Wednesday, January 11, 2012

Quyền tự do giao kết hợp đồng ở Việt Nam - lý luận và thực tiễn

Quyền tự do kinh doanh (TDKD) là quyền cơ bản của công dân, của các chủ thể kinh doanh (CTKD), được hầu hết các nước trên thế giới tôn trọng, bảo vệ. Ở Việt Nam, Điều 57 của Hiến pháp 1992 có ý nghĩa khẳng định quyền TDKD là một quyền hiến định và là quy định nền tảng cơ sở cho các quyền pháp định khác về TDKD được phát triển trong Bộ luật Dân sự (BLDS) các năm 1995, 2005; Luật Doanh nghiệp 1999, 2005; Luật Thương mại (Luật TM) các năm 1998, 2005; Luật Đầu tư 2000, 2005… Song song đó, các văn bản pháp quy khác cũng được ban hành nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể được thực hiện quyền TDKD của mình như các Nghị định 88/2006/NĐ-CP, 108/2006/NĐ-CP, 139/2007/NĐ-CP, 43/2010/NĐ-CP, l02/2010/NĐ-CP trong đó quy định cụ thể các thủ tục để gia nhập thị trường, quản trị điều hành kinh doanh…
Quyền TDKD là một hệ thống quyền của CTKD được pháp luật quy định bao gồm: (i) quyền tự do lựa chọn thành lập loại hình kinh doanh, (ii) ngành nghề kinh doanh, (iii) địa điểm kinh doanh, (iv) quyền được đảm bảo sở hữu tài sản, (v) quyền tự do hợp đồng, (vi) quyền tự do cạnh tranh theo quy định của pháp luật, (vii) quyền tự định đoạt cơ quan tài phán tranh chấp, (viii) quyền tự do lựa chọn luật giải quyết tranh chấp… Chúng tôi tập trung nghiên cứu phân tích về quyền tự do hợp đồng thông qua các quy định của pháp luật Việt Nam.
Quyền tự do hợp đồng là quyền của các CTKD được thể hiện ở các khía cạnh sau đây: (i) quyền được tự do bình đẳng, tự nguyện giao kết hợp đồng (GKHĐ), (ii) quyền được tự do lựa chọn đối tác GKHĐ, (iii) quyền được tự do thỏa thuận nội dung GKHĐ, (iv) quyền được tự do thỏa thuận thay đổi nội dung hợp đồng trong quá trình thực hiện, (v) quyền được tự do thỏa thuận các điều kiện đảm bảo để thực hiện hợp đồng, (vi) quyền được tự do thỏa thuận cơ quan tài phán và luật giải quyết tranh chấp hợp đồng.
Hình thức pháp lý chủ yếu của các quan hệ kinh doanh chính là hợp đồng. Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trên cơ sở tự do, tự nguyện, bình đẳng. Tự do ý chí luôn được xác định là nguyên tắc cốt lõi của hợp đồng. Quyền tự do hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nhà kinh doanh. Thông qua việc thiết lập và thực hiện các hợp đồng, các CTKD có thể tiến hành các hoạt động kinh doanh một cách chủ động, sáng tạo và đạt hiệu quả cao. Về mặt lý luận, quyền tự do hợp đồng được coi là một bộ phận cấu thành quan trọng, là biểu hiện sinh động nhất của quyền TDKD. Việc ghi nhận và bảo đảm quyền tự do hợp đồng bằng pháp luật có tác động lớn tới quyền TDKD của các CTKD1.
Từ khi hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước được xác định chuyển sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, để đảm bảo thực hiện các cam kết khi Việt Nam tham gia các tổ chức quốc tế, thực hiện các điều ước quốc tế, thì Nhà nước đã sửa đổi pháp luật về hợp đồng cho phù hợp với các luật chơi chung, nên pháp luật về hợp đồng kinh doanh của Việt Nam đã có những thay đổi căn bản cả về đối tượng và phương pháp điều chỉnh. Trên cơ sở đó, quyền tự do hợp đồng, mà quan trọng nhất là tự do hợp đồng trong lĩnh vực kinh doanh, từng bước được ghi nhận và bảo đảm trên thực tế. Có thể khái quát về quyền tự do hợp đồng trong pháp luật hiện hành ở những nội dung dưới đây:
Quyền được tự do, bình đẳng, tự nguyện giao kết hợp đồng
Tự do GKHĐ là nguyên tắc cơ bản của GKHĐ nói chung. Theo đó, dù thiết lập quan hệ hợp đồng trong lĩnh vực nào (dân sự, thương mại hay lao động), các chủ thể đều được tự do về mặt ý chí, không có chủ thể nào có quyền áp đặt ý chí để bắt buộc hay ngăn cản chủ thể khác GKHĐ. Quyền tự do GKHĐ xuất phát từ bản chất của hợp đồng. Hợp đồng là sự thỏa thuận và thống nhất về mặt ý chí giữa các chủ thể, nhưng không phải tất cả những thỏa thuận giữa các chủ thể đều là hợp đồng. Sự thỏa thuận chỉ có thể trở thành hợp đồng khi ý chí của các chủ thể được thể hiện (trong sự thỏa thuận) phù hợp với “ý chí thực” của họ. Với yêu cầu đó, tự do trong GKHĐ phải được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản2.
Quyền tự do GKHĐ được thể hiện trong pháp luật hợp đồng khá nhất quán. Điều 389 BLDS 2005 quy định việc GKHĐ dân sự được thực hiện theo các nguyên tắc: “1. Tự do GKHĐ nhưng không trái pháp luật, đạo đức xã hội; 2. Tự nguyện bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng”. Điều 11 Luật TM 2005 quy định nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại: “1. Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó. 2. Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào”. Điều 9 Bộ luật Lao động (BLLĐ) 1994, sửa đổi bổ sung (sđbs) các năm 2002, 2006, 2007 quy định: “Quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được xác lập và tiến hành qua thương lượng, thoả thuận theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, tôn trọng  quyền và lợi ích hợp pháp của nhau, thực hiện đầy đủ những điều đã cam kết”.
Quyền tự do GKHĐ còn được thể hiện ở quy định về phạm vi những chủ thể có quyền GKHĐ. Tùy thuộc vào tính chất của từng loại hợp đồng, phạm vi chủ thể có quyền giao kết có những sự khác nhau nhất định: (i) Theo BLDS, chủ thể của hợp đồng dân sự bao gồm: cá nhân có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình (Điều 14,15,16,17, 84, 106, 111 BLDS 2005); (ii) Theo Luật TM, chủ thể của hợp đồng thương mại là thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh (khoản 1, Điều 6 Luật TM 2005); (iii) Theo BLLĐ, chủ thể của hợp đồng lao động là người sử dụng lao động và người lao động (Điều 26 BLLĐ 1994, Sđbs 2002, 2006, 2007)…
Quyền tự do bình đẳng GKHĐ không được thực hiện trong thực tiễn trong một số lĩnh vực nhất định, điển hình nhất là các hợp đồng cung cấp, các dịch vụ công từ các chủ thể là các công ty nhà nước độc quyền phân phối các dịch vụ như điện, nước, điện thoại, chủ thể giao kết là người dân sử dụng các dịch vụ này thì bị ép ký kết các hợp đồng mẫu đã được soạn sẵn (không được thay đổi) thậm chí gây thiệt hại cho người sử dụng cũng không có điều khoản để bồi thường như việc các công ty cung cấp điện tự động ngắt điện làm hư hỏng các thiết bị điện hoặc hư các sản phẩm đang được sản xuất chưa thành phẩm…
Mặc dù trong các quy định cụ thể về chủ thể của các loại hợp đồng vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý và chặt chẽ, song về cơ bản, pháp luật hiện hành đã ghi nhận một phạm vi rộng rãi các chủ thể tự do GKHĐ. Điều này tạo điệu kiện thuận lợi cho các chủ thể, đặc biệt là các CTKD có khả năng chủ động trong việc thiết lập các giao dịch nhằm phục vụ hoạt động của mình. Với quyền tự do GKHĐ, các CTKD hoàn toàn có thể chủ động quyết định các hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, mọi quyền tự do trong xã hội có Nhà nước đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật. Để bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội, trong đó có lợi ích của bản thân các chủ thể hợp đồng, pháp luật các nước cũng như pháp luật Việt Nam đều có những giới hạn nhất định đối với các chủ thể khi thực hiện quyền tự do GKHĐ. Các quy định hạn chế đối với quyền tự do GKHĐ thể hiện ở chỗ khi thực hiện quyền này, các chủ thể hợp đồng phải đáp ứng các yêu cầu: không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, người giao kết có năng lực GKHĐ3.
Quyền được tự do lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng 
Quyền tự do lựa chọn đối tác GKHĐ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các CTKD, bởi lẽ, họ sẽ lựa chọn đối tác nào để giao kết phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: văn hóa ứng xử của đối tác, khả năng, kinh nghiệm kinh doanh của đối tác, uy tín của đối tác, các điều kiện lợi ích kinh tế phát sinh từ sự thương thảo hợp đồng… CTKD chỉ cần căn cứ vào các quy định pháp luật tương ứng với nội dung hợp đồng ký để thỏa thuận, tuân thủ khi ký kết và thực hiện.
Pháp luật dân sự, thương mại và lao động chỉ quy định điều kiện các chủ thể được quyền giao kết các loại hợp đồng: đối với cá nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi (Điều 14, 15 BLDS 2005); đại diện của pháp nhân (Điều 91 BLDS 2005) người đại diện pháp luật của pháp nhân (khoản 4 Điều 141 BLDS 2005), thương nhân (khoản 1, Điều 6 Luật TM 2005), người sử dụng lao động và người lao động (khoản 1, 2 Điều 26 BLLĐ 1994, Sđbs 2002, 2006, 2007). Hệ thống pháp luật hiện hành không quy định cá nhân nào, pháp nhân nào, hay thương nhân nào, người sử dụng lao động hay người lao động nào được quyền GKHĐ với nhau. Đây chính là sự thể hiện tôn trọng quyền được lựa chọn đối tác GKHĐ cho các CTKD.
Trong thực tiễn thì quyền tự do lựa chọn đối tác GKHĐ giữa các bên được thực hiện khá phổ biến, rộng rãi, các bên GKHĐ đều nhận thức đầy đủ và thực hiện tốt về quyền năng này trong phạm vi có thể, thể hiện rõ nhất là (i) các bên lợi thế trong hợp đồng sẽ có sự lựa chọn đối tác yếu thế hơn để lấn át ý chí khi GKHĐ với mục đích tìm lợi ích cao nhất trong quá trình thực hiện hợp đồng với đối tác đó. Ví dụ như hành vi của thương nhân mua ép giá nông dân, ngư dân đối với hàng nông sản hoặc hải sản khi trúng mùa; (ii) hoặc một thương nhân xuất khẩu hàng may mặc được tự do lựa chọn một đối tác sản xuất, gia công hàng may mặc có uy tín về chất lượng để GKHĐ gia công hàng may mặc xuất khẩu.
Quyền được tự do thỏa thuận nội dung giao kết hợp đồng 
Quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng là quyền hết sức cơ bản của quyền TDKD vì đây là yếu tố cơ bản nhất tác động đến lợi ích của các bên GKHĐ. Các bên hoàn toàn có quyền lựa chọn đối tượng hàng hóa để mua bán hoặc dịch vụ để cung cấp, thỏa thuận giá cả, cách tính giá, phương thức thanh toán; điều kiện giao nhận hàng, vận chuyển, đóng gói bao bì và các nội dung khác trong hợp đồng trên cơ sở đảm bảo hài hòa quyền và lợi ích của hai bên. Để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên khi thực hiện quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng, BLDS, Luật TM, Bộ luật Hàng hải, BLLĐ cũng như các văn bản pháp quy hướng dẫn đều có những quy định về nội dung của hợp đồng theo hướng các chủ thể phải thỏa thuận đầy đủ các điều khoản chủ yếu để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng; thỏa thuận về nội dung hợp đồng không thể trái với các nội dung thường lệ được quy định bởi pháp luật.
Quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng của các bên bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm sự thỏa thuận của các bên không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ hay trật tự công cộng (các nguyên tắc cơ bản của pháp luật) như việc các bên không thể tự thỏa thuận trước trong hợp đồng việc bồi thường thiệt hại hợp đồng bằng một mức ấn định trước trong hợp đồng vì nguyên tắc bồi thường thiệt hại của pháp luật Việt Nam là chỉ chấp nhận cho việc bồi thường đối với những thiệt hại thực tế từ hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia (Điều 302 và 303 Luật TM 2005.)
Quyền tự do thỏa thuận hợp đồng còn bị giới hạn về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa (Điều 24 Luật TM 2005) được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể, ngoại trừ đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó. Đối với mua bán hàng hoá quốc tế (khoản 2 Điều 27 Luật TM 2005), phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương, trong khi đó, Công ước Viên 1980 quy định về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn có hình thức đa dạng hơn, chỉ cần có người làm chứng thì hợp đồng cũng được công nhận. Sự giới hạn này hiện nay là một rào cản gây trở ngại cho các CTKD trong nước, hạn chế quyền TDKD khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trong nước, không thể kiện các đối tác nước ngoài khi họ ký kết hợp đồng theo hình thức có người làm chứng là bên môi giới.
Quyền được tự do thỏa thuận thay đổi nội dung hợp đồng trong quá trình thực hiện
Quyền tự do thỏa thuận để thay đổi, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng đã giao kết trong quá trình thực hiện hợp đồng là sự khẳng định quyền trọn vẹn của các CTKD trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng. Quy định này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc tôn trọng sự quyết định ý chí của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, có thể là quyết định thay đổi một phần hợp đồng, hoặc quyết định chấm dứt hợp đồng khi ý chí của cả hai bên trong hợp đồng muốn thay đổi, bổ sung hợp đồng đã ký kết.
Quyền tự do trên được pháp luật hiện hành quy định tại Điều 423 BLĐS 2005 về sửa đổi hợp đồng dân sự: “1. Các bên có thể thoả thuận sửa đổi hợp đồng và giải quyết hậu quả của việc sửa đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. 2. Trong trường hợp hợp đồng được lập thành văn bản, được công chứng, chúng thực, đăng ký hoặc cho phép thì việc sửa đổi hợp đồng cũng phải tuân theo hình thức đó” và Điều 33 BLLĐ 1994, Sđbs 2002, 2006, 2007: “Trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động, nếu bên nào có yêu cầu thay đổi nội dung hợp đồng thì phái báo cho bên kia biết trước ít nhất ba ngày. Việc thay đổi nội dung hợp đồng lao động có thể được tiến hành bằng cách sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động đã giao kết hoặc GKHĐ lao động mới...”
Quyền tự do này được các CTKD lựa chọn theo thực tiễn của quá trình thực hiện hợp đồng: bổ sung hợp đồng, thay đổi một phần nội dung hợp đồng, chấm dứt không tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Quyền được tự do thỏa thuận các điều kiện đảm bảo để thực hiện hợp đồng
Điều kiện đảm bảo thực hiện hợp đồng là một trong các nội dung cơ bản để quyết định sự thành công của hợp đồng, đảm bảo các quyền nghĩa vụ của hợp đồng được thực hiện bằng một giao dịch thế chấp tài sản, hoặc giao dịch bảo đảm thanh toán của tổ chức tín dụng, hoặc một bên thứ ba bằng một tài sản là bất động sản hay một nguồn tiền từ một tài khoản ngân hàng; điều kiện đảm bảo thực hiện hợp đồng có ý nghĩa rất quan trọng liên quan mật thiết đối với trách nhiệm tài chính hữu hạn phát sinh trong một hợp đồng.
Pháp luật dân sự đã đảm bảo quyền tự do thỏa thuận các điều kiện đảm bảo để thực hiện hợp đồng bằng các quy định (i) về biện pháp đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự (từ Điều 318 đến Điều 325 BLDS 2005); (ii) về cầm cố tài sản (từ Điều 326 đến Điều 341 BLDS 2005; (iii) về hợp đồng thế chấp (từ Điều 342 đến Điều 357 BLDS 2005); (iv) về đặt cọc (Điều 358 BLDS 2005);(v) về ký cược (Điều 359 BLDS 2005);(vi) về ký quỹ (Điều 360 BLDS 2005); (vii) về bảo lãnh (từ Điều 361 đến Điều 371 BLDS 2005); (viii) về tín chấp (từ Điều 372 đến Điều 373 BLDS 2005).
Trên thực tiễn hiện nay, tình trạng đăng ký vốn ảo trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã gây nên tâm lý bất an của các đối tác trong nghĩa vụ thanh toán cho các hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ có giá trị lớn. Đồng thời, sự bất cập của Luật Nhà ở quy định thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu tài sản là nhà ở từ người bán sang người mua là sau khi công chứng xong và BLDS lại quy định thời điểm chuyển dịch quyền sở hữu tài sản là nhà ở từ người bán sang người mua là sau khi đăng bộ xong (căn nhà trên đất đã xác định quyền chủ sở hữu đối với người mua khi công chứng xong, nhưng diện tích đất người mua được xác định là có quyền sử dụng đất ở lại là khi hoàn thành thủ tục đăng bộ xong) đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động thế chấp tài sản, bảo lãnh để thực hiện việc đảm bảo thực hiện hợp đồng.
Quyền được tự do thỏa thuận cơ quan tài phán và luật giải quyết tranh chấp hợp đồng
Quyền tự do thỏa thuận về cơ quan tài phán được quy định tại Điều 4 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2004 quy định về quyền yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, theo đó, CTKD có quyền lựa chọn Tòa án nhân dân có thẩm quyền để tài phán tranh chấp hợp đồng. Điều 5 Luật Trọng tài Thương mại (Luật TTTM) 2010 quy định điều kiện giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, theo đó, nếu các bên muốn lựa chọn cơ quan tài phán là trọng tài thương mại thì cần thỏa thuận trước trong hợp đồng hoặc sau khi xảy ra tranh chấp. Điều 6 Luật TTTM 2010 quy định Tòa án từ chối thụ lý trong trường hợp có thoả thuận trọng tài, theo đó, trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được. Theo Điều 25, 29, 31 BLTTDS 2004 quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự, hợp đồng thương mại và hợp đồng lao động, thì nếu các bên không lựa chọn cơ quan tài phán tranh chấp hợp đồng là Tòa án hoặc trọng tài thì thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hợp đồng nêu trên thuộc thẩm quyền của cơ quan Tòa án nhân dân có thẩm quyền cấp huyện hoặc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Các quy định trên của pháp luật dân sự và trọng tài đã đảm bảo quyền tự do lựa chọn của các bên về cơ quan tài phán và đảm bảo cơ quan Tòa án nhân dân có thẩm quyền đương nhiên tài phán tranh chấp hợp đồng kinh doanh cho các CTKD nếu các bên không có sự lựa chọn trước đó, hoặc khi xảy ra tranh chấp, các bên không thỏa thuận được việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.
Về quyền tự do lựa chọn luật giải quyết tranh chấp được quy định tại Điều 769 BLDS 2005. Theo đó, khi lựa chọn cơ quan tài phán là Tòa án (i) nếu không có thoả thuận khác thì áp dụng pháp luật nơi thực hiện hợp đồng; (ii) nếu hợp đồng được giao kết tại Việt Nam; (iii) thực hiện hoàn toàn tại Việt Nam; (iv) hợp đồng liên quan đến bất động sản ở Việt Nam thì áp dụng theo pháp luật Việt Nam. Điều 14 Luật TTTM 2010 quy định: khi lựa chọn cơ quan tài phán là Trọng tài thương mại thì (i) đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài thì áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp; (ii) đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, thì áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; (iii) nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định luật để giải quyết tranh chấp; (iv) trường hợp pháp luật Việt Nam, pháp luật do các bên lựa chọn không có quy định cụ thể liên quan đến nội dung tranh chấp thì Hội đồng trọng tài được áp dụng tập quán quốc tế để giải quyết tranh chấp nếu việc áp dụng hoặc hậu quả của việc áp dụng đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam. Theo các quy định trên, chỉ ngoại trừ trường hợp đã được luật quy định thì các bên có quyền lựa chọn luật áp dụng tranh chấp theo sự thỏa thuận và khi lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thì cơ hội lựa chọn luật áp dụng nước ngoài giải quyết tranh chấp được rộng hơn, còn lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp thì hạn chế hơn.
Những nội dung phân tích trên cho thấy, quyền tự do hợp đồng được thể hiện khá đa dạng và sự tồn tại của thực tiễn vận hành quyền tự do hợp đồng theo quy định của pháp luật hiện hành đã đặt ra cho chúng ta một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần tăng cường hoạt động tuyên truyền pháp luật cho các CTKD. Không phải tất cả các CTKD đều có sự nhận thức đầy đủ các quyền năng của mình trong hệ thống các quyền TDKD để phát huy trong quá trình tổ chức hoạt động, nhất là khi thương lượng, ký kết thực hiện hợp đồng. Do đó, cần tăng cường hoạt động tuyên truyền pháp luật quy định về quyền TDKD nói chung, quyền tự do trong giao kết thực hiện hợp đồng nói riêng để các CTKD có thể nắm bắt đầy đủ các quyền năng của mình mà pháp luật đã quy định, bảo vệ, cho phép các CTKD thực hiện. Sự nắm bắt của các CTKD có ý nghĩa rất lớn là tạo điều kiện cho các CTKD biết những quy định của pháp luật cần phải tuân thủ trong quá trình kinh doanh. Việc tăng cường hoạt động tuyên truyền quyền TDKD cho các CTKD có ý nghĩa kép, vừa tạo điều kiện cho các CTKD biết các quyền của mình để phát huy tối đa, vừa biết những quy định của pháp luật để tuân thủ.
Thứ hai, tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật của cán bộ công chức nhà nước. Có quan điểm cho rằng, hệ thống pháp luật hiện hành là không đầy đủ, không hiệu quả nhưng quan điểm của chúng tôi lại khác. Chúng tôi cho rằng, hệ thống pháp luật hiện hành là đầy đủ, vấn đề là hoạt động áp dụng pháp luật của cán bộ công chức nhà nước hiện nay chưa hiệu quả, thể hiện khá rõ qua chính sách hậu kiểm việc đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp, nên việc đăng ký vốn ảo ngày càng nghiêm trọng. Tuy hiện nay, Nghị định 120/2010/NĐ-CP đã hóa giải giao quyền cho cơ quan đăng ký kinh doanh được quyền kiểm tra, thu hồi, thay đổi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho phù hợp với thực tế việc góp vốn, nhưng rất tiếc, hiệu quả áp dụng pháp luật vẫn không được phát huy; vẫn chưa có cuộc kiểm tra nào về việc góp vốn của các doanh nghiệp. Theo chúng tôi, cần phải tăng cường hoạt động áp dụng pháp luật nói chung, tăng cường việc hậu kiểm nhằm phát huy hiệu quả chính sách hậu kiểm đối với các doanh nghiệp. 
Thứ ba, cần có sự thống nhất với một nguyên tắc pháp luật, hạn chế tối đa sự xung đột. Sự xung đột của quy định về thời điểm xác định quyền sở hữu tài sản là nhà ở giữa Luật Nhà ở với BLDS là một minh chứng cụ thể: Xét tính hiệu lực của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì do cấp độ của hai văn bản luật này bằng nhau; xét tính chuyên ngành thì hai văn bản luật này đều có tính chuyên ngành về nhà ở và sở hữu tài sản; xét tính thời hiệu thì do Luật Nhà ở ban hành sau nên có hiệu lực thực hiện. Theo chúng tôi, khi sửa đổi hoặc ban hành luật mới cần xem xét tính nguyên tắc chung để quy định thống nhất, tránh sự xung đột trái khoáy như hiện nay. 
Thứ tư, cần tiếp thu luật nước ngoài để cải thiện quyền TDKD của các CTKD trong nước với đối tác nước ngoài. Tiếp nhận pháp luật nước ngoài là hiện tượng phổ biến trên thế giới. Tiếp nhận pháp luật nước ngoài trong quá trình chuyển đổi, hội nhập hiện nay của Việt Nam là cần thiết, nó mang tính thực tiễn và kinh tế. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, việc tiếp thu luật nước ngoài là các điều ước quốc tế rất cần thiết để thích nghi với các luật chơi chung và đảm bảo quyền lợi của các CTKD trong nước. Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) là một minh chứng đã được chúng tôi phân tích nêu trên về hình thức GKHĐ đã gây cản trở không ít cho các CTKD Việt Nam khi ký kết các hợp đồng mua bán quốc tế với các đối tác nước ngoài.
Sở dĩ chúng tôi tiếp cận và kiến nghị cần tiếp thu CISG bởi các lý do sau: CISG được soạn thảo và thực thi dưới sự bảo trợ của Liên hiệp quốc - tổ chức quốc tế liên chính phủ lớn nhất hành tinh; cách thức soạn thảo CISG cho thấy những nỗ lực thực sự trong việc tạo ra các quy phạm thực chất thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế; nội dung của Công ước được đánh giá là hiện đại, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế. Tham gia càng sớm Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế sẽ đem lại cho Việt Nam và doanh nghiệp Việt Nam những lợi ích đáng kể, bao gồm cả các lợi ích về pháp lý và lợi ích kinh tế, là nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước đối với tiến trình hội nhập, nhằm thống nhất pháp luật về mua bán hàng hóa quốc tế của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới; đánh dấu một mốc mới trong quá trình tham gia vào các điều ước quốc tế đa phương về thương mại, tăng cường mức độ hội nhập của Việt Nam, góp phần hoàn thiện pháp luật về mua - bán hàng hóa quốc tế nói riêng và pháp luật về mua bán hàng hóa nói chung của Việt Nam ; giúp cho các CTKD Việt Nam tiết kiệm được chi phí và thời gian trong việc lựa chọn luật áp dụng cho hợp đồng, có được một khung pháp lý hiện đại, công bằng và an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và có căn cứ hợp lý để giải quyết tranh chấp nếu phát sinh; tránh được những rủi ro, tranh chấp trong kinh doanh quốc tế do xung đột pháp luật.
Thước đo sự tiến bộ và phát triển của một Nhà nước có thể được xem xét đánh giá trong nhiều góc độ khác nhau, sự công nhận, thừa nhận, khuyến khích quyền TDKD của công dân cũng là một trong những chuẩn mực của khung thước đo chung. Sự thể hiện các chuẩn mực của khung thước đo đó chính là sự minh bạch của của hệ thống pháp luật, sự cân đối hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và công dân, sự tôn trọng của Nhà nước một cách bình đẳng giữa các CTKD không lệ thuộc vào nguồn gốc thành phần chủ sở hữu… Khung thước đo ngày càng chuẩn mực hơn khi cơ chế vận hành quyền TDKD của các CTKD ngày càng phù hợp với luật chơi chung của khu vực và các tổ chức quốc tế. Để có thể xây dựng được những chuẩn mực cơ bản nêu trên, theo chúng tôi, Nhà nước ta cần có sự thích nghi với các quy phạm của luật nước ngoài, tiếp thu vào hệ thống pháp luật quốc gia trên một nguyên tắc cầu thị, chọn lọc những nội dung phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, cần bảo lưu những nét riêng của Việt Nam phù hợp với bản chất của thể chế chính trị hiện nay, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

(1) TS. Bùi Ngọc Cường, Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành, Nxb Chính trị Quốc gia,H., 2004, tr.109.
(2) Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành - TS.Bùi Ngọc Cường, NXBCTQG, 2004, tr.110.
(3) Bùi Ngọc Cường, Sđd, tr.112.
(4)Về vấn đề này, có thể xem thêm quan điểm của giáo sư Hideki Kanda và Curtis J.Mihaupt, trong “Re-examining Legal Transplants: the Director’s Fiduciary Duty in Japanese Corporate Law “; Trung tâm nghiên cứu Luật và kinh tế, Law School. Đại học Columbia, Mỹ, 2003 (trong Tiếp nhận pháp luật nước ngoài: Lý thuyết và thực tiễn trong pháp luật công ty Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp 2006).
(5) Bản đề xuất gia nhập Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế - TS. Đinh Thị Mỹ Loan; TS. Nguyễn Minh Hằng, Hà Nội, tháng 04/2011, Phần II.
(6) Tlđd.
(7) Tlđd.
ThS. Phan Thông Anh - Giám đốc công ty Luật Hợp danh Việt Nam.

Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống

Hoàng Tụy

Mấy năm nay trong xã hôi ta thường nghe nói đến các lỗi hệ thống. Và trong năm 2011 cụm từ tái cấu trúc được nhắc đi nhắc lại với tần số kỷ lục trong các giải pháp vượt qua khó khăn kinh tế gay gắt hiện nay. Không hẹn mà gặp, các từ này đã trở thành những từ khoá trong phần lớn các nghiên cứu về quản lý kinh tế xã hội trong cả năm 2011. Cho nên có lẽ cũng là tự nhiên nếu câu chuyện đầu năm xoay quanh tái cấu trúc và lỗi hệ thống.

Một hệ thống phức tạp được đặc trưng bởi mục tiêu, thành phần, cơ chế hoạt động và cấu trúc các mối quan hệ giữa các thành phần của nó với nhau và với môi trường bên ngoài.

Trong quá trình hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu của nó, một hê thống phức tạp, dù là một doanh nghiệp, một ngành kinh tế, văn hoá, xã hội hay những hệ thống lớn hơn, đều không tránh khỏi lúc này lúc khác có trục trặc. Nếu chỉ là trục trặc trong vận hành bình thường thì có thể dựa theo cơ chế phản hồi để phát hiện và điều chỉnh. Nhưng nếu trục trặc lớn, kéo dài thời gian lâu, thì thường có thể do mục tiêu sai, hoặc cấu trúc của hệ thống có vấn đề, có khuyết tật cơ bản, hoặc cả mục tiêu lẫn cấu trúc đều có chuyện. Khi đó, nếu chỉ xử lý cục bộ, chắp vá, vụn vặt, theo phương thức sai đâu sửa đó, thì không những không giảm bớt được truc trặc, mà có khi còn làm phát sinh thêm những rối ren, phức tạp mới, làm bất ổn gia tăng, đến mức có thể vượt khỏi tầm kiểm soát. Giải pháp đúng đắn trong tình huống đó chỉ có thể là dựa trên phân tích hệ thống, xét lại toàn bộ tổ chức, từ mục tiêu đến cơ chế hoạt động và các mối quan hệ trong nội bộ hệ thống với nhau và với môi trường, để thấy rõ và tìm cách sửa chữa những khuyết tật cơ bản của hệ thống, tức là các lỗi hệ thống, theo cách nói quen thuộc gần đây.

Đó là ý nghĩa các phạm trù “lỗi hệ thống” và “tái cấu trúc” mà gần đây đã được sử dụng khá phổ biến trong các câu chuyện chính trị và kinh tế, xã hội.  

Thực tế xây dựng đất nước hơn ba mươi năm qua đã dạy chúng ta một bài học đắt giá: chỉ trong vòng mười năm sau ngày thống nhất Tổ quốc, đất nước đã đứng trên bờ vực sụp đổ, buộc chúng ta phải tỉnh giấc, nhìn thẳng vào những thất bại gây nên do những lỗi lầm hệ thống tich luỹ trong quản lý kinh tế xã hội, từ đó mới có công cuộc đổi mới mà nhờ đó đất nước đã vượt qua khủng hoảng để hồi sinh kỳ diệu trong thập kỷ 90.

Ngày nay, éo le lịch sử lại đặt thế hệ chúng ta đứng trước tình huống tương tự như 25 năm trước. Bên cạnh những thành tựu bắt nguồn từ đổi mới, trong thời gian 5-7 năm gần đây đã xuất hiện nhiều sai lầm, thất bại đưa đất nước đến những khó khăn hết sức nghiêm trọng. Những gì tich cực mà đổi mới có thể đem lại đều đã đạt tới giới hạn. Nhiều lỗi hệ thống ở tầng sâu trước đây còn khuất nay bắt đầu lộ diện, khiến chúng ta đứng trước sự lựa chọn mới: hoặc tiếp tục làm ngơ với các lỗi hệ thống đó, chấp nhận đối mặt với nguy cơ trì trệ, thậm chí lụn bại và chuốc lấy nguyền rủa của đời sau, hoặc chịu đau giải phẫu và cắt bỏ những mầm bệnh mà thật ra đã ủ sẵn trong cơ thể từ nhiều thế hệ trước, và dũng cảm thay đổi tư duy một lần nữa, mở ra một thời kỳ khai sáng mới, xứng đáng với truyền thống cách mạng của các thế hệ tiền bối và không thẹn với những hy sinh mất mác to lớn của cả dân tộc qua mấy chục năm chiến tranh tàn khốc.

Trước hết, về đời sống chính trị. Có thể nói hầu hết những gì khó khăn, bê bối, trì trệ, suy thoái, hư hỏng, kéo dài trong mấy chục năm qua, suy cho cùng, có nguồn gốc liên quan tới những khuyết tật hệ thống của thể chế chính trị, cho nên sẽ khó có hy vọng khắc phục triệt để nếu không loại bỏ những lỗi hệ thống đó.

Điều nguy hiểm đáng lo, như Tổng Bí Thư đã nhận định trong Hội nghị TƯ vừa qua, là suy thoái biến chất đã diễn ra ở một bộ phận không nhỏ đảng viên giữ vị trí cao trong bộ máy quyền lực, ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm tin của dân. Nói như dân gian: nhà dột từ nóc. Sở dĩ như vậy là do quyền lực tập trung quá đáng mà không có cơ chế kiểm soát hữu hiệu, tiếng là thể chế dân chủ nhưng nặng về dân chủ hình thức, luật pháp không nghiêm minh, khiến tham nhũng, tội phạm có điều kiện hoành hành cả ở những nơi lẽ ra phải gương mẫu và trong sạch nhất. Bộ máy hành chính qua nhiều lần “cải cách” ngày càng đồ sộ mà vẫn quan liêu, xa dân, hành dân là chính. Nhiều quan lớn trong bộ máy không ngớt rao giảng đạo đức mà thật ra lối sống đồi truỵ, chỉ chăm chăm lợi dụng chức quyền mưu lợi vinh thân phì gia. Với một nền quốc trị như thế, trách sao văn hoá, đạo đức xã hội không ngày một suy đồi, các bản tin hàng ngày dày đặc những vụ lừa đảo, trộm cắp, chém giết nhau mất hết tính người.

 Thật đau xót khi nghĩ tới một xã hội cách đây chưa lâu từng được ca ngợi nghèo nhưng vẫn giữ được phẩm cách, nay đầy rẫy những cảnh xa xỉ lố lăng, gian dối, xảo trá, không chút tự trọng. Cho nên sửa đổi hiến pháp đi đôi với chỉnh đốn Đảng, chỉnh đốn bộ máy chính quyền, tái cấu trúc ở tầng sâu chính trị nhằm sửa sai hệ thống là yêu cầu khẩn thiết hiện nay cần thực hiện bằng được mới mong có thể lấy lại niềm tin đang mất dần của dân.

Thứ hai, về đời sống kinh tế. Trong mấy thập kỷ mải mê phát triển kinh tế dựa vào tài nguyên thiên nhiên và lao đông giá rẻ, lấy doanh nghiệp Nhà nước làm chủ đạo, xây dựng các tập đoàn chủ chốt dựa trên độc quyền và sự ưu ái của Nhà nước chứ không dựa trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh, trong khi đó lơ là văn hoá, giáo dục, khoa học khiến các lĩnh vực này sa sút nghiêm trọng – nay đã  rõ mô hình đó không thể tiếp tục. Tai hại là đường lối phát triển kinh tế thiển cận đó được thực thi trên nền một thể chế lỏng lẻo bị thao túng bởi các nhóm lợi ích, khiến tham nhũng, lộng quyền, thiếu dân chủ đã trở thành những căn bệnh đặc trưng của xã hội Viêt Nam hiện nay. Nếu không đủ quyết tâm trừ diệt tận gốc mà cứ để những căn bệnh này ăn sâu vào xương tuỷ xã hội thì không mong gì những kế hoạch tái cấu trúc kinh tế có thể thực hiện có hiệu quả.

 Sau cùng, nhưng xét về lâu dài lại là căn bản nhất, là đời sống văn hoá, giáo dục, xã hội. Không phải không có cơ sở mà ngay trong chế độ thực dân hà khắc, Phan Châu Trinh đã khởi xướng cứu nước bằng đường lối “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Sự xuống cấp ở đây thấm thía từng ngày, chưa bao giờ người dân bình thường cảm thấy cuộc sống bất an như lúc này. Đường sá, phương tiện giao thông thiếu an toàn (gần đây càng trầm trọng do các vụ cháy xe liên tiếp vì xăng kém phẩm chất), bệnh viện quá tải thê thảm, thực phẩm độc hại tràn lan, trường học cũng không yên tĩnh, đành rằng tất cả đều có phần hệ quả  trực tiếp của những sai lầm hệ thống nói trên về chính trị, kinh tế. Tuy nhiên, ở đây cũng cần nhận rõ những sai lầm hệ thống ngay trong văn hoá, khoa học, giáo dục, y tế, xã hội nữa. 

Về giáo dục, những yếu kém, bất cập, hư hỏng lưu niên đến nay chưa dứt chứng tỏ đường lối đổi mới cục bộ, chắp vá, vụn vặt, lăng nhăng, từng thực thi qua ba đời bộ trưởng đã hoàn toàn phá sản. Từ lâu, cải cách giáo dục toàn diện, triêt để, đã được cuộc sống cảm nhận bức thiết và TƯ Đảng, Chính Phủ cũng đã có những nghị quyết trịnh trọng khởi xướng từ 6-7 năm nay. Sai lầm hệ thống lớn nhất trong lĩnh vực giáo dục là đã đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, kìm hãm thế hệ trẻ trong nền cử nghiệp hư học mà ngay từ thời phong kiến, vua Minh Mạng triều Nguyễn đã từng nghiêm khắc lên án nó là nguyên nhân khiến “nhân tài trong nước ngày một kém đi” (“Viêt Nam sử lược” của Trần Trọng Kim, trang 463). Trong đó cái chính sách lương không ra lương, ban đầu còn có lý do bào chữa là do khó khăn kinh tế, kỳ thật là một chính sách thiển cận tai hại, đương nhiên chủ yếu do chịu vòng cương toả của chính sách chung về lương công chức của Nhà nước, nhưng trong đó cũng có một phần không nhỏ là trách nhiệm của bản thân ngành giáo dục. Vì cái chính sách lương kỳ quặc này, không giống bất cứ ai trên thế giới, nên mới có tình trạng cũng không giống ai trên thế giới là thầy giáo không tập trung vào công việc mình được trả lương mà phải đầu tắt mặt tối kiếm thêm thu nhập từ những công việc khác. Nghịch lý lạ lùng là không đâu người thầy bị rẻ rúng, coi thường như ở xứ này, nơi mà từ xa xưa đã có truyền thống tôn kính thầy và nay vẫn luôn nhắc tới bốn chữ tôn sư trọng đạo. Vì vậy, tuy lúc này mới bắt tay cải cách giáo dục cũng đã quá muộn, nhưng lại có thể có thuận lợi cơ bản nếu được làm đồng bộ với cải cách chính trị và cải cách kinh tế như trên đã bàn.

Còn nhớ khi mới bắt đầu đổi mới, vào cuối thập kỷ 80, đã có lúc, do nghe theo đề xuất của một số cán bộ nghiên cứu thiếu hiểu biết, khái niệm hộp đen trong khoa học hệ thống đã được vận dụng khá bừa bãi trong quản lý kinh tế. Kỳ quặc đến nỗi danh từ hộp đen dùng để chỉ các xí nghiệp đã trở thành thời thượng trong các phát biểu của lãnh đạo, trên các báo lớn nhất ở trung ương, và cả một thời gian dài cái áo khoa học sang trọng khoác lên danh từ đó từng là yếu tố kích thích, tạo hứng cho hoạt động của các câu lạc bộ giám đốc xí nghiệp. Thậm chí nhiều người, cả ở cấp lãnh đạo cao, cũng tin tưởng ngây thơ chỉ việc “quay” các hộp đen cho giỏi thì sản xuất sẽ phát triển. Còn “quay” như thế nào thì tuỳ nghi, ai muốn hiểu cách nào cũng được, tha hồ cho trí tưởng tượng mặc sức vẽ vời.  Đó là thời kỳ ấu trĩ, tuy cũng là một cách giải toả bớt tâm lý bế tắc chung vào lúc nhìn đâu cũng thấy khó khăn, nhưng cái hại lớn là tạo ra thói quen say sưa bàn thảo những chuyện vu vơ, chẳng ăn nhập gì với cuộc sống đang nước sôi lửa bỏng hàng ngày. Mong rằng lần này chúng ta không lặp lại sai lầm đó, dù ở trình độ cao hơn.

Tái cơ cấu là để sửa các lỗi hệ thống, cho nên trước hết phải nhận định đúng các lỗi hệ thống, mới biết nên tái cơ cấu như thế nào và sau đó phải có đủ quyết tâm mới thực hiện được đến nơi đến chốn. Toàn bộ công việc đụng chạm đến các nhóm lợi ích mà một số nhóm này gắn chặt với các lỗi hệ thống, cho nên sẽ rất gay go, gian khổ.  Từ hai mươi năm nay đây là thử thách lớn nhất,  cầu mong hồn thiêng sông núi giúp đất nước vượt qua được thử thách này.

 

Hoàng Tụy

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 5-1-12

Phát ngôn Tuần Việt Nam: Sự hư hỏng!


Bỗng nhớ tới câu của ai đó từng biện bạch: Đừng nhìn vào một vài cái cây, sẽ không thấy cả cánh rừng. Nhưng niềm tin của người dân về cánh rừng sẽ ra sao đây, nếu như xung quanh mình, thấy không ít những cái cây đã bị sâu đục như Nguyễn Thanh Lèo, Trần Văn Tân... và còn biết bao cái cây đã lộ và chưa bị lộ, trước đó và sau này...
Ai thua lỗ?
Có một vụ việc cách nay hơn tuần, của hai quan chức, cấp "vừa trung vừa gian", ở một tỉnh nghèo- Sóc Trăng, làm tên tuổi họ bỗng nổi như cồn khắp thiên hạ. Phát ngôn Tuần Việt Nam cuối tuần này, xin được lấy làm chủ đề bàn luận, với tên gọi đích danh: Sự hư hỏng!
Đó là vụ đánh cờ tướng của ông Nguyễn Thanh Lèo (Phó Giám đốc Sở Giao thông Vận tải Sóc Trăng), với ông Trần Văn Tân, (Giám đốc Trung tâm sát hạch và cấp giấy phép lái xe hạng 3- thuộc Trường trung cấp Nghề khu vực ĐBSCL).
Hai "kỳ thủ" nổi tiếng bất đắc dĩ này được biết đến chẳng phải vì tài cờ cao thấp, mà là ở... tiền cược cao thấp. Mỗi ván thắng thua, trị giá từ 1-5 tỷ đồng. Một giá tiền thoạt đầu, ai cũng tưởng mình nghe nhầm.
Đánh thế nào mà ông Lèo nợ ôngTân tới 22 tỷ đồng, và mới trả nợ được 5 tỷ. Khi không có cơ trả nợ nổi, ông Lèo bị ông Tân thuê hai cha con Nguyễn Thanh Hùng (Hùng "cải lương") và con ruột là Nguyễn Thanh Truyền (đều ngụ tại Sóc Trăng) đến xiết nợ, đe dọa tính mạng cả gia đình. Cùng đường hoảng quá, Lèo phải tự thú với cơ quan điều tra.
Cách hành xử của hai kẻ, từ quan chức đến... giang hồ, chỉ cách nhau một... bàn cờ tướng. Chao ôi, thời kim tiền! Chẳng sự hư hỏng nào giống sự hư hỏng nào.
Đương nhiên, đến thời điểm này, cả bốn kẻ quan chức lẫn giang hồ đều chung nhau hình thức- tạm giam của cơ quan chức năng để suy nghĩ về "nước cờ" mới, hòng thoát tội như thế nào.
Mà họ từng là đôi bạn "công nông" cùng tiến đó. Cùng học hết lớp 9 bổ túc công nông, và rất nhanh, mỗi người một cách thăng tiến trên con đường hoạn lộ. Đương nhiên, tài năng thăng tiến của họ, chỉ họ và người cất nhắc họ tường tận nhất.
Còn phẩm cách họ, giờ mới là lúc bộc lộ "toàn phần"? Cũng chưa hết. Tại cơ quan điều tra, ông Lèo khai nhận ngoài ông Tân, ông Lèo còn nhiều lần đánh cờ cùng một cán bộ cấp phó của cơ quan trực thuộc Thành ủy Sóc Trăng.
Người viết bài tự hỏi: Trong xã hội này, có bao nhiêu trường hợp như ông Lèo, ông Tân? Và sẽ còn bao nhiêu vụ quan chức "cháy túi ra...con bạc" đây? Câu trả lời chắc chắn- không hiếm!
Vì nói đâu xa, vụ PMU 18 ầm ĩ và tai tiếng. Vụ một lãnh đạo Viện KSND Quảng Bình đánh bài ăn tiền. Rồi vụ một Phó Cục trưởng Cục thuế Hà Tĩnh đánh bạc với mấy lãnh đạo doanh nghiệp tại một khách sạn, bị bắt quả tang.... Cứ thỉnh thoảng, nhân dân lại nghe chuyện các quan chức đánh bạc bị bắt, hệt chuyện thường ngày ở huyện.
Ông Nguyễn Thanh Lèo (góc phải ảnh) - phó giám đốc Sở GTVT tỉnh Sóc Trăng và quán Thy Tài, nơi ông Tân và ông Lèo đánh cờ bạc tỉ. Ảnh: TTO
Cả xã hội sửng sốt. Vì sao, chỉ là cỡ quan chức nhỏ, không biết hai ông này thu nhập từ đâu để có thể đặt cược một khoản tiền bằng 10 đến 50 năm thu nhập (không ăn uống, chi tiêu) của một công nhân cầu đường bậc cao (8 triệu đồng/tháng) chỉ để vào cuộc đỏ đen?
Nghĩ cho kỹ, nếu là tiền túi, tiền do mồ hôi lao động một nắng hai sương tự kiếm ra, chắc chắn hai ông Lèo và Tân, chả đời nào dám vung như thế vì đồng tiền liền khúc ruột. Chỉ có là tiền thiên hạ...
Đến nỗi ông Trần Trinh Đức, con trai công tử Bạc Liêu Trần Trinh Huy (tay chơi nổi tiếng ở Sài Gòn và miền Nam những năm 1930, 1940 trước đây, người đã "đưa" cụm công tử Bạc Liêu trở thành một thành ngữ, một khái niệm về sự ăn chơi), hiện đang sống tại Bạc Liêu, cũng phải lắc đầu:
Cha tôi thời ấy cũng chỉ chơi một canh bạc 30.000 đồng mà thôi (tương đương 1,8 tỉ đồng tính theo giá lúa bây giờ). Chơi đến chừng ấy, chắc cha tôi cũng xin chào thua!
Không chỉ công tử Bạc Liêu chào thua. Nhân dân cũng xin .... chào thua hai ông!
Người ta bỗng nhớ đến câu chuyện nước Anh: Khi lấy Hoàng tử William làm chồng (tháng 4-2011) theo quy định của Hoàng gia, cô Kate Middleton không được làm 10 điều người dân thường có quyền làm. Trong đó, không được chơi Monopoly, cờ tỷ phú, một trò chơi kiểm tra trí tuệ vui vẻ nhưng có ăn tiền. Vì điều đó, sẽ làm mất đi sự trang nghiêm cao quý.
Đến xã hội tư bản, còn nghiêm cấm giới quý tộc Hoàng gia chơi cờ ăn tiền, ảnh hưởng đến hình ảnh phẩm cách nữa là... Phẩm cách ở đây chính là uy tín.
Rất vô tình, giữa lúc đó, cũng có một câu chuyện về tiền tỷ của hai người dân nghèo ở thị trấn Bến Lức (H. Bến Lức, Long An). Một người đàn bà bán vé số, và một người đàn ông chạy xe ba gác 25 năm, là khách hàng. Cả hai đều hy vọng kiếm tiền. Nghèo quá, đến tờ vé số, người đàn ông cũng phải mua chịu.
Ảnh minh họa
Thế nhưng, như cổ tích, chiếc vé số mua chịu lại trúng giải 6,6 tỷ, một số tiền cả đời người đàn bà bán vé số kia nằm mơ cũng không thấy. Vậy nhưng, chị vẫn gọi và trả lại cho người mua chịu. Rốt cục, một câu chuyện có hậu và ấm áp cho hai người trong cuộc, cho những người thân của họ. Và ấm áp cho xã hội, những ai được biết. Vì chữ phẩm hạnh làm người vẫn còn giá trị của nó.
Đặt hai câu chuyện "đánh cờ" của quan và dân cạnh nhau, người ta nhận ra, sự đối cực của hư hỏng và tử tế, của tham vọng và thiện lương, của tha hóa và nhân cách con người.
Có rất nhiều lời bình trên báo chí về vụ quan chức kiêm .... con bạc này. Nhưng người viết bài chú ý tới trả lời báo Nguoiduatin.vn (31/12/2011)của ông Nguyễn Đình Hương, nguyên Phó Ban Tổ chức Trung ương: Còn cơ chế xin- cho, còn "quan sâu" bạc tiền tỷ.
Trái với sự bàng hoàng của người dân, là người từng có chức trách và đầy kinh nghiệm về công tác cán bộ, ông Nguyễn Đình Hương thẳng thắn:
Tôi không sốc.... Ông Lèo không phải là hiện tượng cá biệt. Những người như thế này khá nhiều, chỉ là lộ và chưa lộ mà thôi. Còn cơ chế xin - cho, cơ chế độc quyền, quản lý không ai chịu trách nhiệm thì còn những con sâu như thế này.
....5 tỷ chứ 10 tỷ tôi cũng không bất ngờ. Bởi với tình trạng tham nhũng như hiện nay, người ta có thể chơi ván cờ lớn như vậy là chuyện bình thường....Tiền đó không có cách hiểu nào khác là tiền tham nhũng, tiền ăn cắp của nhân dân.
Ông Nguyễn Đình Hương chỉ băn khoăn: Cấp quản lý của các ông ấy ở đâu khi để tồn tại một cán bộ thoái hóa như thế này? Tổ chức Đảng ở đâu? ...Những ông đó là do Tỉnh uỷ quản lý, Ban Tổ chức Tỉnh uỷ, Chủ tịch tỉnh, Giám đốc Sở quản lý, vậy mà tại sao không biết gì?!
Một câu hỏi, không biết có quan chức nào ở Sóc Trăng có thể trả lời được không?
"Hậu thế" của ngành giao thông, quả không chịu kém các bậc "tiền nhân PMU 18". Nhưng cho dù có "nợ" nhau hay "thắng" nhau tới 22 tỷ, xét cho cùng, hai con bạc Nguyễn Thanh Lèo, và Trần Văn Tân, không ai thắng, cũng chẳng ai thua, vì tiền cá cược đâu phải tiền của họ?
Chỉ có nhân dân cuối cùng là ...thua lỗ. Khi buộc phải đặt niềm tin không đúng chỗ vào sự hư hỏng nhân danh...cán bộ.
Và ai thua thiệt?
Rất ngẫu nhiên, vào những ngày xảy ra vụ việc cờ bạc của hai quan chức Lèo và Tân, có một sự kiện, ngay lập tức được hàng loạt báo đưa tin, với những cái tít bài khá sốc: Chỉnh đốn Đảng vì sự tồn vong của chế độ; Đẩy lùi sự suy thoái trong Đảng; Góp ý xây dựng, chỉnh đốn Đảng...
Đó là sự thừa nhận thẳng thắn của người lãnh đạo cao cấp nhất trong Đảng- Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, tại Hội nghị TƯ 4, ngày 26/12/2011, về mối nguy hiểm của tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
Người viết bài bỗng nhớ tới câu của ai đó từng biện bạch: Đừng nhìn vào một vài cái cây, sẽ không thấy cả cánh rừng. Nhưng niềm tin của người dân về cánh rừng sẽ ra sao đây, nếu như xung quanh mình, thấy không ít những cái cây đã bị sâu đục như Nguyễn Thanh Lèo, Trần Văn Tân... và còn biết bao cái cây đã lộ và chưa bị lộ, trước đó và sau này...
Trong nhiều nguyên nhân TBT đã chỉ ra, đó là một nguyên nhân rất căn cốt.
Nói cho công bằng, hơn 20 năm đổi mới, xã hội chúng ta đã rất nhiều lần phát động các cuộc vận động: "Sống, học tập và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại". Rồi: "Sống, học tập và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật".
Thế nhưng cho đến giờ, tham nhũng vẫn là quốc nạn, chưa thể đẩy lùi. Mà muốn tham nhũng, ít nhất phải có chức quyền, có vị thế. Và hiện tượng quan chức, cán bộ, đảng viên suy thoái đang trở thành một tình trạng.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị TƯ 4. Ảnh: Cổng TTĐT Chính phủ
Vậy nên, mọi biện pháp vận động, phát động phong trào, nếu thiếu giải pháp, thì dễ nói hay, làm dở, thiếu hiệu quả.
Điều khiến nhiều người đọc quan tâm còn là câu chuyện của TBT kể về Bác Hồ trong phiên bế mạc Hội nghị TƯ4.
Có lần Bác Hồ nói: "Tôi làm điều xấu, các đồng chí trông thấy phải phê bình cho tôi sửa chữa ngay. Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy lại lấy cớ "nể Cụ" không nói là tôi mang nhọ mãi. Nhọ ở trên trán thì không quan trọng nhưng nếu có vết nhọ ở trong óc, trong tinh thần mà không nói cho người ta sửa là hại người ta".
Câu nói về sự phê bình của Bác Hồ rất giản dị và thấm thía.
Nhưng câu tổng kết của dân gian, của cuộc đời cũng lại giản dị, thấm thía và đắng cay hơn: "Đấu tranh, tránh đâu?", "Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng". Chỉ vì sợ cái sự tránh đâu, có không ít con người không dám chỉ ra vết nhọ trên trán, vêt nhọ trong óc, trong tinh thần đảng viên, vì người ta rất sợ cái vết nhọ định kiến. Điều đó còn có hại hơn.
Chỉnh đốn Đảng bằng cách nào?
Nếu thiếu một cơ chế quản lý minh bạch, công khai và công bằng.
Nếu không triệt phá được cái triết lý sống và ứng xử: Cái gì không mua được bằng tiền, sẽ mua được bằng rất nhiều tiền đang ngấm ngầm, nhưng lại ngông nghênh phổ biến trong xã hội. Chính triết lý này đã dẫm đạp lên tất thảy mọi giá trị.
Nếu thiếu một tư duy trẻ, mềm dẻo, trong lãnh đạo và chỉ đạo, biết đặt lợi ích dân tộc lên trên hết?
Nếu như những người đảng viên không phải là những người tiên phong chống lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình, lợi ích nhóm... Nếu những người đảng viên làm việc gì cũng bị đụng đến lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, lợi ích gia đình thì không thể giải quyết nổi, như phát biểu của ông Lê Hiếu Đằng (nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ TPHCM)
Thì trên con đường phát triển để hội nhập, dân tộc sẽ tụt hậu. Chỉ dân tộc là thua thiệt!