Friday, January 13, 2012

Hiến pháp mới thoát ly nền kinh tế tập trung, giới hạn quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền của người


Chức năng, vị trí, vai trò, ý nghĩa, phạm vi, nội dung, cách thức thể hiện và thực hiện của hiến pháp… là những vấn đề liên quan đến nhận thức về hiến pháp. Nhận thức đúng về hiến pháp sẽ giúp chúng ta có Hiến pháp đúng, tạo điều kiện dễ dàng cho việc thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp. Tất cả những nhận thức đó được gọi là lý thuyết hiến pháp, còn được gọi là chủ nghĩa Hiến pháp. Thuật ngữ “Chủ nghĩa Hiến pháp” hay “Chủ nghĩa hợp hiến” đều được dịch ra từ tiếng Anh là Constitutionalism. Nội dung ý tưởng của thuật ngữ này có từ thời triết học Hy Lạp cổ đại của Plato và Aristotle, sau đó được phát triển ở Tư tưởng Khế ước xã hội thế kỷ XVII và XVIII của Lokce, Montesquieu, J. Rousseau, J. Mill… với nội dung là những biểu hiện về một chính phủ hữu hạn, mà thẩm quyền tối hậu của Chính phủ luôn luôn phải tuân thủ sự đồng ý của nhân dân.
Học thuyết Chủ nghĩa Hiến pháp có nhiều dấu ấn như Học thuyết nhà nước pháp quyền/ The Rule of law, cho nên không ít ý kiến cho rằng nhà nước pháp quyền tương đương với chủ nghĩa hiến pháp, có người lại quan điểm chủ nghĩa Hiến pháp là 1 phần quan trọng của nhà nước pháp quyền. Cho dù là một phần hay là tương đương đi chăng nữa, một khi chúng ta đã nói đến nhà nước pháp quyền thì, kèm theo đó phải hiểu được chủ nghĩa hiến pháp.
Hiến pháp một văn bản tối cao của nhà nước như là một văn bản ghi nhận những biểu hiện của Chủ nghĩa hiến pháp; giữa chúng có sự khăng khít với nhau, nhưng là những thực thể khác nhau. Một nhà nước có hiến pháp thành văn chưa chắc ở đó đã có chủ nghĩa hiến pháp. Chủ nghĩa hiến pháp/ chủ nghĩa hợp hiến đòi hỏi không những có một bản Hiến pháp theo đúng nghĩa của từ này, mà còn phải thực thi nghiêm túc các quy định và cả tinh thần của hiến pháp. Có thể có quốc gia không có hiến pháp thành văn, nhưng đời sống của họ rất tuân thủ các quy định mà họ được hiểu ngầm là hiến pháp. Ví dụ như trường hợp nhà nước Anh. Nhiều nước có hiến pháp, và hiến pháp của họ được chỉnh lý nhiều lần, nhưng ở đó vẫn không thể hình thành một tinh thần của chủ nghĩa hiến pháp, cũng như tinh thần của một nhà nước pháp quyền. Vì ở đó vẫn còn hiện tượng vi phạm hiến pháp, tức là không có chủ nghĩa hiến pháp, không có tinh thần của một nhà nước pháp quyền.
Hiến pháp của nước Anh là hiến pháp bất thành văn. Bất thành văn nhưng không có nghĩa là không có hiến pháp. Nước Anh vẫn có hiến pháp bao gồm nhiều đạo luật, nhưng những đạo luật này không được thừa nhận là đạo luật cơ bản. Bên cạnh những đạo luật do Quốc hội Anh thông qua và được nhà Vua ban hành còn có các tập tục chính trị khác được hình thành từ xa xưa, mà khi thi hành quyền lực nhà nước, lực lượng cầm quyền buộc phải áp dụng.
Giới hạn quyền lực nhà nước đã trở thành chức năng căn bản của Hiến pháp Anh quốc. Chức năng này được hình thành trong những điều kiện trăn trở giữa các thế lực khác nhau. Thuở ban đầu giữa nhà Vua đang có quyền lực vô hạn định, với tầng lớp quý tộc đang lên. Muốn khẳng định quyền lực nhà nước, tầng lớp quý tộc đòi phải được chia sẻ với nhà Vua; Nhà Vua muốn giữ gìn quyền lực nhà nước buộc phải thỏa hiệp với quý tộc. Thời sau của Cách mạng Dân chủ tư sản, khi nhà Vua chỉ còn lại “quyền hành pháp tượng trưng”, mối quan hệ thỏa hiệp này được chuyển cho đảng cầm quyền và đảng đối lập. Hiến pháp có chức năng quan trọng trong việc thể hiện sự chuyển giao quyền lực giữa đảng cầm quyền và đảng đối lập, mà thay thế cho những biện pháp chuyển giao quyền lực bằng gươm đao, vũ khí thô sơ của thời trung cổ bằng vũ khí tối tân như bom đạn của thời hiện đại ngày nay.
Kể từ khi có bản manh nha của hiến pháp đến khi có một bản hiến pháp thành văn ở nghĩa hẹp nhất của Mỹ năm 1787 phải mất đến hơn một nửa thiên niên kỷ tiếp theo. Bản hiến pháp thành văn đầu tiên của thế giới cũng được thông qua trong một điều kiện trăn trở không kém, cho dù thời gian có ngắn hơn. Đó là những sự lo lắng cho tồn tại mà không bị quay trở lại thành thuộc địa một lần nữa của 13 bang, tiểu bang đang được tổ chức trong một điều kiện lỏng lẻo của một hợp bang vừa thoát khỏi sự phụ thuộc vào nước Anh mẫu quốc. Việc thành lập ra nhà nước liên bang của Mỹ cũng nằm trong điều kiện phải trăn trở giữa hai thế lực liên bang, muốn có một nhà nước liên bang mạnh mẽ bằng mọi giá để có thể phòng chống sự xâm lược của các cường quốc lúc bấy giờ, với phe chống liên bang muốn bảo vệ quyền của người dân và chủ quyền của các tiểu bang vừa mới giành được từ tay Anh quốc.
Sự giới hạn quyền lực nhà nước của Hợp chủng quốëc Hoa Kỳ được thể hiện 2 điểm nhấn cơ bản: Ghi nhận quyền con người trong 10 tu chính sửa đổi đầu tiên ngay sau khi thông qua và hệ thống phân quyền thành kiềm chế và đối trọng giữa các quyền. Đằng sau khái niệm “kiểm soát và cân bằng” là một quan điểm hiện thực sâu sắc về bản chất con người của Hiến pháp Hợp chủng quốc. Con người sinh ra bản chất có cái ác, trong con người luôn luôn có tính dễ bị tổn thương trước sự đam mê, cố chấp và ích kỷ, nhất là trong trường hợp con người có quyền lực nhà nước, mà không phải tính bản thiện như quan niệm Nho giáo chính thống (Khổng Tử: Nhân chi sơ tính bản thiện; Tuân Tử: Nhân chi sơ tính bản ác) đã ngự trị ở phương Đông, khi tin tưởng rằng con người luôn ở trạng thái hoàn thiện, luôn có lý trí, luôn kỷ luật và luôn luôn công bằng theo mẫu người quân tử hiền tài.
Giới hạn quyền lực nhà nước hay là kiểm soát quyền lực nhà nước như là một tiêu chí đầu tiên và quan trọng của Chủ nghĩa hiến pháp cũng như của lý thuyết nhà nước pháp quyền.
Sang đến thế kỷ XVIII, XIX và XX với sự thay đổi của thời gian, hiến pháp cũng có chức năng thay đổi nhất định, trở thành một văn bản phủ nhận quyền lực nhà nước của những thế lực cầm quyền, khẳng định nền dân chủ - quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, quy định hình thức cơ cấu quyền lực của một nhà nước, hiến pháp nhiều khi không còn nguyên nghĩa của một bản văn giới hạn quyền lực, mà lại nghiêng về việc tổ chức quyền lực nhà nước, góp phần tạo nên sự chính đáng của nhà nước. Số lượng các nhà nước có hiến pháp tăng lên không ngừng, từ chỗ chỉ một số ít nước đến có chỗ có hàng trăm nước. Số lượng các quốc gia có hiến pháp gần bằng với số các quốc gia tự nhận hay phải xem mình là một nhà nước dân chủ.
Theo thời gian, chức năng của Hiến pháp có một sự biến đổi nhanh chóng, thường được thông qua trong điều kiện thành công của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, trong điều kiện khải hoàn ca của chiến thắng - thái lai, mà không phải ở giai đoạn khủng hoảng của bĩ cực, phải tính toán cẩn trọng để có điều kiện cho việc thoát ra khỏi thế khủng hoảng. Việc soạn thảo và thông qua bản hiến pháp của các nhà nước sau này rất vội vàng, mà không có sự trăn trở đẻ đau, thậm chí như là một sự thỏa hiệp giữa các quan điểm và nhận thức khác nhau, như của các hiến pháp trước đây, mà được gọi là Hiến pháp cổ điển. Lực lượng thắng thế khẳng định quyền lực thuộc về mình bằng cách thông qua một bản Hiến pháp mới, được gọi là Hiến pháp của thời kỳ hiện đại.
Cũng nằm trong trào lưu nói trên, Hiến pháp Việt Nam được thông qua sau chiến thắng của công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Và sau này tiếp theo, cùng với những nhận thức về chủ nghĩa xã hội có lúc còn xơ cứng, các bản Hiến pháp của các nhà nước XHCN đã làm cho hệ thống xã hội chủ nghĩa rơi vào tình trạng khủng hoảng, buộc phải nhận thức lại con đường phát triển của mình bằng các công cuộc cải tổ và đổi mới. Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1980 được thay bằng Hiến pháp năm 1992. Khác với các Hiến pháp trước đây 1959 và 1980 đều được thông qua trong cao trào cảm xúc của sự chiến thắng, còn có yếu tố dễ dãi cho việc tiếp thu không tính toán các kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp năm 1992 có nhiệm vụ cao cả phải tính toán cho việc thay đổi những tư duy bảo thủ, tập trung của chủ nghĩa xã hội đang tạo cho một sự khủng hoảng cả về mặt KT - XH, mà kết quả của bản Hiến pháp này đã tạo ra một xã hội ít nhiều có sự phát triển như ngày nay. Sự thay đổi đó được khẳng định trong nhiều điều khoản hiện hành. Đó là điều khoản thừa nhận trở lại sự hiện hữu của sở hữu tư nhân, như là một trong nhữäng quyền cơ bản của công dân (Điều 58).  Với sự đổi mới công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều thắng lợi, chế độ chính trị ngày càng trở nên ổn định hơn, và hiện nay để tiếp tục cho công cuộc phát triển tiếp theo vững chắc hơn và bền vững hơn, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI khẳng định tiếp tục sửa đổi và bổ sung Hiến pháp.
Một trong những mục tiêu của việc sửa đổi Hiến pháp lần này là làm sao cho các quy định của Hiến pháp Việt Nam phải tính toán chi li không có sự rơi rớt lại biểu hiện của cơ chế cũ của CNXH, của nền kinh tế tập trung, và cần thể hiện hơn nữa chức năng cơ bản Hiến pháp là giới hạn quyền lực nhà nước để bảo vệ quyền của người dân, chống sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Nguyễn Đăng Dung--ĐBND

Tập quyền XHCN: một học thuyết đã lỗi thời?



Tập quyền XHCN: một học thuyết đã lỗi thời?

1. Tập quyền và phân quyền: Hai phương thức cơ bản tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước luôn gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người. Theo Will Durant trong cuốn Nguồn gốc văn minh (Bản dịch Nguyễn Hiến Lê, Nxb. Văn hoá thông tin, năm 2006) thì trong các xã hội sơ đẳng, khi các cộng đồng xã hội tỏ ra quá yếu ớt, bạc nhược, dễ bị tổn thương trước những thách thức của tự nhiên và các kẻ thù xã hội khác thì con người bắt đầu hợp quần, liên kết, thống nhất, đoàn kết lại để thực hiện các hoạt động chung mang tính chất cộng đồng, xã hội từ đó được tổ chức theo một trật tự nhất định trên cơ sở ý chí, nguyện vọng chung của cả cộng đồng đó. Người đứng đầu của mô hình này là những thủ lĩnh, tù trưởng, tộc trưởng, giáo trưởng và đây chính là phương thức hình thành quyền lực xã hội. Tuy nhiên, khi kinh tế - xã hội phát triển đến một trình độ nhất định, trong xã hội xuất hiện người giàu, kẻ nghèo, quan hệ giai cấp và đấu tranh giai cấp xuất hiện cùng mới một loại quyền lực mới: quyền lực chính trị với mục tiêu là duy trì, bảo đảm sự thống trị của giai cấp thống trị đối với toàn xã hội.
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, quyền lực nhà nước là một dạng đặc biệt của quyền lực chính trị, là năng lực hành động chính trị của giai cấp cầm quyền nhằm hiện thực hoá lợi ích của mình trên cơ sở đảm bảo ở mức độ nhất định việc thực hiện lợi ích chung của xã hội. Có thể nói, kể từ khi quyền lực nhà nước được xác lập, con người luôn tìm kiếm cách thức sử dụng quyền lực để quyền lực được tổ chức và thực thi có hiệu quả cao nhất. Trong thực tế, quyền lực nhà nước luôn gắn liền với bộ máy thực thi, nếu không có bộ máy đó thì quyền lực nhà nước không thể tồn tại. Các cơ quan nhà nước chính là sự thể hiện vật chất của quyền lực nhà nước. Mối quan hệ giữa quyền lực nhà nước và bộ máy nhà nước là mối quan hệ của cặp phạm trù nội dung - hình thức.
Trong lịch sử văn minh nhân loại, có hai dòng học thuyết chính thể hiện tư tưởng, nguyên tắc, phương thức tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước là học thuyết về tập quyền và học thuyết về phân quyền. Học thuyết phân quyền được xây dựng nhằm chống lại sự chuyên quyền, độc đoán với tư duy quyền lực nhà nước cần phải được phân chia thành những nhóm độc lập với nhau, kiềm chế và đối trọng lẫn nhau, không có một cơ quan nào nắm giữ toàn bộ quyền lực nhà nước. Trái với lý thuyết phân quyền, lý thuyết tập trung quyền lực cho rằng quyền lực nhà nước là thống nhất và không thể phân chia. Quyền lực thống nhất ở nguồn gốc và bản chất của nó là xuất phát từ nhân dân. Quyền lực nhà nước phải được tập trung đủ mức mới tạo ra đủ sức mạnh, đảm bảo cho xã hội hoạt động một cách bình thường, ổn định cũng như đảm bảo quan hệ hài hoà, chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước. Điều này còn được thể hiện ở chỗ quyền lực nhà nước là thống nhất thuộc về nhân dân và được tập trung ở cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân. Việc phân chia quyền lực sẽ mâu thuẫn với yêu cầu dân chủ: toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân. Ở giữa hai thái cực này là mô hình hỗn hợp, trong đó thể hiện sự kết hợp, dung hoà giữa hai học thuyết. Trong thực tế, mỗi học thuyết đều có những giá trị lý luận và thực tiễn của riêng mình: Tập trung thống nhất quyền lực khẳng định giá trị chủ quyền tối thượng của nhân dân, phân quyền tạo ra tính chuyên nghiệp trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, làm cho quyền lực nhà nước được kiểm soát và không bị tha hoá.
Trong thực tế, các học thuyết về tập quyền và phân quyền có thể được hiểu theo cấu trúc chiều dọc hoặc chiều ngang. Theo cấu trúc chiều ngang, tập quyền phản ánh sự thống nhất của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vào một cơ quan hay một cá nhân còn phân quyền được phản ánh ở sự phân lập giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp rồi trao cho các cơ quan khác nhau. Hỗn hợp là sự phản ánh nguyên tắc thống nhất quyền lực đồng thời có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Theo cấu trúc chiều dọc, tập quyền được hiểu là sự tập trung quyền lực vào trung ương, còn địa phương chỉ là thực thể thực hiện quyền lực từ trung ương. Phân quyền được hiểu là sự phân định tương đối rõ ràng giữa quyền lực trung ương và địa phương. Hỗn hợp là sự kết hợp giữa tập trung quyền lực vào trung ương với phân cấp có giới hạn những quyền hành nhất định cho địa phương để quản lý lãnh thổ thông qua nhiều hình thức khác nhau như tản quyền, uỷ quyền, trao quyền.
Bài viết này sẽ tập trung phân tích phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước theo chiều ngang, đặc biệt là sự nguồn gốc, sự hình thành và cơ sở chính trị của học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa và quá trình tiếp nhận, thích ứng và phát triển học thuyết này tại Việt Nam. Các phân tích, đánh giá về tổ chức và thực thi quyền lực theo chiều dọc được đặt tại phần phụ lục để độc giả tham khảo, có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về các học thuyết này.
2. Học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa
Theo Will Durant, trong thời sơ khai, các quốc gia được hình thành trên hai cơ sở chính: sự hình thành chế độ tư hữu và các cuộc chiến tranh, cướp bóc triền miên giữa các bộ tộc, bộ lạc. Chế độ tư hữu đã phá bỏ những xã hội sơ khai, thuần nhất, đồng đều để tạo ra một xã hội có người giàu, kẻ nghèo với đủ các giai cấp, tầng lớp và quốc gia đã ra đời để làm trọng tài giữa các giai cấp. Có thể nói, chức năng cơ bản của quốc gia thời sơ khai là giữ được sự yên ổn bên trong nội bộ và chiến đấu với ngoại quốc, chống lại sự hỗn loạn của chiến tranh thời nguyên thuỷ. Để đưa dân tộc, quốc gia của mình phát triển, tránh khỏi quy luật tự nhiên tàn nhẫn trong lịch sử là loại trừ các dân tộc yếu ớt và bạc nhược, trong thời sơ khai, thủ lĩnh của mỗi quốc gia phải nắm đủ ba quyền: tướng lãnh, tộc trưởng và giáo trưởng. Có thể nói, tập quyền với ý nghĩa sơ khai của nó, đã là nguyên tắc chủ đạo trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước của mọi quốc gia từ thuở khai thiên lập địa.
Trong lịch sử văn minh nhân loại, tập quyền đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển của xã hội với nhiều biểu hiện và biến thể khác nhau. Tập quyền chuyên chế phong kiến là nơi thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vào cá nhân hoàng đế với sự hỗ trợ đắc lực của niềm tin tôn giáo rằng quyền hành của hoàng đế là “thiên mệnh”. Chế độ tập quyền toàn trị phát xít với biểu hiện là chủ nghĩa phát xít Đức, Ý, Nhật với lý thuyết kích động tinh thần dân tộc cực đoan. Chế độ tập quyền độc tài mà phổ biến là độc tài quân sự, thông thường được hình thành sau những khủng hoảng, sụp đổ của các thể chế dân chủ như chế độ Pinôche ở Chilê (1973-1990), Apacthai tại Nam Phi…
Tư tưởng về chế độ tập quyền xã hội chủ nghĩa được hình thành trên nền tảng của yêu cầu xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản trong học thuyết của Chủ nghĩa Mác - Lênin. Chuyên chính vô sản được hiểu là sự thống trị của giai cấp công nhân, do cách mạng xã hội chủ nghĩa sản sinh ra và có sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đưa nhân dân lao động lên địa vị làm chủ trên tất cả các mặt của đời sống xã hội trong một xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản. Thuật ngữ “chuyên chính vô sản” chính thức ra đời năm 1850 và Công xã Pari được coi là hình thức thứ nhất, là hiện thực đầu tiên và Xôviết là hình thức thứ hai của nhà nước chuyên chính vô sản.
Trong các tác phẩm nghiên cứu của mình, qua phân tích bộ máy nhà nước tư sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã mạnh mẽ phê phán nguyên tắc phân quyền mà các triết gia pháp quyền tư sản vẫn thường ngợi ca. Theo các ông, đây chỉ là một sự phân công lao động bình thường trong công nghiệp, được vận dụng vào bộ máy nhà nước nhằm mục đích đơn giản hoá và kiểm soát. Qua sự so sánh hai thế lực của quyền lập pháp và quyền hành pháp, C. Mác cho rằng quyền hành pháp có ưu thế vượt trội, lấn át, lũng đoạn và là một quyền lực vô địch. Bộ máy hành pháp với những lực lượng vật chất hùng mạnh trong tay luôn gắn chặt với lợi ích vật chất và chính trị của giai cấp tư sản. Cơ quan lập pháp bị yếu thế hơn vì nó không nắm được bộ máy quan chức, không có quyền phân phối ghế bộ trưởng, không nắm các công cụ và phương tiện vật chất trong tay. Các dự luật do cơ quan hành pháp đề xuất và trình Nghị viện ban hành thực chất chính là ý chí của cơ quan hành pháp, Nghị viện chỉ là nơi thông qua có tính hình thức. Từ đó, C.Mác cho rằng Nghị viện chỉ là nơi bàn cãi suông, toà án chỉ độc lập giả dối, còn toàn bộ quyền lực tập trung ở cơ quan hành pháp. Định hướng cho các cuộc cách mạng của giai cấp vô sản, C. Mác đã nhận định: Quyền hành pháp, bộ máy chính quyền nhà nước phải là đối tượng chủ yếu và duy nhất của những cuộc tấn công của cách mạng. Do bộ máy hành pháp kiểm soát, chỉ huy và bảo vệ xã hội và công dân từ những biểu hiện sinh hoạt rộng lớn nhất cho đến những phương thức chung nhất của họ và cả đời sống riêng tư của các cá nhân nênquyền hành pháp phải thuộc về toàn thể nhân dân.
Từ nghiên cứu và phân tích về Công xã Pari - hiện thực đầu tiên của nhà nước chuyên chính vô sản, C.Mác đã chỉ ra rằng Công xã là một chính quyền của giai cấp công nhân, là công cụ xoá bỏ chế độ tư hữu tư bản và là mô hình tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước kiểu mới. Hội đồng công xã là cơ quan tối cao của nhà nước có vai trò lập pháp và tổ chức 10 uỷ ban chịu trách nhiệm về hành pháp. Đứng đầu mỗi uỷ ban này là một uỷ viên Hội đồng công xã. Công xã không phải là một cơ quan đại nghị mà là một cơ quan công tác vừa lập pháp, vừa hành pháp, mọi quyền lực nhà nước đều tập trung vào công xã. Công xã có quyền chủ động trong tất cả những lợi ích chung và những lợi ích quốc dân. Mô hình công xã Pari là biểu hiện của thiết chế thực sự dân chủ và là một hình thức tổ chức chính trị hết sức linh hoạt. Bí quyết thực sự của công xã là về thực chất nó là một chính phủ của giai cấp công nhân, là hình thức chính trị để thực hiện việc giải phóng lao động về mặt kinh tế. Công xã là một tổ chức chính quyền hành động thật sự, kết hợp lập pháp và hành chính chứ không phải là nơi nói xuông theo kiểu nghị viện trong nền cộng hoà đại nghị tư sản. Từ đó, C.Mác đã đưa ra quan điểm mới cho rằng quyền lực nhà nước là thống nhất và nó phải tập trung về tay nhân dân.Theo cách thức thực hiện quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia, C.Mác đã đưa ra mô hình Công xã Pari với tổ chức bộ máy thực hiện tất cả các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Bộ máy này được tổ chức thành một mạng lưới từ trung ương đến địa phương và hoạt động theo cơ chế tự quản với nguyên tắc dân chủ và công khai.     
Nhất trí với quan điểm của C.Mác và tiếp tục phát triển quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, V.I.Lênin khẳng định yêu cầu cần xây dựng một bộ máy vững mạnh thích ứng được với mọi sự biến đổi. Muốn ứng biến một cách mềm dẻo thì bộ máy phải cứng rắn và hoàn toàn phục tùng chính trị. Thành phần tổ chức bộ máy phải đảm bảo được việc đông đảo quần chúng kiểm tra được mọi công việc nhà nước. Từ đó, ông đã tiếp tục vận dụng một cách sáng tạo quan điểm này vào quá trình tổ chức bộ máy nhà nước kiểu mới ở Nga sau khi giai cấp vô sản giành chính quyền với chủ trương: Phế bỏ chế độ đại nghị - chế độ tách rời công tác lập pháp và công tác hành pháp, hợp nhất công tác lập pháp và hành pháp của nhà nước lại. Hợp nhất công tác quản lý và công tác lập pháp. Từ đó, V.I. Lênin đã lãnh đạo Đảng cộng sản Nga thành lập chính phủ công nông với tên gọi thể hiện khá đầy đủ nguyên tắc này: Hội đồng bộ trưởng dân uỷ, trong đó các uỷ ban chuyên môn quản lý các ngành khác nhau trong sinh hoạt của nhà nước. Hoạt động của các Bộ trưởng dân uỷ do các Xôviết đại biểu của nhân dân lao động giám sát. Các xôviết là cơ quan đại diện của chính quyền nhà nước tập trung trong tay quyền lập pháp, kiểm soát việc chấp hành các luật lệ, đồng thời trực tiếp thực hiện các luật lệ thông qua tất cả các uỷ viên của các xôviết. Tuy nhiên, điểm sáng tạo của Lênin trong tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước là ở chỗ: các cơ quan trong bộ máy nhà nước có sự phân công, phối hợp để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Từ những di sản lý luận của các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác -Lênin, chúng ta có thể đưa ra những nét cơ bản của học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa như sau: Để đảm bảo xây dựng nhà nước chuyên chính mà hạt nhân của nó là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, người dân là người chủ thực sự trên tất các các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, quyền lực nhà nước là thống nhất và được tập trung ở cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân (Xô viết tối cao hay Quốc hội). Việc tập trung quyền lực nhà nước vào cơ quan đại diện của nhân dân đã làm cho quyền lực bảo đảm tính thống nhất của nó. Các cơ quan khác của nhà nước chỉ là cơ quan phái sinh do cơ quan quyền lực cao nhất thành lập và phải chịu sự kiểm tra, giám sát tối cao của cơ quan đó. Ở đây không có sự phân chia quyền lực cũng như không có sự kiềm chế và đối trọng giữa các nhánh quyền lực. Tính chịu trách nhiệm và luôn bị giám sát bởi cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và nhân dân chính là cơ sở để đảm bảo cho quyền lực nhà nước không bị tha hoá.
3. Quá trình hình thành bản thể văn hoá chính trị mới và việc áp dụng học thuyết tập quyền XHCN tại Việt Nam
Sau hơn một nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng vang dội trên sông Bạch Đằng năm 938, các thiết chế chính trị tự chủ đầu tiên của Việt Nam đã từng bước được hình thành và ổn định. Sự kiện Đinh Bộ Lĩnh thống nhất đất nước, xưng là Hoàng đế với quyền chủ tể và đặt tên hiệu nước là Đại Cồ Việt năm 968 đã mở đầu sự tồn tại của chế độ quân chủ hàng trăm năm Việt Nam, cho đến khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp từ năm 1884. Theo đánh giá, đặc trưng thiết chế chính trị thời kỳ nhà Đinh - Tiền Lê thực chất là mô hình tập quyền quân sựthiếu tính bền vững, chủ yếu dựa vào lực lượng quân sự và hình phạt hà khắc, chỉ có tác dụng nhất thời trong hoàn cảnh chiến tranh hoặc trong tình trạng đất nước bị đe doạ nghiêm trọng trước nguy cơ ngoại xâm.  
 Trong giai đoạn nhà Lý - Trần, các hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp không tách rời nhau và đều đặt dưới quyền tối cao của Hoàng đế. Mô hình tập quyền thân dân - quyền lực tập trung vào tay Hoàng đế nhưng quyền lực của Hoàng đế và triều đình phải dựa trên sự ủng hộ của nhân dân. Quân đội không còn là chỗ dựa duy nhất mà chính quyền trung ương đã tập trung khai thác mọi yếu tố thuận lợi nằm ngay trong nền tảng kinh tế - xã hội Việt Nam. Các quy định pháp luật khá khoan hoà với sự hỗ trợ, nâng đỡ của các giáo lý Phật giáo. Đặc trưng nổi bật của thiết chế tập quyền thân dân là sự hoà đồng trong nội bộ giới cầm quyền, trong nội bộ làng xã và giữa chính quyền với làng xã. Chính sách đoàn kết với các dân tộc thiểu số sống chủ yếu ở vùng biên viễn được quan tâm và phát triển nhằm cố kết các cộng đồng dân cư trong một quốc gia đa dân tộc. Chức năng giám sát quyền lực ở dạng sơ khai nhằm giúp hạn chế những quyết định cực đoan, thiếu sáng suốt của Hoàng đế cũng đã xuất hiện với chức quan Gián nghị đại phu.
Mô hình tập quyền quan liêu được xây dựng và phát triển từ đời Lê sơ với những đặc trưng cơ bản về một hệ thống cai trị bao gồm tổ chức bộ máy, hệ thống giám sát và hệ thống pháp luật khá hoàn bị, vai trò và quyền lực của Hoàng đế được tăng cường, củng cố thêm một bước. Chính quyền trung ương quản lý đất nước thông qua các bộ và cơ quan chức năng. Đội ngũ quan lại được đào tạo và trả lương theo hướng chuyên nghiệp, vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội được đề cao. Bộ máy hành chính được thiết lập đến tận cấp xã, từng bước hạn chế thiết chế tự quản của làng xã. Ngoài ra, nhà nước còn có quyền lực kinh tế to lớn do đã trực tiếp quản lý ruộng đất.
Mô hình tập quyền chuyên chế được hình thành khi triều Nguyễn được thành lập vào năm 1802. Hoàng đế là vị nguyên thủ tối cao của cơ quan hành pháp, là người đứng đầu cơ quan lập pháp, đồng thời nắm quyền tư pháp tối cao và độc quyền đối ngoại. Để tập trung cao độ quyền lực vào tay Hoàng đế, nhà Nguyễn đã đặt ra quy định “tứ bất”: Không ban tước vương để ngăn chặn sự can thiệp của hoàng tộc vào triều chính, không lập hoàng hậu để ngăn ngừa nguy cơ quyền lực có thể bị thao túng bởi dòng họ khác, không lập tể tướng, chức năng đứng đầu các quan này được trao cho một cơ quan là Cơ mật viện chứ không do một người thao túng và không lấy trạng nguyên nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của những người bằng uy tín và đặc quyền được triều đình ban cho chi phối xã hội bằng giáo dục, tư tưởng, văn hoá và các quan niệm chính trị cá nhân.
Cuộc khủng hoảng về bản thể văn hoá chính trị truyền thống ở Việt Nam diễn ra trong nửa sau thế kỷ 19, kể từ năm 1858 khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Phong trào Cần Vương mà trong đó người dân Việt Nam đã nổi dậy với tư cách là thần dân để chống giặc ngoại xâm nhằm khôi phục bản thể chính trị cũ thất bại và đây có thể được coi là sự trỗi dậy cuối cùng của nền văn hoá chính trị và bản thể chính trị Nho giáo. Thất bại của phong trào Cần Vương cũng là mốc đánh dấu sự phá sản hoàn toàn của bản thể chính trị cũ - chế độ quân chủ dựa trên nền tảng Nho giáo. Việc tìm kiếm một bản thể văn hoá chính trị mới để giúp cộng đồng dân tộc tìm ra một phương sách khôi phục nền độc lập, tự chủ đã được đặt ra vô cùng cấp bách và điểm khởi đầu của cuộc tìm kiếm đó chính là sự phê phán có hệ thống đối với nền văn hoá chính trị cũ dựa trên nền tảng Nho giáo. Nguyễn Trường Tộ là nhân vật điển hình khi ông gay gắt chỉ ra những hạn chế to lớn của Nho học, coi đây là nguyên nhân căn bản nhất của tình trạng lạc hậu, yếu hèn của đất nước.
Đến đầu thế kỷ 20 các phong trào yêu nước Việt Nam đã mang lại những nhận thức hoàn toàn mới về quyền uy, thể chế chính trị và đặc biệt là vai trò chính trị của người dân, quốc dân đối với sự hưng vong của dân tộc. “Quốc dân” phải có đủ năng lực để chủ động tham gia vào quá trình chính trị và nắm lấy vận mệnh dân tộc, vận mệnh đất nước. Quyền lực chính trị không còn nằm trong tay “chúa thánh, tôi hiền” mà nằm trong tay của “dân” như tư tưởng của Phan Bội Châu: “Người dân ta, của dân ta/ Dân là của nước, nước là của dân”. Từ năm 1925 đến năm 1945, việc tiếp thu chủ nghĩa cộng sản đã đưa phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam phát triển lên một bước mới. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Nguyễn Ái Quốc cũng đã chỉ ra rằng: Cách mạng là việc chung cả dân chúng chứ không phải việc một hai người. Cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 đã khẳng định bản thể văn hoá chính trị mới của Việt Nam, đó là bản thể chính trị cộng sản và bản thể giai cấp của nền văn hoá đó.
Cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa cũng đã được du nhập và ứng dụng trong quá trình xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước tại Việt Nam. Qua các bản Hiến pháp, chúng ta có thể thấy rõ tính chất nhân dân của các nhà nước cách mạng, nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân và vai trò của Quốc hội với tư cách cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực cao nhất. Trong thực tế, thống nhất quyền lực không phải thực hiện bằng phương cách biến cơ quan đại diện thành một tập thể hành động như định nghĩa nguyên thuỷ của nó mà biến cơ quan đại diện thành một cơ quan tối cao so với các cơ quan còn lại. Thống nhất quyền lực được bảo đảm bằng sự tập trung quyền lực về Quốc hội. Tập quyền xã hội chủ nghĩa với nhận thức như trên đã được xem là nền tảng lý luận cho việc tổ chức chính quyền Việt Nam từ Hiến pháp năm 1959 đến Hiến pháp năm 1980.
4. Học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa và một số nhận thức về kiểm soát quyền lực tại Việt Nam
Trong một thời gian dài, nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa đã giúp nhà nước ta làm tốt chức năng của một “nhà nước kháng chiến”, quyền lực nhà nước được bảo đảm tập trung, các quyết định và việc thực thi quyền lực được bảo đảm nhanh chóng, thống nhất. Nhưng khi đất nước ta bước sang giai đoạn đổi mới, hệ thống chính trị chuyển từ hệ thống chuyên chính vô sản sang hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc này cũng đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Đó là sự thiếu phân định giữa ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, là sự phủ nhận tính độc lập tương đối của các quyền, là thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực với quyền lập pháp, từ đó tiềm ẩn nguy cơ lạm dụng quyền lực từ phía các cơ quan nhà nước được trao quyền.
Kể từ Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) cho đến nay, với việc công nhận các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và yêu cầu phân công, phối hợp giữa các cơ quan thực hiện các quyền này, một số nhà nghiên cứu gần đây đã cho rằng học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa đã bị suy yếu nhiều khi Việt Nam công nhận các quyền và yêu cầu phân công các quyền - hạt nhân của học thuyết phân quyền. Đến nay, Đảng Cộng sản tiếp tục khẳng định yêu cầu phân công, phối hợp, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011). Yêu cầu này là sự công nhận một hạt nhân hợp lý khác trong học thuyết phân quyền là kiểm soát giữa các quyền. Từ những nhận thức nói trên, một số nghiên cứu đã cho rằng học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa chỉ phù hợp với thiết kế tổ chức bộ máy trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và đã lạc hậu so với yêu cầu xây dựng tổ chức bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
Một số nghiên cứu khác lại cho rằng nhận thức truyền thống đồng nhất tính thống nhất quyền lực với tập quyền, đề cao vai trò của Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất, các cơ quan hành pháp, tư pháp chỉ là cơ quan cấp dưới của Quốc hội, nhận quyền từ Quốc hội là một nhận thức sai lệch về bản chất. Lập luận này cho rằng thông qua Hiến pháp, các chế định về Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân đều là những cơ quan được nhân dân uỷ quyền. Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất không có nghĩa là Quốc hội là cơ quan duy nhất nhận sự uỷ quyền để từ đó tiếp tục uỷ quyền lại cho Chủ tịch nước, Chính phủ…Về mặt lý luận, các cơ quan này đều nhận uỷ quyền từ cả phía nhân dân và uỷ thác từ Quốc hội, do đó, không có cơ sở để coi Quốc hội là “cơ quan mẹ” như hiện nay. Để thực hiện chức năng kiểm soát, một số nghiên cứu cho rằng việc coi Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất là không phù hợp với tổ chức quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, không có quyền nào “cao” hơn quyền nào, không có quyền nào “mạnh” hơn quyền nào, các quyền đều phải mạnh và quan trọng như nhau, mỗi nhánh quyền lực cần phải có một vị thế độc lập tương đối, từ đó mới tạo ra cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực.
Có thể nói, yêu cầu về kiểm soát quyền lực tại Việt Nam chỉ có thể được nhận thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc khi chúng ta có sự nhận thức đầy đủ và rõ ràng về học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa và giá trị của nó trong nền chính trị Việt Nam. Tuy nhiên, dường như nhận thức về vấn đề tập trung và phân quyền tại Việt Nam còn bị ảnh hưởng bởi kinh nghiệm và mô hình truyền thống của Xôviết dẫn đến những cách hiểu phiến diện, chưa đầy đủ, thống nhất thậm chí là trái ngược nhau. Điều đó dẫn đến một thực trạng là các học thuyết về tập trung và phân quyền ở nước ta bị áp dụng một cách lúng túng, sai lệch, hiệu quả của việc sử dụng quyền lực chưa cao. Trong thực tiễn cuộc sống, hai học thuyết tập quyền và phân quyền hoàn toàn không có tính tuyệt đối hay loại trừ lẫn nhau. Vấn đề ở đây không phải là lý thuyết tập trung quyền lực hay lý thuyết phân chia quyền lực là tốt hay xấu mà là cách thức vận dụng cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng quốc gia, từng hệ thống chính trị.
Tập quyền xã hội chủ nghĩa là một học thuyết của Chủ nghĩa Mác - Lênin với những hạt nhân hợp lý bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, góp phần bảo đảm chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận và phát triển của đất nước ta. Yêu cầu tiếp tục duy trì, áp dụng học thuyết này với một số biện pháp khắc phục những hạn chế bất cập cố hữu của nó khi đất nước tiếp tục thực hiện đổi mới đã được thể hiện khá rõ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Để bảo đảm mối quan hệ hài hoà giữa ổn định và đổi mới, câu trả lời thấu đáo và thoả đáng cho việc thành lập tổ chức bảo vệ hiến pháp hay xây dựng các cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp cho phù hợp với thể chế chính trị và tình hình thực tiễn tại Việt Nam đòi hỏi chúng ta không áp dụng một cách máy móc cơ chế “kiềm chế và đối trọng”, “lấy tham vọng để kiềm chế tham vọng” của học thuyết phân quyền mà trước tiên, cần phải có một chủ thuyết rõ ràng với nhận thức thống nhất về các giá trị của nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa tiếp tục được duy trì trong đời sống chính trị tại Việt Nam hiện tại và tương lai.
Ths Luật so sánh Nguyễn Xuân Tùng
Trưởng phòng Công tác cán bộ Vụ TCCB
Tài liệu tham khảo:
1. Viện Chính trị học Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh: Chính trị học-Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị - hành chính, năm 2009.
2. Khoa Chính trị học Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia khu vực I: Chính trị học-một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2010.
3. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình Chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2008.
4. PGS.TS. Lê Minh Quân: Tư tưởng chính trị của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2009.
5. GS.TSKH. Vũ Minh Giang (chủ biên): Những đặc trưng cơ bản của bộ máy quản lý đất nước và hệ thống chính trị nước ta trước thời kỳ đổi mới, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2008.
6. Phạm Hồng Tung: Văn hoá chính trị và lịch sử dưới góc nhìn của văn hoá chính trị, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2008.
7. Ths. Trần Thị Kim Cúc: Tìm hiểu di sản lý luận của các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác - Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2009.
8. Nguyễn Cửu Việt: Khái niệm tập quyền, tản quyền và phân quyền, Tạp chí Khoa học (luật học) Đại học Quốc gia Hà Nội, tập 26, số 4 năm 2010.
9. Học viện Hành chính quốc gia: Giáo trình Quản lý và phát triển tổ chức hành chính nhà nước, Nxb. Đại học quốc gia, năm 2004.
10. Will Durant: Nguồn gốc văn minh (Nguyễn Hiến Lê dịch), Nxb. Văn hoá thông tin, năm 2006
CttĐT Bộ Tư pháp

Hiến pháp CHLB Đức Chủ quyền nhân dân và quyền con người

Đại biểu nhân dân...
07:35 | 13/01/2012
Lời nói đầu của hiến pháp bao giờ cũng phản ánh triết lý hiến pháp mà một quốc gia theo đuổi. Kỹ thuật viết lời nói đầu như thế nào cũng phụ thuộc vào nền tảng triết lý của bản hiến pháp. Theo thông lệ này, cách viết lời nói đầu của Hiến pháp Đức phản ánh quan niệm của người Đức về hiến pháp được thiết lập theo học thuyết chủ quyền nhân dân, theo đó mọi quyền lực trong quốc gia có nguồn gốc từ nhân dân, Hiến pháp được thiết lập bởi nhân dân.


Ngày 8.5.1949, các nhà lập pháp Đức thông qua Đạo luật cơ bản (Hiến pháp)
        
                      Nguồn: Spiegel
Ngay sau lời nói đầu, những điều khoản đầu tiên của Luật cơ bản là các quy định về “các quyền cơ bản” (chương 1). Các quy định về chính quyền được đặt sau các quy định về quyền con người, thể hiện một quan niệm hiến pháp coi quyền con người là mục tiêu mà hiến pháp cần bảo vệ, và chính quyền được xây dựng để bảo vệ quyền.
Các quy định về quyền cơ bản được xây dựng theo một nguyên tắc hiệu lực trực tiếp: “Các quyền sau đây sẽ ràng buộc các ngành lập pháp, hành pháp, và tư pháp như luật có hiệu lực trực tiếp” (Điều 1, khoản 3). Các quyền hiến định có giá trị ràng buộc đối với cả ba ngành quyền lực, toàn bộ các định chế của liên bang chỉ được sử dụng quyền lực theo những giới hạn hiến pháp. Do đó, các quy định về quyền thể hiện tinh thần là làm sao cho các quyền có thể thực thi được trên thực tế, chứ không chỉ là các tuyên ngôn chung chung nằm trên văn bản.
Để làm được điều đó, trước tiên ta thấy nội dung các quyền được định nghĩa cụ thể. Người ta không chỉ quy định chung chung rằng công dân có quyền tự do ngôn luận mà đã chỉ ra những nội dung cụ thể của quyền tự do ngôn luận đó: nói, viết, hình ảnh, nghiên cứu khoa học, giảng dạy, nghệ thuật... Không chỉ xác định nội dung của quyền, các phương tiện để thực hiện quyền cũng được chỉ ra: tiếp cận với các nguồn thông tin, đài phát thanh, phim ảnh... Ngoài ra, để bảo đảm cho quyền tự do ngôn luận được thực hiện, hiến pháp giới hạn hành vi của nhà nước trong việc áp đặt chế độ kiểm duyệt.
Một điều đáng lưu ý là, để bảo đảm tính khả thi của quyền, các nhà soạn thảo Hiến pháp Đức đã đưa ra những giới hạn cụ thể đối với quyền. Một trong những nguyên tắc của chủ nghĩa hợp hiến hiện đại là sự giới hạn trong những mong muốn của chính quyền. Cam kết với các giá trị xa vời và lãng mạn là một điều kiện cho chế độ toàn trị nẩy nở. Các nhà lãnh đạo toàn trị có thể lấy lòng dân chúng bằng những cam kết mỹ miều. Nhưng chính những cam kết này sẽ được viện dẫn để biện minh cho những hành động độc đoán: người ta có thể giải thích rằng những hành động độc đoán là cần thiết để thực hiện những cam kết vốn không được xác định. Chủ nghĩa hợp hiến hiện đại nhận thấy nguy cơ này nên yêu cầu rằng những mong muốn, những cam kết của chính quyền đối với các giá trị nhân quyền phải có những giới hạn.
Chính vì vậy, chúng ta thấy các nhà soạn thảo hiến pháp Đức không quá lãng mạn để cam kết một cách vô giới hạn đối với các quyền con người nói chung và quyền tự do ngôn luận nói riêng như được quy định ở trên. Các quyền tự do ngôn luận bị giới hạn bởi các quy định về quyền của người chưa thành niên, quyền được tôn trọng nhân phẩm, và sự trung thành đối với hiến pháp. Cụ thể như các quyền tự do ngôn luận không thể được sử dụng để cản trở sự phát triển về sau của những người chưa thành niên, để xâm phạm bí mật đời tư hay làm xói mòn những giá trị nền tảng của chính thể.
Hoài Thu

Hiến pháp CHLB Đức Sự ra đời của hiến pháp hậu phát xít

Đại biếu nhân dân...
07:37 | 13/01/2012
Sau khi đầu hàng đồng minh ở thế chiến thứ 2 năm 1945, nước Đức bị chia thành 4 vùng chiếm đóng, mỗi nước đồng minh chiếm cứ một vùng. Năm 1948, Tây Đức trở thành vùng bị chiếm đóng bởi ba bên Anh, Pháp, Mỹ. Ba nước đồng minh đã thống nhất việc thành lập Hội đồng lập hiến và xây dựng Hiến pháp cho Tây Đức, ban hành Các văn kiện Frankfurt chỉ đạo, hướng dẫn quá trình xây dựng Hiến pháp LB Đức gồm cấu trúc, các nội dung lớn.
Tuy nhiên, những người đứng đầu của các tiểu bang phản ứng lại những hướng dẫn đó. Họ cho rằng việc thành lập Hội đồng lập hiến cũng như việc soạn thảo Hiến pháp Đức phải được hoãn lại cho đến khi có đầy đủ điều kiện cho một Chính phủ toàn nước Đức và chủ quyền của nước Đức được khôi phục. Họ đề nghị các hội đồng lập pháp ở ba vùng chiếm đóng nên thành lập một cơ quan đại diện để soạn thảo một “Grundgesetz” (Luật cơ bản) cho việc quản lý thống nhất các vùng Tây Đức. Các chính phủ quân sự nhượng bộ về mặt thuật ngữ và chấp nhận “hội đồng nghị viện” với tư cách là hội đồng lập hiến, và “luật cơ bản” là văn bản mà hội đồng đó sẽ soạn thảo.
Trước khi đi đến cam kết cuối cùng với các nhà lãnh đạo quân sự, những người đứng đầu của các chính quyền tiểu bang ở Tây Đức đã cùng thỏa thuận triệu tập một cuộc họp của các chuyên gia luật hiến pháp với nhiệm vụ là đưa ra những nguyên tắc hướng dẫn cho việc soạn thảo Luật cơ bản. Ủy ban chuyên gia có 46 đại biểu hợp thành một ủy ban chính và 3 phân ủy ban không những đưa ra những nguyên tắc định hướng cho Luật cơ bản, mà còn soạn thảo một hiến pháp hoàn chỉnh, cùng với những báo cáo phân tích chi tiết về các đề xuất của ủy ban và từng điều khoản một.
Đại diện tham gia Hội đồng nghị viện được lựa chọn từ các tiểu bang khác nhau, gồm 65 người được bầu cử và 5 đại biểu không bỏ phiếu từ Tây Berlin. Các đảng phái chính trị chính đều có mặt trong Hội đồng theo thế mạnh của họ ở cơ quan lập pháp tiểu bang. Hội đồng Nghị viện họp ngày 1.9.1948 ở Bonn dưới sự lãnh đạo của Konrad Adenauer, người sau này trở thành Thủ tướng của Cộng hòa Liên bang Đức. Những công việc chính của Hội đồng được triển khai ở ủy ban chính và các ủy ban chuyên gia.
Cuộc thương thảo về Luật cơ bản trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Hiến pháp sau khi được chấp thuận bởi Hội đồng Nghị viện được chuyển cho các lãnh đạo quân sự và họ đã chấp thuận ngày 12.5.1949. Sau đó, trừ hội đồng lập pháp của bang Bavaria cho rằng Hiến pháp (Luật cơ bản) không bảo đảm đầy đủ quyền tự trị của tiểu bang, tất cả các nghị viện tiểu bang đều phê chuẩn Hiến pháp. Sau đó, Hội đồng Nghị viện đã phê chuẩn Hiến pháp, công bố hiến pháp vào ngày 23.5.1949 và Hiến pháp CHLB Đức có hiệu lực vào thời điểm cuối cùng của ngày đó.
Kể từ ngày có hiệu lực đến nay, Hiến pháp của Đức đã trải qua 57 lần sửa đổi, nhưng cấu trúc cơ bản của chính quyền vẫn được giữ lại. Nhiều sửa đổi Hiến pháp liên quan đến các vấn đề kỹ thuật như tư nhân hóa đường sắt, các dịch vụ bưu chính viễn thông. Một số sửa đổi khác liên quan đến việc khôi phục lại chủ quyền toàn vẹn của nước Đức và việc nước Đức trở thành thành viên của Liên minh châu Âu. Năm 1990, sự hợp nhất cộng hòa liên bang Đức và cộng hòa dân chủ Đức được diễn ra dưới hình thức sửa đổi Luật cơ bản chứ không phải xây dựng một Hiến pháp mới với sự phê chuẩn của nhân dân theo thủ tục trưng cầu dân ý.
Lê Anh

Wednesday, January 11, 2012

Tiêu chí đánh giá một Hiến pháp thành công


Theo kế hoạch sơ bộ sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 kèm theo tờ trình số 11/TTr-UBTVQH13 ngày 02 tháng 8 năm 2011, Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp sẽ tổ chức tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992 để phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp trong thời gian tới. Để thực hiện được công việc phức tạp này, cần phải có các tiêu chí đánh giá Hiến pháp.
Theo kế hoạch sơ bộ, Uỷ ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp sẽ tổ chức chức tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992. Để thực hiện được công việc phức tạp này, cần phải có các tiêu chí đánh giá Hiến pháp.
Việc tổng kết Hiến pháp có nghĩa là việc đánh giá các kết quả đạt được của Hiến pháp, tức là xem xét việc thực thi Hiến pháp đóng vai trò như thế nào trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội và pháp luật. Tuy nhiên, việc đánh giá này trở nên rất khó khăn với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ai là người hưởng thụ những thành quả hiến pháp hoặc chịu thiệt thòi từ những yếu kém của các thể chế hiến định: các tổ chức Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị-xã hội, các doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các thẩm phán, các luật sư hay người dân? Nhưng câu trả lời cho câu hỏi này lại phụ thuộc rất nhiều vào việc ai thực hiện việc tổng kết Hiến pháp: Những người ban hành Hiến pháp, áp dụng Hiến pháp hay thi hành Hiến pháp? Những vấn đề phức tạp trên đòi hỏi phải xây dựng các tiêu chí đánh giá Hiến pháp một cách đúng đắn và khoa học.
Việc xác định tiêu chí phần nào mang tính chủ quan, phụ thuộc nhiều vào việc ai là người đặt ra các tiêu chí đó. Các Chính phủ thường đặt ra các tiêu chí ngắn và trung hạn, trong khi các học giả tìm kiếm các tiêu chí dài hạn và phổ quát. Tại Hội thảo quốc tế về quy trình ban hành Hiến pháp diễn ra ở Đại học Princeton năm 2007 [1], các học giả khẳng định nhận định trên và đưa ra các tiêu chí đánh giá Hiến pháp làm tiêu chuẩn cho việc ban hành hoặc sửa đổi Hiến pháp. Các tiêu chí đó bao gồm:
Tính bền vững của Hiến pháp
Một bản Hiến pháp có tính bền vững thể hiện thông qua tính hiệu lực lâu dài, ổn định của Hiến pháp. Với tư cách là một đạo luật cơ bản và tối cao, sức sống của Hiến pháp đóng góp vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự ổn định về chính trị, kinh tế, xã hội, và điều đó thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước, nhân dân và toàn xã hội đối với Hiến pháp.
Tuy nhiên, sự thay đổi (ban hành mới hoặc sửa đổi) Hiến pháp có thể nhằm những mục đích tích cực, như để giải quyết các mâu thuẫn, vấn đề chính trị, cải cách và đổi mới dân chủ đáp ứng các yêu cầu chuyển đổi. Theo cách tiếp cận này, những sửa đổi Hiến pháp là tất yếu và cần thiết. Nhưng để đảm bảo tính ổn định của Hiến pháp, cần phải tránh những cải cách ngắn hạn theo cách thức "vá săm xe đạp" (thủng đâu sửa đó!). Các nhà đổi mới cần phải có những cải cách mạnh dạn, mang tính đột phá để đảm bảo tính dài hạn của Hiến pháp. Khuynh hướng sửa đổi Hiến pháp trên đã mang lại những kết quả rất tích cực ở một số nước Châu Á trong thời gian qua.
Phát huy việc giải quyết các tranh chấp bằng các cơ chế hiến định
Hiến pháp là bản thoả thuận giữa các tầng lớp xã hội nhằm đảm bảo sự đồng thuận chung và cuộc sống hoà bình. Do vậy, Hiến pháp có mục đích thay cách thức giải quyết mẫu thuẫn, xung đột trong đời sống chính trị-xã hội bằng bạo lực, "luật rừng" và các luật bất thành văn khác (luật bôi chơn, luật thân quen...) bởi các quy trình và thể chế hiến pháp. Hiến pháp là thước đó phán xử các tranh chấp, kể cả các tranh chấp chính trị. Tài phán hiến pháp (bảo vệ Hiến pháp bằng quy trình tư pháp-toà án) là một trong những cơ chế giải quyết tranh chấp hiến pháp hữu hiệu.
Tính công khai và sự hiểu biết về Hiến pháp
Khi đánh giá sự thực thi Hiến pháp trong xã hội, điều quan trọng là tìm hiểu nhà nước và nhân dân có hiểu biết về Hiến pháp như thế nào, có đồng thuận với các thể chế và nguyên tắc hiến pháp hay không. Một bản Hiến pháp tốt nhất theo tiêu chí này có nghĩa là xã hội có đầy đủ kiến thức cũng như sự đồng thuận với các giá trị của Hiến pháp, thể hiện rõ ràng thông qua việc mọi tổ chức và cá nhân sẵn sàng sử dụng các cơ chế hiến pháp để giải quyết các tranh chấp. Thông qua việc sử dụng các quy định hiến pháp, người dân thấy được vai trò của họ và sử dụng chúng để giải quyết các vấn đề của mình.
Cần có tiêu chí để đánh giá một bản Hiến pháp thành công. Ảnh minh họa
Để hiểu được mức độ hiểu biết của xã hội và tính rộng rãi của Hiến pháp, chúng ta có thể đặt ra những câu hỏi như: Mọi người sử dụng Hiến pháp ở mức độ nào để bảo vệ quyền hợp hiến của họ? Nhân dân hiểu được những gì trong Hiến pháp hay không và làm thế nào họ có thể biết trách nhiệm của chính quyền trong việc bảo vệ các quyền của họ?
Bảo vệ các quyền và tự do cá nhân trong Hiến pháp
Hiến pháp quy định các quyền dân sự và chính trị, và có những cơ chế để bảo vệ các quyền đó. Mức độ nhân dân thực hiện các quyền của mình trong đời sống chính trị-xã hội, mức độ hiệu quả của các cơ chế hiến pháp trong việc bảo vệ các quyền đó thể hiện mức độ thành công của Hiến pháp. Ngược lại, đó là sự thất bại.
Tính trách nhiệm của chính quyền trong Hiến pháp
Hiến pháp được ban hành và thực thi nhằm giới hạn và kiểm soát quyền lực để tránh mọi sự lạm dụng quyền lực, từ đó đảm bảo trách nhiệm của chính quyền và bảo vệ các quyền tự do cá nhân. Trong các cơ chế trên, ngành tư pháp đặc biệt toà hành chính và toà hiến pháp đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo trách nhiệm của chính quyền.
Trong giai đoạn hiến pháp chuyển đổi, nhiều nước ở Châu Á như Thái Lan, Hàn Quốc chủ trương xây dựng hệ thống các cơ quan kiểm soát quyền lực độc lập (toà hiến pháp, toà hành chính, uỷ ban chống tham nhũng, uỷ ban nhân quyền, thanh tra Nghị viện - Ombudsman) để giải quyết các vấn đề hiến pháp cố hữu trong lịch sử, như tình trạng lạm dụng quyền lực, tham nhũng tran làn và bất ổn chính trị. Các cơ quan này đã phát huy vai trò quan trọng trong việc đảm bảo trách nhiệm của chính quyền. Những cải cách này là những cải cách hiến pháp quan trọng nhất góp phần to lớn trong việc xây dựng "Chủ nghĩa hiến pháp mới" ở Châu Á.
Tính thực thi của các quy định Hiến pháp
Một bản Hiến pháp thành công là một bản Hiến pháp mà các quy định của nó được thực thi trên thực tiễn (Hiến pháp thực chất). Nếu như Hiến pháp chỉ tuyên bố các tuyên ngôn chính trị trên trên giấy tờ, thì đó chỉ là một bản Hiến pháp danh nghĩa. Như cách nói của GS.TS. Đào Trí Úc, "suy cho cùng, hiệu quả của Hiến pháp được thể hiện khi nó đạt được tính khả thi, tính áp dụng cao. Đó là thước đo thực tế của Hiến pháp" [2].
Khả năng thích nghi của Hiến pháp
Việc tổng kết việc thực thi Hiến pháp, là việc đánh giá xem Hiến pháp có phù hợp với những điều kiện mới không. Do đó, một Hiến pháp thành công có nghĩa là nó có khả năng phù hợp, thích nghi với những điều kiện và hoàn cảnh mới.
Ở các quốc gia Châu Phi và Châu Á, Hiến pháp gặp khó khăn trong việc thích nghi với những điều kiện văn hoá chính trị-xã hội mới. Một số nước đã giải quyết được những vấn đề hiến pháp, trong khi nhiều nước vẫn đang cố gắng thực hiện những cải cách hiến pháp đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi.
Việc tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992 của chúng ta cần phải được thực hiện dựa theo các tiêu chí nêu trên với mục đích tìm ra những điểm tích cực và hạn chế của Hiến pháp, để từ đó có các sửa đổi phù hợp.
--------
[1] Workshop on Constitution Building Processes," Princeton University, May 17-20, 2007, Bobst Center for Peace & Justice, Princeton University, in conjunction with Interpeace and International IDEA.
[2] GS.TSKH. Đào Trí Úc, Tổng kết Hiến pháp và các tiêu chí tổng kết Hiến pháp, Hội thảo "Xây dựng tiêu chí, phương pháp tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992" do Viện Nghiên cứu lập pháp tổ chức. Quan điểm này cũng được nhiều học giả khác tham dự Hội thảo chia sẻ.

Sửa Hiến pháp và quyền tham gia của dân

Sự tham gia tích cực của nhân dân cho phép nâng cao tính trung thực của các đánh giá và sửa đổi Hiến pháp.
Hiến pháp là một đạo luật cơ bản và có giá trị pháp lý cao nhất, vì thế quy trình sửa đổi Hiến pháp cũng có những đặc thù khác biệt so với việc sửa đổi một đạo luật thông thường. Sự khác biệt về thủ tục sửa đổi Hiến pháp xuất phát từ bản chất quyền lập hiến thuộc về nhân dân.
Hiến pháp là một khế ước xã hội, phản ánh lợi ích của tất cả các thành viên trong xã hội, bao gồm các tầng lớp, giai cấp khác nhau trong xã hội, do vậy tất cả các chủ thể này đều có quyền quyền tranh luận, trao đổi, bày tỏ quan điểm đánh giá về việc sửa đổi Hiến pháp, và quan trọng hơn, những ý kiến, quan điểm của họ phải được lắng nghe và thể hiện trong những sửa đổi đó. Sự tham gia tích cực của nhân dân cho phép nâng cao tính trung thực của các đánh giá và sửa đổi Hiến pháp.
Việc sửa đổi Hiến pháp trên thế giới được thực hiện bằng nhiều hình khác nhau nhằm đảm bảo quyền tham gia chủ động và rộng rãi của nhân dân: hội đồng lập hiến; uỷ ban sửa đổi hiến pháp; các hội nghị, hội thảo quốc gia; các cuộc tranh luận bàn tròn ở trung ương và địa phương; các hoạt động đánh giá của các cơ quan hành pháp; các quy trình tiếp xúc, làm việc với cử tri và trưng cầu dân ý.
Hội đồng lập hiến, các uỷ ban sửa đổi là các cơ quan trực tiếp tiến hành công việc đánh giá việc thực thi Hiến pháp hiện hành (hoặc trước đó) và soạn thảo một Hiến pháp mới. Ở một số nước, Hội đồng lập hiến được thành lập thông qua bầu cử trực tiếp để thực hiện nhiệm vụ sửa đổi Hiến pháp. Việc lập một uỷ ban sửa đổi Hiến pháp thuộc Quốc Hội cũng được nhiều nước lựa chọn. Để đảm bảo tính dân chủ của Hiến pháp, thành phần của uỷ ban này thường rất mở rộng. Ví dụ, Uỷ ban sửa đổi Hiến pháp ở Thái Lan được thành lập năm 1995 bao gồm 89 thành viên, trong đó 66 thành viên được chọn từ các tỉnh, mỗi một tỉnh một đại diện. Số còn lại là các chuyên gia trong các lĩnh vực khoa học pháp luật, chính trị và hành chính công, được đề cử bởi các trường đại học và được thông qua bởi Nghị viện[1].
Để đảm bảo sự tham gia nhiều hơn của các tầng lớp khác nhau trong xã hội, các Hội nghị quốc giađược tổ chức để tham gia vào quá trình cải cách Hiến pháp. Các hội nghị này thường có số lượng thành viên rất lớn đại diện cho các đảng phái, cơ quan nhà nước, các nhóm lợi ích, các tổ chức xã hội và phi chính phủ. Số lượng có thể từ vài trăm đến vài nghìn người. Các hội nghị này có thể thành lập các uỷ ban, hội đồng để trực tiếp đánh giá các vấn đề chuyên môn để trình và tư vấn cho hội nghị. Để có những đánh giá hiến pháp một cách hữu hiệu nhất, nhiều nước coi trọng việc tổ chức các cuộc tranh luận bàn tròn giữa các nhân vật chủ chốt như các đảng phái, các nhà hoạt động xã hội và các nhà cải cách. Các cuộc thảo luận và đóng góp ý kiến được tổ chức ở các địa phương nhằm phát huy tối đa sự tham gia của nhân dân vào quá trình sửa đổi Hiến pháp.
Sự tham gia tích cực của nhân dân cho phép nâng cao tính trung thực của các đánh giá và sửa đổi Hiến pháp. Ảnh minh họa
Sự thành công của Hiến pháp Nam Phi năm 1996 là kết quả của sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào quá trình sửa đổi Hiến. Hội đồng Hiến pháp Nam Phi dành toàn bộ thời gian 1 năm để lấy ý kiến nhân dân về việc sửa đổi Hiến pháp: hàng nghìn cuộc hội thảo, thảo luận được tổ chức với sự tham gia của 95 nghìn công dân; khoảng 2 triệu công dân có đóng góp qua đơn thư kiến nghị; khoảng 13.500 tờ trình về sửa đổi Hiến pháp (10% của các tổ chức, 90% từ công chúng)[2]. Trong lần sửa đổi Hiến pháp 1998 ở Thái Lan, nhờ vào các cuộc tranh luận rất đa dạng ở tất cả các địa phương trong khoảng 1 năm, rất nhiều vấn đề bất cập liên quan đến văn hoá chính trị Thái Lan đã được tổng kết như "sự thiếu minh bạch", "tình trạng tham nhũng", "sự bất ổn của các chính phủ dân sự" và "sự thiếu hiệu quả của các thể chế chính trị"[3].
Bằng những hình thức đa dạng ở trung ương hoặc địa phương với sự tham gia của nhân dân giúp ích cho việc tìm hiểu những vấn đề hiện có của Hiến pháp để xây dựng một Hiến pháp tốt hơn trong tương lai. Việc ban hành bất kỳ một Hiến pháp nào cũng đều phải có sự tham gia của nhân dân, và mức độ tham gia của nhân dân thể hiện tính hợp pháp và giá trị của Hiến pháp đó. Người dân phải có quyền được thông tin về chính sách sửa đổi hiến pháp, có quyền bảy tỏ các ý kiến đánh giá Hiến pháp hiện tại cũng như những nguyện vọng cho một bản Hiến pháp trong tương lai, và những ý chí, nguyện vọng đó phải được thể hiện trong các nội dung sửa đổi Hiến pháp. Báo chí cần phải là một kênh quan trọng để cho nhân dân thực hiện các quyền đó.
Việc sửa đổi Hiến pháp ở Nam Phi năm 1996 và Thái Lan năm 1997 là các ví dụ điển hình thể hiện tầm quan trọng nhân dân vào trong quá trình sửa đổi Hiến pháp. Việc sửa đổi Hiến pháp ở Thái Lan trải qua 2 bước: Bước 1, trên cơ sở các đóng góp tham gia rất nhiều các tổ chức và cá nhân, như các nhóm chính trị, các tổ chức phi chính phủ, các trung tâm học thuật và công chúng, Uỷ ban sửa đổi soạn thảo Dự thảo Hiến pháp lần thứ nhất; Bước thứ 2, Uỷ ban tiếp tục tổ chức rất nhiều các cuộc thảo luận ở tất cả các tỉnh để xin ý kiến đóng góp của nhân dân về dự thảo đầu tiên này. Hai giai đoạn chưa từng có trong tiền lệ trong việc soạn thảo Hiến pháp ở Thái Lan nhằm tập hợp tối đa các ý kiến và kiến nghị cho một bản Hiến pháp trong tương lai, đã góp phần to lớn vào việc thu hút sự quan tâm và chú ý lớn của quần chúng nhân dân vào quy trình sửa đổi Hiến pháp. Sự tham gia của nhân dân vào trong quá trình sửa đổi Hiến pháp 1997 là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của bản Hiến pháp này so với các bản Hiến pháp trước đó[4]. Ở Nam Phi, sau giai đoạn lấy ý kiến nhân dân, Hội đồng lập hiến tiếp nhận và đánh giá 4.000 bản dự thảo Hiến pháp khác nhau và 250.000 các kiến nghị sửa đổi Hiến pháp để có thể xây dựng một dự thảo Hiến pháp hoàn chỉnh (1 năm tiếp theo).
Như vậy, xuất phát từ bản chất của Hiến pháp, nhân dân có quyền tham gia chủ động vào quá trình sửa đổi Hiến pháp. Như theo đánh giá của Cố vấn chính sách về Chế độ pháp quyền và Tiếp cận công lý của UNDP tại Việt Nam, ông Nicholas Booth, sự tham gia của nhân dân có rất nhiều lợi ích: tăng cường năng lực và sự hiểu biết của nhân dân về Hiến pháp; tạo điều kiện cho nhân dân có khả năng tham gia vào công việc của nhà nước, thực hiện và bảo vệ các quyền hiến pháp của họ; tăng sự hiểu biết và sự tôn trọng các nguyên tắc hiến pháp; nâng cao tính hợp pháp của Hiến pháp khi luật cơ bản này phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân[5].

[1] Borwornsak UWANNO ,Wayne D. BURNS, "The Thai Constitution of 1997 sources and process", Thanland Law Forum, http://www.thailawforum.com/articles/constburns1.html.
[2] Nick Booth, Inclusive, participatory and transparent constitution-making- the UN standard in practice, Toạ đàm xây dựng tiêu chí, phương pháp tổng kết việc thi hành Hiến pháp phục vụ cho việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, Hà Nội, ngày 19 tháng 7 năm 2011.
[3] Peter LEYLAND, "Constitution Design and the Quest for Good Gouvernance in Thailand", in Tania GROPPI, Valeria PIERGIGLI, Angelo RINELLA, Asia constitutionnalism in transition. A comparative perspective, Giuffrè, Milano, 2008, tr. 71.
[4] Niyom RATHAMART, "The 1997 Constitution: the path of reform", Centre for Democratic Institution,http://www.cdi.anu.edu.au/CDIwebsite_1998-2004/thailand/thailand_downloads/Niyom_ThaiUpdate_Apr03.pdf.
[5] Nick Booth, tlđd.