân có các quyền tự nhiên khi sinh ra đã có, không ai có thể tước đi được. Tuy những tư tưởng này đã xuất hiện từ lâu trên thế giới, đã du nhập vào Việt Nam trong những thập niên đầu thế kỷ 20 và có những ảnh hưởng nhất định trong quá trình lập hiến 1946, nhưng trong thập niên gần đây mới bắt đầu trỗi dậy trở lại trong quá trình tranh luận về bổ sung, sửa đổi Hiến pháp 1992 liên quan đến việc kiểm soát quyền lực nhà nước. Một phần quan trọng của tư tưởng này đã được chính thức ghi nhận trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, tháng 1/2011. Theo đó, “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân… Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Tuy nhiên, có thể thấy rằng, cách nhìn chính thức của Đảng và Nhà nước không rõ rệt theo một chủ thuyết nào: vừa có sự tiếp thu, vừa có sự hòa trộn giữa các nguyên lý pháp quyền với pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữa phân quyền với tập quyền, tính thượng tôn của pháp luật với tính công cụ của pháp luật… Do đó, Cương lĩnh cũng ghi rõ: “Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân…” Như vậy, quan niệm pháp luật là công cụ quản lý xã hội của nhà nước vẫn mang tính chủ đạo mặc dù tình thần thượng tôn pháp luật cũng đã bắt đầu được cảm nhận. Có lẽ đây là một trong những điểm mấu chốt của quá trình quá độ xây dựng trách nhiệm giải trình về chính trị và pháp lý bổ sung cho trách nhiệm đạo đức của Nhà nước đối với nhân dân.   
Kết luận
Nhìn nhận mối quan hệ giữa chính quyền và nhân dân dưới góc độ “ông chủ” và “đầy tớ” chỉ có giá trị làm nổi bật vai trò và vị trí quan trọng của nhân dân với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, nếu sử dụng quan niệm này để đi vào các phân tích, đánh giá khách quan, khoa học thì sẽ rất hạn chế, thậm chí còn dễ bị nhầm lẫn và lạc hướng trong các đề xuất khắc phục các khiếm khuyết. 
Nhìn nhận, đánh giá khoa học về mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội, hay hẹp hơn là chính quyền với nhân dân, có nhiều giác độ khác nhau. Tùy từng bối cảnh lịch sử cụ thể hay vấn đề cụ thể mà cách nhìn này có thế mạnh hơn cách nhìn kia. Tựu trung lại, cho đến nay chưa có một mô hình nào chiếm ưu thế tuyệt đối và bao trùm hết được các cách nhìn khác. Tính phức tạp trong đánh giá mối quan hệ này còn do những yếu tố tư tưởng cũ - mới đan xen nhau, cùng tồn tại chứ không hẳn triệt tiêu nhau và chưa một chủ thuyết hay trường phái tư tưởng rõ rệt nào đủ sức mạnh ưu thế. Hệ quả của thực trạng đó là rất nhiều những vướng mắc tồn tại dai dẳng trong thực tiễn mà chưa có cách nào khắc phục được. Những vấn đề này hiện đang nổi lên gay gắt trong quá trình tranh luận xung quanh việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992. Đây là một thách thức rất lớn cho các nhà lý luận trong quá trình bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, thậm chí cần phải có đột phá về lý luận để giải quyết những bài toán thực tiễn đặt ra cho sự phát triển đất nước./.
  




Bùi Hải Thiêm



[2][2] Võ Trí Hảo. 2011. Quyền tuyển và “đuổi đầy tớ” của dân. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp: http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/quyen-tuyen-va-201c111uoi-111ay-to201d-cua-dan (truy cập ngày 22/12/2011)
[3][3] Điều 83, Hiến pháp 1992.
[4][4] Bùi Hải Thiêm; So sánh một số hệ thống bầu cử trên thế giới. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 8(193), tháng 4/2011.
[5][5] The China Model: A Dialogue between Francis Fukuyama and Zhang Weiwei, New Perspective Quarterly, Fall 2011.
[6][6] Đỗ Mười, Sửa đổi Hiến pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, đẩy mạnh sự nghiệp Đổi mới. Nhà xuất bản sự thật, Hà Nội 1992.
[7][7] Bùi Ngọc Sơn. 2011. Phân tích thực nghiệm về mức độ chi tiết hóa Hiến pháp và một số gợi mở cho sửa đổi Hiến pháp 1992. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, http://www.nclp.org.vn/nha_nuoc_va_phap_luat/phan-tich-thuc-nghiem-ve-muc-111o-chi-tiet-hoa-hien-phap-va-mot-so-goi-mo-cho-sua-111oi-hien-phap-1.
[8][8] John Gillespie. 2004. Concepts of law in Vietnam: Transforming statist socialism. In Randall Peerenboom (Ed.), Asian Discourses of Rule of Law. London: Routledge.  
[9][9] Kerkvliet, Benedict. 2001. An Approach for Analysing State-Society Relations in Vietnam. SOJOURN: Journal of Social Issues in Southeast Asia, 16(2), 238-278