Saturday, February 18, 2012

DÂN CHỦ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TỪ GÓC ĐỘ CỦA KHỔNG TỬ


Ngô Thu Trang, 18-2-2012
Theo một vài nguồn tác giả thì thuật ngữ dân chủ có nguồn gốc đầu tiên từ Hy Lạp vào khoảng thế kỷ thứ 5 đến thứ 4 trước công nguyên với tên gọi là quyền lực nhân dân[1].
Nhưng theo tôi dấu hiệu của thuật ngữ dân chủ đã xuất hiện từ thời Nho giáo vào khoảng thế kỷ thứ 5 đến thứ 3 trước công nguyên. Và Nho giáo được  biết đến do công khai phát của Khổng Tử.
Thứ nhất, dân chủ hay được hiểu là dân làm chủ, người dân được tham gia công việc nhà nước, công việc chính trị. Theo như thuật ngữ ‘‘quân tử’’ của Khổng Tử thì có thể nhận định rằng dân chủ là điều tất yếu trong xã hội.
Sở dĩ như vậy vì theo như quan điểm ‘‘chính danh’’ của Khổng Tử thì quân tử không phải dùng để chỉ con vua hay người người giúp việc cho vua, mà quân tử dùng để chỉ những người có tài, có đức không phân biệt là quí tộc hay người bình dân.
Và trong thời Trung Hoa cổ đại thì xu hướng ‘‘nhân đạo chính vi đại’’ là chủ đạo, tức là mọi học thuyết triết học đều có xu hướng giải quyết các vấn đề chính trị[2]. Có nghĩa là vấn đề chính trị hay nói rõ hơn là nhu cầu cai trị đất nước luôn là mối quan tâm thường trực của các nhà triết học Trung Quốc cổ đại. Do đó người quân tử không phải ngoại lệ, họ có tài đức và đáng phải tham gia vào công việc quốc gia.
Do đó, chúng ta thấy được những người có tài đức, không phân biệt tầng lớp, đều được tham gia công việc quốc gia. Vấn đề đã được đặt ra, đó chính là những người dân bình thường, nhưng có tài đức há chi lại không được tham gia vào công việc quốc gia?
Vậy nên một phần biểu hiện của sự dân chủ đã được đề cập từ rất sớm ở thời Khổng Tử.
Thứ hai,  theo Khổng Tử công thức của nhà nước nhân bản là ‘‘Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ’’. Do đó việc đầu tiên là tu thân rồi cuối cùng mới đến công việc nhà nước. Vì thế một nhà nước muốn tạo điều kiện cho nhân dân tham gia quản lý nhà nước ( dân chủ) trước tiên phải cho người dân no ấm, sau đó là dạy họ, giáo hóa họ. Đó chính là chính sách mà Khổng Tử đưa ra ở một nhà nước nhân bản: trước tiên dưỡng dân sau đó là an dân.
Do đó, khi nhìn vào một nhà nước dân chủ hiện đại, muốn hướng tới một nền dân chủ đúng nghĩa phải lấy con người làm trung tâm, phải chăm lo cho dân, cho dân no ấm. Sau đó mới nghĩ đến việc hướng người dân vào công việc nhà nước, dạy dân tham gia vào cai trị đất nước. Khi đó việc thực hiện dân chủ trong dân mới thực sự có chất lượng. Suy nghĩ này cũng từng được đặt ra, khi có sự tranh cãi nên có dân chủ trước hay phát triển kinh tế trước, theo tôi là xây dựng nền kinh tế trước sau đó mới xây dựng nền dân chủ đúng nghĩa.
Thứ ba, quan điểm của Khổng Tử là không coi trọng vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước cũng có cái đáng để học tập, ông không phủ nhận hoàn toàn pháp luật nhưng coi pháp luật là một công cụ bất đắc dĩ.
Theo ông: ‘‘Dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình phạt để đưa dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội, nhưng không biết hổ thẹn mà theo đường chính; dùng đức mà dẫn dắt dân, dùng lễ mà đưa dân vào khuôn phép thì dân có lòng hổ thẹn mà lại cố làm điều hay’’[3]
Liên hệ với thực tế hiện nay, sự sa sút của một số không nhỏ cán bộ nhà nước, đang là vấn đề Nhà nước ta quan tâm. Do đó, Nhà nước ta muốn cải cách, muốn đổi mới bộ máy thì phải nói đạo đức, nhân nghĩa thay vì đơn thuần nói pháp luật với nhau, có chăng nên đề cao đạo đức hơn là những hình phạt, nếu những hình phạt đôi khi không tương xứng với hành vi vi phạm. Khi mà xã hội hiện nay đạo đức con người đang xuống cấp trầm trọng. Mà theo Khổng Tử thì đó là những hành động của bản năng và đã là bản năng hành động thì không phải là người.
Kết luận:
Cũng như nhân quyền thì dân chủ đã xuất hiện từ rất sớm với nhiều hình thức và một vài dấu hiệu của dân chủ đã có từ thời Khổng Tử.
Một Nhà nước muốn có một nền dân chủ đúng nghĩa, việc đầu tiên là phải bảo đảm cuộc sống cho người dân, chính sách gì liên quan đến cuộc sống của dân phải được giải quyết trước tiên, rồi mới đến những chính sách khác.
Đạo đức phải được đề cao, có chăng trở thành một khẩu hiệu trong toàn tổ chức, trong toàn dân. Và không ai không hổ thẹn khi mà bị gọi là vô đạo đức, trong xã hội toàn người đạo đức.
< Cảm hứng viết của người viết: Do vừa mới học Lịch sử học thuyết chính trị, xem clip cắt cổ chủ tiệm vàng, mấy bài báo về Đòan Văn Vươn, đề tài dân chủ> =))))




[2] Thạc sĩ Bùi Ngọc Sơn, Các học thuyết chính trị Trung Quốc cổ đại, Giáo trình lịch sử các học thuyết chính trị,NxbĐHQGHN, tr 37
[3] Thạc sĩ Bùi Ngọc Sơn, Các học thuyết chính trị Trung Quốc cổ đại, Giáo trình lịch sử các học thuyết chính trị,NxbĐHQGHN, tr 85

Friday, February 17, 2012

Thực trạng, quan điểm và hướng sửa đổi các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam (Phần 1)


Thực trạng các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
Hiến pháp năm 1992 dành 55 điều (Điều 3, 5, 6, 7, 10, 11, 12, 16, 18, 20, 22, 25, 28, 29, 32, 34, 35, 36, 40, 42, 44, 49, 50 - 82) quy định 11 nguyên tắc chung (có 6 nguyên tắc mới so với Hiến pháp năm 1980), 96 quyền cơ bản (có 33 quyền mới) và 43 nghĩa vụ cơ bản (có 15 nghĩa vụ mới) của công dân.
Hiến pháp năm 1992 dành 8 điều (Điều 25, 49, 50 – 52, 75, 81, 82) quy định 11 nguyên tắc. Cụ thể gồm: nguyên tắc pháp lý để một cá nhân được thừa nhận là công dân Nước CHXHCN Việt Nam (Điều 49); tôn trọng quyền con người (Điều 50 - mới); quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân (Điều 51); Nhà nước bảo đảm quyền của công dân; công dân phải làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội (Điều 51); quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định (Điều 51 - mới); mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật (Điều 52); Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác của các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam (Điều 25 - mới); Nhà nước Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Điều 75 - mới); người nước ngoài cư trú ở Việt Nam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam (Điều 81 - mới), Nhà nước Việt Nam bảo hộ tính mạng, tài sản và các quyền lợi chính đáng của người nước ngoài cư trú ở Việt Nam (Điều 81 - mới); Nhà nước Việt Nam xem xét việc cho cư trú đối với người nước ngoài đấu tranh vì tự do và độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, dân chủ, hòa bình hoặc vì sự nghiệp khoa học mà bị bức hại (Điều 82).
Các quy định về các quyền cơ bản của công dân Việt Nam nằm trong các Chương I, II, III và V của Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp năm 1992 đã dành 34 điều (Điều 3, 5, 6, 7, 11, 16, 18, 20, 28, 32, 49, 53 – 74, 77) quy định 96 quyền cơ bản của công dân về chính trị, dân sự, kinh tế và xã hội, trong đó có 33 quyền mới so với Hiến pháp năm 1980. Có 56 quyền được quy định một cách trực tiếp theo các công thức: chủ thể quyền + có quyền...; chủ thể quyền + động từ; hoặc chủ thể quyền + được. Và có 40 quyền được quy định một cách gián tiếp bằng nhiều phương thức khác nhau: hoặc chủ thể quyền + được Nhà nước, xã hội bảo đảm, giúp đỡ; hoặc định nghĩa khái niệm pháp lý...
Các quy định về quyền chính trị của công dân. Đối với mọi cá nhân công dân nói chung, tại 5 điều (các Điều 11, 49, 53, 74 và 77), Hiến pháp năm 1992 quy định 9 quyền chính trị, trong đó có 3 quyền mới. Đó là: làm chủ ở cơ sở bằng cách tham gia công việc của Nhà nước và xã hội (Điều 11), quyền có quốc tịch Việt Nam (Điều 49), tham gia quản lý Nhà nước và xã hội (Điều 53), thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương (Điều 53 - mới), kiến nghị với cơ quan Nhà nước (Điều 53 - mới), biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 53 - mới), khiếu nại (Điều 74), tố cáo (Điều 74) và bảo vệ Tổ quốc (Điều 77). Đối với những cá nhân công dân mang tư cách nhất định, Hiến pháp năm 1992 quy định 3 quyền trong 2 điều (Điều 7 và 54), đó là: quyền của cử tri bãi miễn ĐBQH và HĐND (Điều 7), của cử tri bầu ĐBQH và HĐND các cấp (Điều 54), của người đủ 21 tuổi trở lên ứng cử vào QH và HĐND (Điều 54). Về quyền chính trị của nhóm (tập thể) cá nhân công dân, Hiến pháp năm 1992 quy định quyền làm chủ của nhân dân (Điều 3) và quyền của nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua QH và HĐND (Điều 6).
Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định 32 quyền dân sự của cá nhân công dân trong 9 điều, trong đó có 9 quyền mới (các Điều 58, 60, 68 - 74), gồm: sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt (Điều 58); được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt (Điều 58); thừa kế (Điều 58); được Nhà nước bảo hộ quyền thừa kế (Điều 58); quyền tác giả (Điều 60); được Nhà nước bảo hộ quyền tác giả (Điều 60 - mới); quyền sở hữu công nghiệp (Điều 60) và được Nhà nước bảo hộ quyền này (Điều 60 - mới); tự do đi lại ở trong nước (Điều 68), cư trú ở trong nước (Điều 68), ra nước ngoài (Điều 68 - mới) và từ nước ngoài về nước (Điều 68 - mới); tự do ngôn luận (Điều 69), báo chí (Điều 69); được thông tin (Điều 69 - mới); hội họp (Điều 69); lập hội (Điều 69); biểu tình (Điều 69); tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 70); được Nhà nước bảo hộ những nơi thờ tự (Điều 70 - mới); bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 71); được pháp luật bảo hộ về tính mạng (Điều 71); được pháp luật bảo hộ về sức khỏe (Điều 71 - mới), danh dự (Điều 71), nhân phẩm (Điều 71); được suy đoán vô tội (Điều 72 - mới); được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự khi bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật (Điều 72 - mới); bất khả xâm phạm về chỗ ở (Điều 73); được bảo đảm an toàn và bí mật về thư tín (Điều 73); được bảo đảm an toàn và bí mật về điện thoại (Điều 73), điện tín (Điều 73); được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự của người bị thiệt hại bởi hành vi trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang hoặc bất cứ cá nhân nào (Điều 74).
Hiến pháp năm 1992 dành 8 điều (Điều 3, 16, 18, 20, 28, 55, 57, 58) quy định 14 quyền kinh tế của công dân (có 12 quyền mới). Các quy định này phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, định hướng XHCN ở nước ta. Đối với mọi cá nhân công dân, có quyền: quyền được sản xuất, kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm (Điều 16 - mới); được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật (Điều 18 - mới); chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh (Điều 20 - mới); thành lập doanh nghiệp (Điều 20 - mới); lao động (Điều 55); tự do kinh doanh (Điều 57 - mới); sở hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác và được Nhà nước bảo hộ quyền này (Điều 58 - mới); sở hữu tư nhân đối với vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác (Điều 58 - mới) và được Nhà nước bảo hộ quyền này (Điều 58 - mới). Đối với cá nhân công dân mang tư cách nhất định, có quyền: quyền của người sản xuất được Nhà nước bảo hộ quyền lợi (Điều 28 - mới) và quyền của người tiêu dùng được Nhà nước bảo hộ quyền lợi (Điều 28 - mới). Về các nhóm (tập thể) công dân, có quyền: quyền của nhân dân làm chủ về kinh tế (Điều 3) và của tổ chức thuộc các thành phần kinh tế được sản xuất, kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm (Điều 16 - mới).
Các quy định về quyền văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ của công dân. Tại 4 điều (Điều 5, 32, 59 và 60), Hiến pháp năm 1992 tiếp tục quy định 11 quyền của công dân về văn hóa, giáo dục, khoa học – công nghệ, trong 7 quyền đã được quy định trong Hiến pháp 1980, 4 quyền mới được bổ sung. Đối với mọi cá nhân công dân nói chung, Hiến pháp năm 1992 quy định các quyền: học tập (Điều 59); nghiên cứu khoa học (Điều 60); nghiên cứu kỹ thuật (Điều 60); phát minh, sáng chế, sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất (Điều 60 - mới); sáng tác văn học (Điều 60); sáng tác nghệ thuật (Điều 60), phê bình văn học (Điều 60 - mới); phê bình nghệ thuật (Điều 60 - mới); tham gia các hoạt động văn hóa khác (Điều 60). Hiến pháp năm 1992 còn quy định quyền của các dân tộc được dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình (Điều 5) và của nhân dân được thưởng thức những tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị (Điều 32 - mới).
Hiến pháp năm 1992 dành 8 điều (Điều 56, 61 - 67) quy định 25 quyền xã hội của công dân (có 5 quyền mới). Đối với công dân nói chung, có các quyền: được hưởng chế độ chăm sóc sức khỏe (Điều 61); xây dựng nhà ở (Điều 62 - mới); cho thuê nhà (Điều 62 - mới); thuê nhà (Điều 62 - mới); được Nhà nước bảo hộ đối với người thuê nhà (Điều 62 - mới); được Nhà nước bảo hộ đối với người có nhà cho thuê (Điều 62 - mới); bình đẳng nam nữ (Điều 63); được Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình (Điều 64). Về công dân trong những tư cách nhất định, Hiến pháp năm 1992 quy định các quyền của viên chức nhà nước được nghỉ ngơi (Điều 56), được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (Điều 56); của người lao động làm công ăn lương được nghỉ ngơi (Điều 56) và được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội (Điều 56); quyền của lao động nữ được hưởng chế độ thai sản (Điều 63). Đối với một số công dân trong hoàn cảnh đặc biệt, có quyền: quyền của nữ viên chức nhà nước và nữ làm công ăn lương được nghỉ trước và sau khi sinh đẻ mà vẫn hưởng lương (Điều 63). Đặc biệt, Hiến pháp 1992 quy định quyền của một số công dân được hưởng chế độ ưu đãi và chế độ khen thưởng, chăm sóc đặc biệt của Nhà nước – đó là: thương binh, bệnh binh được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước, trong đó đối với bệnh binh là quyền mới (Điều 67); người có công với nước được Nhà nước khen thưởng, chăm sóc (Điều 67). Đối với công dân thuộc nhóm người cần được Nhà nước, xã hội quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ hơn hoặc trong tình trạng yếu thế, dễ bị tổn thương, có quyền của trẻ em được gia đình, Nhà nước, xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục (Điều 65); thanh niên được gia đình, Nhà nước, xã hội tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí... (Điều 66); người già được Nhà nước và xã hội giúp đỡ (Điều 67); người tàn tật được Nhà nước và xã hội giúp đỡ (Điều 67); trẻ mồ côi không nơi nương tựa được Nhà nước và xã hội giúp đỡ (Điều 67). Đối với nhóm (tập thể) cá nhân công dân, Hiến pháp năm 1992 quy định quyền của gia đình liệt sỹ được hưởng chính sách ưu đãi của Nhà nước (Điều 67) và quyền của gia đình có công với nước được Nhà nước khen thưởng, chăm sóc (Điều 67).
Hiến pháp năm 1992 dành 21 điều (Điều 10, 11, 12, 18, 22, 29. 34 – 36, 40, 42, 44, 55, 59, 61, 64, 76 - 80) quy định 44 nghĩa vụ của công dân, tổ chức của công dân, trong đó có15 nghĩa vụ mới. Đối với công dân nói chung, có: bảo vệ của công (Điều 11); bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân (Điều 11 - mới); giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội (Điều 11); tổ chức đời sống cộng đồng (Điều 11); chấp hành Hiến pháp và pháp luật (Điều 12); đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác (Điều 12); bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất (Điều 18); sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường (Điều 29); bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em (Điều 40 - mới); thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình (Điều 40 - mới); thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh (Điều 44); lao động (Điều 55); học tập (Điều 59); thực hiện vệ sinh phòng bệnh và vệ sinh công cộng (Điều 61 - mới); trung thành với Tổ quốc (Điều 76); bảo vệ Tổ quốc (Điều 77); tôn trọng và bảo vệ tài sản của Nhà nước và lợi ích công cộng (Điều 78); tuân theo pháp luật (Điều 79); bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội (Điều 79); giữ gìn bí mật quốc gia (Điều 79); chấp hành những quy tắc sinh hoạt công cộng (Điều 79); đóng thuế (Điều 80); lao động công ích (Điều 80). Về nghĩa vụ của công dân mang tư cách nhất định, có: cha mẹ nuôi dạy con thành những công dân tốt (Điều 64); con cháu kính trọng và chăm sóc ông bà, cha mẹ (Điều 64). Hiến pháp năm 1992 dành 10 điều (Điều 10, 18, 22, 29, 34 – 36, 40, 42, 44) quy định 17 nghĩa vụ của nhóm (tập thể, tổ chức, cộng đồng) công dân, trong đó có 11 nghĩa vụ mới. Đó là: Công đoàn chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 10); tổ chức có nghĩa vụ bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất (Điều 18); các cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với Nhà nước (Điều 22 - mới); tổ chức kinh tế phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường (Điều 29); tổ chức xã hội thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường (Điều 29 - mới); xã hội bảo tồn, phát triển các di sản văn hóa dân tộc; chăm lo công tác bảo tồn, bảo tàng, tu bổ, tôn tạo, bảo vệ và phát huy tác dụng của các di tích lịch sử, cách mạng, các di sản văn hóa, các công trình nghệ thuật, các danh lam thắng cảnh (Điều 34 - mới); xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân tài, bồi dưỡng nhân cách (Điều 35 - mới); tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, gia đình giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, trong đó đối với tổ chức kinh tế là quyền mới (Điều 36); xã hội bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em (Điều 40 - mới); gia đình bảo vệ, chăm sóc bà mẹ và trẻ em (Điều 40 – mới); xã hội thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình (Điều 40 – mới); gia đình thực hiện chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình (Điều 40 – mới); xã hội phát triển du lịch, mở rộng hoạt động du lịch trong nước và du lịch quốc tế (Điều 42 – mới); tổ chức kinh tế thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định (Điều 44 – mới); tổ chức xã hội thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và an ninh do pháp luật quy định (Điều 44).
Có thể nói, Hiến pháp năm 1992 – Hiến pháp của thời kỳ đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế - đã có bước tiến lớn trên con đường phát triển và hoàn thiện các quy định hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý vững chắc vừa để bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam, vừa là công cụ pháp lý hữu hiệu để giáo dục, nhắc nhở và nâng cao ý thức trách nhiệm của công dân và của Nhà nước trong việc thực hiện các quy định hiến pháp đó ở Việt Nam hiện nay.
Từ những trình bày ở trên có thể rút ra mấy nhận xét. Về ưu điểm, một là, các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con người và quyền của công dân Việt Nam hoàn toàn phù hợp với các văn bản mang tính tuyên bố và mang tính pháp lý của Liên Hợp Quốc về quyền con người và với chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về quyền con người, quyền của công dân Việt Nam, nhất là trong bối cảnh đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay.
Hai là, số lượng về điều luật, các nguyên tắc chung, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (trong đó có số lượng nguyên tắc chung mới, các quyền và nghĩa vụ mới của công dân) tăng lên so với các Hiến pháp trước: từ 16 điều, 4 nguyên tắc chung, 27 quyền, 4 nghĩa vụ (trong Hiến pháp năm 1946) tới 32 điều, 5 nguyên tắc chung (có hai nguyên tắc mới), 50 quyền (có 31 quyền mới) và 12 nghĩa vụ (có 9 nghĩa vụ mới) của Hiến pháp năm 1959; đến 44 điều, 7 nguyên tắc chung (có 3 nguyên tắc mới), 71 quyền (có 35 quyền mới), 35 nghĩa vụ (có 26 nghĩa vụ mới) trong Hiến pháp năm 1980 và tới 55 điều, 11 nguyên tắc chung (có 6 nguyên tắc mới), 96 quyền (có 33 quyền mới), 43 nghĩa vụ (có 15 nghĩa vụ mới) của Hiến pháp năm 1992. Sự gia tăng này chứng tỏ quyền con người, quyền cơ bản của công dân ngày càng được ghi nhận, mở rộng và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng ngày một nhiều hơn.
Ba là, so với các Hiến pháp trước, quyền và nghĩa vụ Hiến định của công dân đa dạng, phong phú hơn về chủng loại (các quyền, nghĩa vụ về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội) và về chủ thể (quyền và nghĩa vụ của mọi cá nhân công dân nói chung, của các cá nhân công dân mang những tư cách hay trong hoàn cảnh nhất định và của các nhóm công dân). Điều đó, một mặt, thể hiện sự quan tâm ngày càng đầy đủ hơn của Nhà nước đối với các quyền và lợi ích chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân; mặt khác, cũng nói lên sự đòi hỏi ngày càng lớn của Nhà nước đối với trách nhiệm của người dân khi họ được hưởng những quyền và lợi ích đó.
Bốn là, các quyền cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 1992 so với các Hiến pháp trước có tính hiện thực (tính khả thi) hơn bằng các quy định của Hiến pháp về nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước cho các quyền ấy. Điều đó vừa thể hiện nghĩa vụ, trách nhiệm ngày càng tăng của Nhà nước đối với đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, vừa phản ánh sự phát triển ngày càng cao của xã hội Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Về nhược điểm, thứ nhất, nếu tính từ năm 1992 – năm ban hành Hiến pháp hiện hành đến nay đã trải qua 20 năm, xã hội Việt Nam và thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc về mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; trình độ phát triển của xã hội Việt Nam ngày càng cao; nhu cầu và lợi ích chính đáng của con người ngày càng phong phú, đa dạng cần được đáp ứng, thế nhưng những biến đổi đó chưa được phản ánh trong Hiến pháp năm 1992 và các nhu cầu, lợi ích đó chưa được nâng lên thành các quyền hiến định.
Thứ hai, giống như Hiến pháp năm 1959 và Hiến pháp năm 1980, các quy định của Hiến pháp năm 1992 về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân Việt Nam không được tập trung trong một chương mà nằm rải rác trong nhiều chương. Điều đó gây trở ngại cho việc theo dõi, nghiên cứu và thực hiện.
Thứ ba, nội dung và hình thức của Chương V – chương chuyên biệt về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân - không tương xứng nhau và việc xếp đặt các quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân chưa thật khoa học.
Thứ tư, còn có khá nhiều điều quy định về quyền của công dân Việt Nam không có nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước kèm theo, làm cho các điều luật này mang tính tuyên ngônnhiều hơn tính hiện thực. Bên cạnh đó, cũng có không ít các quy định về nghĩa vụ của công dân không kèm theo quyền của Nhà nước được áp dụng các biện pháp bảo đảm thực hiện, làm cho các quy định này không có hiệu lực cao.
Thứ năm, có không ít quyền của công dân được quy định một cách gián tiếp thông qua việc quy định nghĩa vụ bảo đảm của Nhà nước đối với quyền công dân hoặc bằng các định nghĩa khái niệm pháp lý; còn tình trạng một điều luật quy định nhiều nghĩa vụ của công dân, hoặc vừa quy định quyền vừa quy định nghĩa vụ của công dân; lời văn trong một số điều luật còn dài dòng.
(Còn nữa)
Pgs.Ts Nguyễn Văn Động

CON HÁT MẸ KHEN HAY VÀ THÔNG ĐIỆP CẦN VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH

Lấy từ blog Nguyễn Minh Tuấn
link  http://tuanhsl.blogspot.com/ 

CON HÁT MẸ KHEN HAY VÀ THÔNG ĐIỆP CẦN VƯỢT LÊN CHÍNH MÌNH


Thí sinh Quỳnh Anh và phụ huynh. Ảnh: Vietnamgottalent.info
Tài năng đích thực hay chỉ là con hát mẹ khen hay?

Chương trình giải trí trên truyền hình có tên Vietnam‘s got Talent đang thu hút được sự chú ý của dư luận. Sau khi chương trình tuần vừa qua khép lại, đã có rất nhiều người bàn luận về tiết mục biểu diễn của thí sinh Quỳnh Anh trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sẽ chẳng có gì đáng để „ồn ào“ như thế, nếu như chỉ thuần túy là việc dự thi và không được lựa chọn để đi tiếp vào vòng sau. Tuy nhiên trường hợp „không được lựa chọn“ này lại không bình thường như những trường hợp khác.

Điều không bình thường là trước khi bước lên sân khấu, người mẹ và cả gia đình của thí sinh Quỳnh Anh đã hết lời ca ngợi tài năng của em, rằng em  "quá có năng khiếu“, "quá tài năng", "đỉnh của đỉnh". Tuy nhiên, sau khi thể hiện, cả khán giả và Ban giám khảo mới thấy sự thật rằng tài năng thực sự của thí sinh đã không hoàn toàn giống như những gì gia đình ca ngợi trước đó. Nhạc sĩ Huy Tuấn đã nhận xét: "chất giọng của Quỳnh Anh có thể gặp bất cứ nơi đâu, kĩ thuật chưa thật hoàn hảo, những nốt lên cao còn rất nhiều hạn chế."

Điều khiến khán giả thất vọng ở đây không phải với thí sinh dự thi Quỳnh Anh, một cô bé chỉ mới 15 tuổi, mà thất vọng, bất bình với hành động của người mẹ. Sau khi có những lời nhận xét và kết quả không đồng ý đi tiếp vào vòng sau của Ban giám khảo, mẹ của thí sinh đã cầm micro, lên tiếng phát biểu ngay trên sân khấu để "bảo vệ" con mình. Bà cho rằng thí sinh Quỳnh Anh đã trình bày rất tốt, không có lỗi nào, rằng con gái bà thực sự có tài, hơn nhiều thí sinh khác và có ý phê bình Ban giám khảo đã không cho Quỳnh Anh một cơ hội (?!).

Việc người mẹ này dám đứng lên bảo vệ con thực chất không có gì là sai, nếu như lập luận bà đưa ra là đúng và đủ sức thuyết phục. Tuy nhiên, trong một cuộc thi, thí sinh có tài hay không, tài đến mức độ nào, muốn khách quan, công bằng quan trọng nhất là phải để công luận và những người có chuyên môn đánh giá. Tất cả những việc người mẹ làm chỉ cho thấy một điều rõ nhất rằng những gì bà ca ngợi con mình và tài năng thực sự của cô bé đã thể hiện trên sân khấu là khác nhau quá xa.

Điều rất đáng buồn là hiện nay có khá nhiều vị phụ huynh vẫn ngộ nhận về khả năng thực sự của con cái mình để chạy theo một thứ thành tích ảo như thế. Trên đời có người mẹ nào mà không yêu con, thương con. Nhưng yêu thương không phải là đánh giá con một cách mù quáng, cao quá mức so với khả năng thực sự của con, mà phải rèn luyện cho con tinh thần dũng cảm, dám nhìn thẳng vào sự thật, nhìn thẳng vào những điểm còn hạn chế của con mình, động viên con khiêm tốn, tiếp tục cố gắng học hỏi và dần hoàn thiện, chứ không phải áp đặt ý muốn của mình. Làm như thế, thực tế là...đang làm hại con mình.

„Hơn gấp vạn lần dân chủ tư sản“

Khép lại chuyện „con hát mẹ khen hay“, nhìn vào thực tế xã hội ta sẽ thấy có muôn vàn những cách suy nghĩ, cách làm tương tự như thế của những người được coi là „người lớn“, "người có học", thậm chí cả những người hiện đang giữ những trọng trách quan trọng trong bộ máy nhà nước. Điều này khiến cho rất nhiều người trong chúng ta không khỏi phải day dứt, suy nghĩ.

Dường như ai cũng biết, so với nhiều nước, nước ta vẫn là một nước nghèo, chúng ta hiện đang thua kém họ ở nhiều phương diện. Nhẽ ra cần phải biết mình, biết người, mà phấn đấu, vậy mà trong một bài viết gần đây đăng trên Báo nhân dân, ngày 5/11/2011, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan lại khẳng định rằng: "Nhà nước ta đang phát triển lên tầm cao mới, khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản…"

Bà Nguyễn Thị Doan, Ảnh: Tuổi trẻ

Như đã đề cập về phần thi của thí sinh Quỳnh Anh, việc đánh giá em có tài thực sự hay không thì phải căn cứ vào sự thể hiện của em trên sân khấu, sự đánh giá của Ban giám khảo, cũng như ngàn vạn khán giả theo dõi, chứ không phải chỉ nghe một phía từ người mẹ hay gia đình em.  

Cũng tương tự vậy, vấn đề nước ta có dân chủ thực sự hay không và dân chủ ở mức độ nào thì phải dựa trên những căn cứ, tiêu chí cụ thể và được đánh giá một cách khách quan từ phía bên ngoài, tức là bởi những người dân trong nước và dư luận quốc tế, chứ không phải chỉ dựa vào kết luận chủ quan, cảm tính, một chiều của những người lãnh đạo 

Như khẳng định của bà Doan, không rõ "dân chủ" mà bà nói là dân chủ gì, „tầm cao mới“ ấy là tầm cao nào mà có khả năng cao „gấp vạn lần dân chủ“ của những nước tư bản ngày nay? Tất nhiên, bà Phó chủ tịch nước có thể nói, có thể viết, có thể đưa ra quan điểm riêng, đó là quyền của bà. Tuy nhiên, khi bà đưa ra nhận định, muốn thuyết phục được người khác, bà phải dựa trên lý lẽ và có nghĩa vụ chứng minh những gì mình nói là đúng sự thật. 

Phó chủ tịch nước đã nói thì chắc không phải chuyện chơi. Vậy thì liệu bà Phó chủ tịch nước có thể chứng minh bằng những chứng cứ cụ thể, thuyết phục với nhân dân cả nước và với các nước trên thế giới rằng Việt Nam ta đang có „dân chủ cao hơn gấp vạn lần“ các nước tư bản như Anh, Đức, Mỹ, Nhật, Pháp hiện nay không? Chúng tôi – những người dân luôn sẵn sàng lắng nghe bà tiếp tục trình diễn phần thi "chứng minh Việt Nam có dân chủ cao hơn gấp vạn lần" các nước tư bản hiện nay của mình. 

Người dân sẽ tiếp tục xem bà trình diễn, nhưng mong bà đừng giống như người mẹ của thí sinh Quỳnh Anh trong cuộc thi Vietnam’s got Talent tuần vừa rồi, trình diễn xong, khán giả lại „ồ lên" rõ to...ồ lên không phải vì sung sướng, mà là...tràn đầy thất vọng.

Dũng cảm nhìn lại và tự sửa mình

Dù gì thì chương trình Vietnam’s got Talent cũng chỉ là một cuộc chơiCuộc chơi nào, ánh hào quang nào, ồn ào mấy rồi cũng sẽ khép lại. Con đường phía trước của Quỳnh Anh còn rất dài, sự việc vừa rồi có thể khiến em phần nào bị tổn thương, nhưng tôi nghĩ ban giám khảo đã quyết định đúng và quyết định đó là cần thiết cho em, vì hi vọng qua những lời nhận xét của Ban giám khảo, của mọi người, Quỳnh Anh sẽ tĩnh tâm nhìn lại mình, xem xét lại cách mình được giáo dục để trưởng thành hơn. Với nhiều người có thể em hát chưa thật hay, nhưng em hãy tiếp tục khám phá khả năng của bản thân, tiếp tục cố gắng với những đam mê thật sự của mình, em vẫn có nhiều cơ hội để thành công.

Với nhiều vị phụ huynh, con cái dù có lớn đến đâu trong mắt họ vẫn chỉ là những đứa trẻ. Cách suy nghĩ ấy đến nay cần phải thay đổi. Khi con đã lớn, bố mẹ cần phải luôn tin tưởng và động viên con hướng tới những điều tốt đẹp, cho con quyền tự quyết định và tự chịu trách nhiệm dần về việc mình làm. Khi đã trưởng thành, điều đáng quí nhất của người con là có chính kiến riêng của mình, không ngại khó, ngại khổ để vươn tới những điều mà mình cho là tốt đẹp.  

Đối với nhà nước cũng vậy, đã qua rồi thời kì dù sai hay đúng nhà nước nói gì dân cũng tin, qua rồi thời chính quyền có thể "ru ngủ" nhân dân bằng những từ ngữ mĩ miều, đẹp đấy nhưng không hề có thật. 

Tự do, dân chủ không bao giờ là quà tặng từ trên trời rơi xuống, những điều hay ho đó chỉ có được khi người dân nhìn nhận ra những sai trái, bất công, dám lên tiếng, đấu tranh, bảo vệ những quyền căn bản, những giá trị sống của mình.

Người dân Myanmar chào đón sự trở lại của bà Aung San Suu Kyi. Người phụ nữ Châu Á đấu tranh cho Nhân Quyền nổi tiếng nhất thế giới hiện nay. Ảnh:  ABC

Cô bé Quỳnh Anh sẽ lại ngoan ngoãn nghe theo lời mẹ bất luận đúng sai HAY qua cuộc thi này em sẽ trưởng thành hơn, sẽ mạnh mẽ hơn mà suy nghĩ độc lập, quyết định tương lai và sự thành công theo cách của mình? Câu trả lời là ở phía em. Điều này cũng giống với một dân tộc, nếu không nhìn ra bên ngoài, không nhìn thẳng vào những hạn chế, yếu kém của mình mà dũng cảm sửa đổi, dân tộc ấy sẽ mãi chìm đắm một cách êm ái trong lạc hậu, đói nghèo. Thời nay dân chủ có được hay không, đó không phải chỉ là việc của chính quyền nữa rồi, giờ đã đến lúc phải suy nghĩ khác, làm khác, người dân phải tự quyết định lấy vận mệnh, nếu như muốn có một tương lai tốt đẹp hơn cho bản thân mình và con cháu mai sau. 

NMT

Monday, February 13, 2012

Suy nghĩ ...

Hôm nay Hạnh ''phó'' hỏi mình rằng, cái gì đánh cắp được trái tim?

Đơn giản thôi chỉ có trái tim mới đánh cắp được trái tim. 

Tại sao lại vậy? Đơn giản là vì chỉ có trái tim mới hiểu ngôn ngữ riêng của nó.

Vậy hóa ra là cái gì cũng có ngôn ngữ riêng của nó hay sao?

Đúng vậy. Xung quanh chúng ta vạn vật đều có ngôn ngữ riêng của nó, loài người cũng có ngôn ngữ riêng, loài chim cũng có ngôn ngữ riêng, những người cùng quốc gia cũng có ngôn ngữ riêng, những người cùng chung sống trong 1 gia đình cũng có ngôn ngữ riêng...Chúng ta dường như đã áp đặt thứ ngôn ngữ riêng đó của những người khác là ngôn ngữ của chính mình và mình cũng có thể hiểu. Sai rồi, không bao giờ có thể hiểu được đâu!

Tuy nhiên như ví dụ ở trên trái tim mới đánh cắp được trái tim, cũng tức là cũng có những người cùng chung ngôn ngữ.

Nhưng tại sao họ lại có chung ngôn ngữ? Phải chăng họ là những con người bản sao, những con người giống nhau như đúc?

Sai rồi! Chả ai giống ai cả, cũng chả có bản sao nào y như đúc trên thế giới này.

Cái chính là những người có chung ngôn ngữ họ cũng xuất phát điểm là từ những người không cùng ngôn ngữ mà thôi. Nhưng họ đã gắn kết và trao đổi với nhau, bù đắp cho nhau để hiểu được rằng ngôn ngữ của người khác, không đơn thuần là cái lập dị của người khác, mà nó cũng chính là  thứ ngôn ngữ mà mình đang cần, thứ ngôn ngữ mà mình đang tìm kiếm...

Vậy nên hai trái tim lạc nhịp, đã hòa chung một nhịp chỉ đơn giản là hai trái tim sinh ra đã hẹn ngày gặp lại...



Saturday, February 11, 2012

Tham nhũng từ cái nhìn khoa học



Tham nhũng từ cái nhìn khoa học
Tạp chí New Scientist trong năm qua đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học về những nguyên nhân dẫn tới nạn tham nhũng.
Các nhà khoa học đã minh họa rất rõ những tình huống mà trong đó, những người vốn thông minh, tư duy tỉnh táo bỗng dưng trở thành những kẻ tham nhũng.
Và dẫu rằng không ai đưa ra được các “toa thuốc” đặc trị chống lại căn bệnh trầm kha này nhưng các nhà khoa học vẫn cố gắng bằng các tìm tòi của mình để lý giải, tại sao cách hành xử trái đạo đức và trái pháp luật như thế vẫn rất phổ biến trên thế giới.
Đại bộ phận trong chúng ta thường vẫn cho mình là những người trung thực và nghĩ rằng các khái niệm không hay ho như tham nhũng, tham ô là chuyện chẳng liên quan gì tới mình. Thế nhưng, các nghiên cứu lại cho thấy, bằng cách này hay cách khác, bất cứ ai trong chúng ta, ngay cả người trung thực, chính trực nhất, cũng có thể bị dính líu tới chuyện đó.
Vấn đề là ở chỗ, dù xã hội có ở trình độ văn minh cao đến mấy, thì hiện tượng lạm dụng chức quyền trong chính trị, trong các cơ quan quyền lực khác nhau và trong kinh doanh ở mức độ này hay mức độ khác vẫn xảy ra ở khắp mọi nơi. Tại tuyệt đại đa số các quốc gia, không thể nào loại bỏ hoàn toàn những thèm khát trục lợi một cách bất hợp pháp trong lòng những người đang có chức quyền bằng bất cứ án tù hay các hình thức xử lý hình sự nào.
Minh họa: Lê Phương.
 
Hiện tượng lạm dụng quyền lực của các quan chức để trục lợi cá nhân đã được các nhà khoa học nghiên cứu trong tất cả các hình thức biểu hiện khác nhau. Thậm chí cả ở cấp độ bản năng. Bởi lẽ, nếu nhìn từ góc độ tiến hóa, cách hành xử “đạo đức sáng như gương” không phải bao giờ cũng là chiến lược hợp lý nhất, mà chính sự khôn ngoan, láu cá mới tạo nên được những lợi thế nhất định và những cơ hội lớn để giành lấy thắng lợi hơn hẳn trước những ai hành xử như tất cả mọi người hoặc những ai luôn luôn làm đúng các quy chế và quy định. Và đây chính là một trong những nguyên nhân khiến cuộc đấu tranh chống lại việc trục lợi một cách bất hợp pháp và vô đạo đức trở nên phức tạp đến nhường vậy.
Thử nghiệm tham ô
Nhà khoa học Samuel Bendahan từ Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ tại Lausanne  khẳng định: “Nếu bạn phần lớn thời gian đều trung thực thì chỉ vì nguyên do duy nhất là bạn không có cơ hội để lừa dối”. Cùng với các đồng nghiệp của mình, ông đã nghĩ ra một trò chơi mà trong đó, những người tham gia nó phải cùng nhau phân chia một khoản tiền cho mình và cho những người khác, thực hiện nhiệm vụ của các nhân viên.
Đã xuất hiện nhiều phương án khác nhau để làm việc này. Có thể chia tiền bằng cách đưa cho những người khác các khoản thù lao cao hơn từ số tiền lẽ ra mình phải được hưởng. Và cũng có thể chia cho những người khác ít tiền thù lao hơn và số dư ra thì đút vào ví mình. Trong quá trình thăm dò ý kiến sơ bộ, cách làm thứ hai chỉ được 4% số người tham gia thí nghiệm đồng tình.
Trong giai đoạn đầu của thí nghiệm, một người được cử ra để phân phối những khoản tiền không lớn lắm cho những người chơi. Và trong suốt mười lượt chơi, mọi sự đều diễn ra một cách trung thực.
Thế rồi số người được cử ra để chia tiền tăng lên tới con số 3 và tổng số tiền cũng được tăng lên. Kết quả là trong 10 lượt chơi theo quy tắc này, 455 số thành viên tham gia thí nghiệm đã có hành vi phi đạo đức và lợi dụng cương vị của mình để làm giàu cá nhân.
Bằng thí nghiệm này, các nhà khoa học đã cho thấy rõ, quyền chức có thể làm cho con người tha hóa như thế nào.
Mụ mẫm vì quyền lực
Quyền lực không chỉ đơn giản “nối giáo cho giặc”, khiến con người ta có thêm được những cơ hội để lạm dụng tài chính. Nó còn tác động rất mạnh đến tư duy của con người.
Nhà khoa học Joris Lammers ở Trường Đại học Tổng hợp Tilburg (Hà Lan) đã so sánh những gì diễn ra trong đầu các quan chức nắm quyền lực với tình trạng say rượu.
Rượu vào người sẽ khiến cho chúng ta bị thu hẹp sự chú ý và kích thích trạng thái vẫn được gọi là tự tin thái quá cũng như hăng hái thái quá. Các nhà nghiên cứu ở Trường Đại học Tổng hợp Tilburg đã quan sát hoạt động não của những người đang nắm quyền lực và phát hiện ra rằng, ở những người này xuất hiện hiện tượng gia tăng hoạt động ở những khu vực liên quan tới sự mất tự chủ bản thân này.
Hóa ra là, một quan chức cao cấp khi muốn được “bôi trơn” cho việc thực thi công vụ của mình có thể không nhận thức rõ được hết những hệ lụy có thể đến hoặc là có xu hướng không muốn tin rằng sẽ có thể xảy ra một chuyện gì đó không hay đối với mình vì các hành vi tham ô, tham nhũng. Nhà khoa học Lammers gọi hiện tượng này là “sự cận thị đạo đức”.
Nhà kinh tế học Dan Ariely ở Viện Công nghệ Massachussetts (Mỹ) đã phát hiện ra trong chân dung của người tham nhũng một chi tiết thú vị nữa. Theo các kết luận của Airely, những “thành tựu” lớn nhất trong “công cuộc tham nhũng”, cũng như trong rất nhiều việc khác, thường thuộc về những người có óc sáng tạo phong phú, với cách tiếp cận vấn đề độc đáo và một trí tưởng tượng cao.
Bắt tận tay, day tận trán
Thế nhưng, sự xuất hiện của các hành vi tham nhũng không chỉ được kích thích bởi những thẩm quyền mà các quan chức có, mà còn bởi cả cơ hội duy trì một khoảng cách tâm lý. Nhà kinh tế học Dan Ariely đã phát hiện ra rằng, con người ta thường  hay bị lôi cuốn bởi những tấm thẻ có thể đổi lấy tiền hơn là chính bản thân những đồng “tiền tươi”.
Nếu tiếp tục lập luận theo hướng này, thì có thể thấy rằng, việc nhận hối lộ thông qua những người trung gian cho phép những quan chức tha hóa có thể phần nào được tách biệt ra khỏi những tình huống không mấy hay ho.
Thứ nhất, người trung gian dễ dàng xác định bảng giá cho các hành vi “ông chìa chân giò, bà thò chai rượu” hay mua chuộc chính trị gia và bằng cách này góp phần “bình thường hóa” hành vi đưa tiền hối lộ. Thứ hai, việc tồn tại người trung gian làm giảm bớt nguy cơ bị trừng phạt vì tội nhận hối lộ và tạo nên ảo tưởng về một trách nhiệm chung.
Như một dịch bệnh
Muốn nói gì thì nói, yếu tố quan trọng nhất dẫn tới hiện tượng tham nhũng, hối lộ trong đời sống chúng ta vẫn là việc nó có được xã hội công nhận hay không. Ở một vài quốc gia ít ỏi nào đó, đút lót, hối lộ là việc mà thậm chí ít ai phải nghĩ thế. Tuy nhiên, ở phần lớn những nước đang phát triển, không “bôi trơn”, không “làm luật” cho các viên chức thì không bao giờ làm được việc cần thiết. Thậm chí ở nhiều nơi, đút lót còn là phương thức duy nhất để có thể giải quyết nhanh chóng các vấn đề quan trọng.
Nhà khoa học Abigail Barr ở Trường Đại học Tổng hợp Oxford đã nghiên cứu về các tiểu tiết của hiện tượng tham nhũng. Bà đã tiến hành một loạt những thí nghiệm với các sinh viên ở Oxford tới từ 34 quốc gia trên thế giới. Mỗi một người trong số này phải tự quyết định xem là nên hay không nên đút lót cho các viên chức có thẩm quyền để làm một việc gì đó cần thiết của mình, thí dụ như để lấy giấy nghỉ học vì ốm chẳng hạn.
Kết quả thí nghiệm cho thấy, những sinh viên tới từ các quốc gia có chỉ số tồi tệ nhất trong bảng xếp hạng về tham nhũng thường dễ dàng chấp nhận đi hối lộ vì đối với họ, đó cũng là “chuyện thường ngày ở huyện”.
Có một điều tốt là ngay cả những người như thế cũng có thể trở nên bớt xấu tính đi trong việc đưa hối lộ. Một thí nghiệm khác, cũng do bà Barr tiến hành cho thấy, sau khi sống một thời gian ở Anh, nơi nạn tham nhũng không phải là vấn đề nghiêm trọng, thì những sinh viên trên đã có cách hành xử thích hợp với các quy tắc xã hội phổ biến trên “hòn đảo sương mù”. Và tới khi tốt nghiệp đại học, thì các trí thức trẻ tới từ các nước phổ biến nạn tham nhũng nhìn chung không còn khác biệt gì trong cách nhìn nhận vấn đề này so với các bạn đồng môn người Anh.
Xếp hạng mức độ tham nhũng trên thế giới (CPI) năm 2011
(Đánh giá của tổ chức Transparency International)
Chỉ số CPI được xây dựng trên cơ sở thống kê các hình thức tham nhũng khác nhau, kể cả việc đưa tiền hối lộ cho các quan chức, sự tham gia của các công chức vào việc chia chác lợi nhuận từ việc thực hiện các hợp đồng công, việc sử dụng không tốt các nguồn lực từ ngân sách… có tính cả sự tích cực của nhà nước trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng.
10 quốc gia ít mắc vào tham nhũng nhất: New Zealand, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển, Singapore, Na Uy, Hà Lan, Australia, Thụy Sĩ, Canada.

 Theo Khánh Hạ (ANTG cuối tháng)

Friday, February 10, 2012

Bảo hiến, chủ nghĩa lập hiến và nhà nước pháp quyền

Bảo hiến, chủ nghĩa lập hiến và nhà nước pháp quyền
Bảo hiến, chủ nghĩa lập hiến và nhà nước pháp quyền

I. Khái niệm và lịch sử phát triển của vấn đề bảo hiến
Bảo hiến (hay còn được gọi là bảo vệ hiến pháp hoặc tài phán hiến pháp1-constitutional review/judicial review), theo định nghĩa của một số từ điển pháp luật phổ biến, có thể hiểu là thẩm quyền của các tòa án của một quốc gia được xem xét và đánh giá tính hợp hiến của các đạo luật hoặc quyết định của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp.2 
Sở dĩ bảo hiến thường được gọi là judicial review vì từ trước đến nay nó gắn liền với chức năng của tòa án trong việc xem xét tính pháp lý trong hoạt động của các cơ quan hành chính3.
Khi nói về lịch sử của vấn đề bảo hiến, Arne Mavčič chia thành các giai đoạn như sau4:
Trước Chiến tranh thế giới thứ I
Những yếu tố ban đầu của bảo hiến được cho là xuất hiện vào thời cổ Hy Lạp, khi pháp luật nước này phân biệt giữa một nomos (văn bản pháp luật có chức năng như hiến pháp) và một psephisma (văn bản pháp luật có chức năng như một nghị định, hiệu lực thấp hơn). Một psephisma, bất kể nội dung quy định về vấn đề gì, cũng không được trái với nomos, nếu trái sẽ bị coi là vô hiệu.
Một số khía cạnh của bảo hiến sau đó được áp dụng trong hệ thống pháp luật của Đức từ năm 1180 (về sau được đề cập trong Hiến pháp Weimar). Ngoài ra, các hình thức sơ khai của bảo hiến cũng xuất hiện ở một số nước châu Âu khác như ở Pháp (từ giữa thế kỷ XIII), Bồ Đào Nha (từ thế kỷ XVII), Na Uy, Đan Mạch, Hy Lạp, Áo, Romania (thế kỷ XIX). Mặc dù không có hiến pháp thành văn, nước Anh cũng được coi là có đóng góp quan trọng vào sự phát triển của lý luận và pháp luật về bảo hiến, vì từ thời trung cổ, người Anh đã khởi xướng ra thủ tục impeachment (hạch tội để bãi miễn quan chức nhà nước), đồng thời từ năm 1610 đã đề xướng nguyên tắc về tính tối thượng (supremacy) của Hiến pháp và quyền của tòa án được xem xét tính hợp hiến của các hoạt động của chính phủ - những điều mà sau đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thiết lập cơ chế bảo hiến ở Hoa Kỳ.
Ở Hoa Kỳ, vào cuối thế kỷ XVIII, tòa án đã ra một phán quyết tuyên bố các luật của đế chế Anh không có hiệu lực trên lãnh thổ các bang Bắc Mỹ. Tuy nhiên, phải đến năm 1803, trong vụ án nổi tiếng Marbury kiện Madison, quyền bảo hiến của tòa án mới được xác lập một cách chính thức ở Hoa Kỳ. Vụ Marbury kiện Madison cũng xác lập mô hình bảo hiến kiểu Hoa Kỳ, do các tòa án thực hiện - một trong những mô hình bảo hiến chính trên thế giới hiện được áp dụng ở nhiều quốc gia.
Trong thời gian giữa hai cuộc Chiến tranh thế giới thứ I và thứ II
 Giai đoạn này được gọi là “thời kỳ của nước Áo” (the Austrian Period). Chịu ảnh hưởng từ tư tưởng của hai nhà luật học Adolf Merkl và Hans Kelsen, Hiến pháp năm 1920 của Áo đã xác lập nền tảng của Tòa án Hiến pháp nước này, với độc quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật. Mô hình tòa án hiến pháp chịu trách nhiệm về bảo hiến sau đó được áp dụng ở nhiều quốc gia khác, đặc biệt là ở châu Âu, trở thành một trong các mô hình bảo hiến chính hiện nay trên thế giới.
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ II
Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, cơ chế bảo hiến tiếp tục được thiết lập ở khắp nơi trên thế giới. Trong thời kỳ này, ngoài tòa án (tòa án thường và tòa án hiến pháp) như ở Mỹ và Áo, ở một số nước, pháp luật còn giao quyền bảo hiến cho một số cơ quan khác, ví dụ như Hội đồng bảo hiến, các tòa đặc biệt thuộc Toà án tối cao, hoặc cho bản thân Nghị viện.
II. Các mô hình bảo hiến trên thế giới
Từ góc độ tổ chức, Arne Mavčič chia các thiết chế bảo hiến hiện hành trên thế giới thành các mô hình như sau5:
(1)   Mô hình Mỹ
Được hình thành từ vụ Marbury kiện Madison, đặc trưng của mô hình bảo hiến kiểu Mỹ là không thành lập cơ quan bảo hiến chuyên trách. Thay vào đó, tòa án ở mọi cấp về nguyên tắc đều có quyền bảo hiến, cụ thể là trong quá trình xét xử có quyền xem xét tính hợp hiến của các đạo luật có liên quan và có quyền tuyên bố quy định đó là vi hiến, đồng thời từ chối không áp dụng quy định đó. Vì vậy, đây còn được gọi là mô hình bảo hiến phi tập trung (decentralized constitutional review). Tuy nhiên, để bảo đảm tính thống nhất trong vấn đề này, chỉ quyết định của tòa án tối cao mới có hiệu lực bắt buộc với mọi toà khác và mới có thể vô hiệu hóa một đạo luật.
Hiện tại, theo nghiên cứu của Arne Mavčič, những quốc gia và vùng lãnh thổ sau đây đang áp dụng mô hình bảo hiến kiểu Mỹ (xem thêm hình 1): Đan Mạch, Estonia, Ireland, Nauy, Thụy Điển (châu Âu); Botswana, Gambia, Ghana, Guinea, Kenya, Malawi, Namibia, Nigeria, Xây-sen, Sierra Leone, Swaziland, Tanzania (châu Phi); Israel (Trung Đông); Bangladesh, Fiji, Hong Kong, Ấn Độ, Nhật Bản, Kiribati, Malaysia, the Federal States of Micronesia, Nauru, Nepal, New Zealand, Palau, Papua New Guinea, Singapore, Chính phủ Tây Tạng lưu vong, Tonga, Tuvalu, Vanuatu, Tây Samoa (châu Á); Canada, Hoa Kỳ (Bắc Mỹ); Argentina, Bahamas, Barbados, Belize, Bolivia, Dominica, Grenada, Guyana, Haiti, Jamaica, Mexico, St. Christopher/Nevis, Trinidad and Tobago (Trung và Nam Mỹ).
(2) Mô hình châu Âu lục địa  
Mô hình này còn được gọi là mô hình Áo, bởi như đã đề cập ở trên, nó được xác lập đầu tiên trong Hiến pháp năm 1920 của Áo, dựa trên lý thuyết của Adolf Merkl và Hans Kelsen mà trong đó kết hợp giữa nguyên tắc về tính tối cao của Hiến pháp và thẩm quyền tối cao của Nghị viện. Đặc trưng của mô hình này là không giao quyền bảo hiến cho toàn bộ hệ thống tòa án mà chỉ giao cho một cơ quan chuyên trách. Cơ quan này, nguyên thủy và thông thường được thành lập dưới hình thức một Tòa án Hiến pháp, nhưng sau đó còn được thành lập dưới một số hình thức khác như Hội đồng bảo hiến hay Viện bảo hiến...
Mặc dù có tên gọi khác nhau, các thiết chế bảo hiến theo mô hình châu Âu lục địa có những đặc điểm chung như sau: hoạt động bảo hiến được thực hiện trong nhiều bối cảnh khác nhau, tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mỗi quốc gia; cơ quan bảo hiến thông thường không được coi là thuộc nhánh quyền lực tư pháp (kể cả khi có tên gọi là Tòa án Hiến pháp); thủ tục tố tụng khác với thủ tục tố tụng áp dụng ở hệ thống tòa án thường; các cơ quan bảo hiến có quyền tự chủ về hành chính và tài chính; vị thế, quyền hạn, việc thành lập hay bãi bỏ cơ quan bảo hiến thông thường thuộc quyền quyết định của Nghị viện; thẩm phán tòa hiến pháp được chỉ định bởi các cơ quan nắm quyền lực chính trị; thẩm quyền tài phán có tính chất đặc biệt: các phán quyết của cơ quan bảo hiến mang vừa mang tính pháp lý vừa mang tính chính trị; thông thường phán quyết của cơ quan bảo hiến có tính chất bắt buộc, cưỡng chế, nhưng có trường hợp chỉ có tính chất ngăn ngừa, tư vấn; phạm vi bảo hiến bao quát tất cả các văn bản pháp luật. 
(3) Mô hình hỗn hợp (Mỹ - châu Âu lục địa)
Đặc trưng của mô hình này là thẩm quyền bảo hiến được giao cho cả cơ quan bảo hiến chuyên trách và hệ thống tòa án thường. Tuy nhiên, chỉ có cơ quan bảo hiến chuyên trách mới có quyền phán quyết một đạo luật hay quyết định là vi hiến, còn các tòa án thường chỉ có quyền không áp dụng một đạo luật nếu xét thấy nó không hợp hiến.
 Ở những quốc gia đang áp dụng mô hình bảo hiến hỗn hợp, cơ quan bảo hiến chuyên trách cũng có thể là Tòa hiến pháp, Tòa thượng thẩm (high court) hoặc các Tòa đặc biệt (special chambers) của Tòa tối cao.
(4) Mô hình Pháp
Sở dĩ gọi là mô hình Pháp vì mẫu hình của nó là Hội đồng Hiến pháp của Pháp (Conseil Constitutionnel), được thành lập từ năm 1958, có chức năng là một cơ quan bảo hiến. Ở một số nước khác theo mô hình này, Tòa án tối cao cũng có thể là cơ quan bảo hiến, tuy nhiên, trong trường hợp này phán quyết của Tòa chủ yếu chỉ mang tính tham vấn (trừ những vụ việc liên quan đến bầu cử).
(5) Mô hình Nghị viện đồng thời có chức năng bảo hiến
Theo mô hình này, Nghị viện hoặc một cơ quan của Nghị viện sẽ giữ chức năng bảo hiến. Có quan điểm cho rằng, đây là mô hình riêng của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN)6 và một số nước chịu ảnh hưởng của phe XHCN trước đây, tuy nhiên thực tế không hẳn như vậy. Ngoài các nước XHCN trước đây (và hiện nay vẫn còn đang được áp dụng ở Trung Quốc, Cu Ba, Việt Nam, Lào, Bắc Triều Tiên) mô hình này còn thấy ở một số nước khác, bao gồm các nước tư bản chủ nghĩa và quân chủ lập hiến, cụ thể như Phần Lan, Bahrain, Kuwait, Oman, Brunei, Australia...
Hầu hết quốc gia trên thế giới thuộc về một trong số năm mô hình bảo hiến kể trên, tuy nhiên, có một vài quốc gia không thuộc nhóm nào (không có cơ chế bảo hiến), cụ thể như Anh, Hà Lan, Lesotho, Liberia và Libi. Ngoài ra, theo phân loại của Arne Mavčič, còn một mô hình nữa có tên gọi là mô hình Khối thịnh vượng chung mới (the New (British) Commonwealth Model) có duy nhất một quốc gia là Mauritius theo đuổi. Arne Mavčič cho rằng, mô hình này không thể xếp vào bất cứ kiểu nào đã nêu ở trên, tuy nhiên không mô tả rõ ràng những đặc trưng của nó.
 Bên cạnh các cơ quan bảo hiến quốc gia, Arne Mavčič cho rằng, một số cơ quan tài phán quốc tế, đặc biệt là các Tòa án nhân quyền khu vực, cũng có chức năng tài phán hiến pháp ở mức độ nhất định. Những cơ quan đó bao gồm: Tòa án nhân quyền châu Âu (the European Court of Human Rights, trụ sở ở Strasbourg, Pháp); Tòa án Công lý châu Âu (the Court of Justice of the European Community, trụ sở ở Luxembourg); Tòa án của Hiệp hội mậu dịch tự do châu Âu (the Court of EFTA, trụ sở ở Geneva, Thụy Sĩ); Tòa án nhân quyền châu Phi (the African Court of Human Rights) Ủy ban nhân quyền Liên Mỹ (Comision y la Corte Interamericanas de los Derechos Humanos)…
Các hình dưới đây cung cấp những thông tin chi tiết về mức độ phổ biến và phân bố của các mô hình bảo hiến trên thế giới.

 


III. Mối quan hệ giữa nhà nước pháp quyền, chủ nghĩa lập hiến và việc bảo hiến  
Nội dung cốt lõi của tư tưởng pháp quyền là đề cao quyền lực của nhân dân, tôn trọng và bảo đảm quyền con người, sự thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, đặt các thiết chế quyền lực trong sự ràng buộc của Hiến pháp và pháp luật, kiểm soát quyền lực, bảo đảm sự phân quyền, sự độc lập của Tòa án, bảo đảm tính minh bạch của pháp luật.
Một vấn đề cơ bản được đặt ra là: Vì sao trong Nhà nước pháp quyền lại cần đến sự thượng tôn Hiến pháp? Vấn đề này cần được lý giải như sau:
- Trước hết, Nhà nước pháp quyền khác với Nhà nước không pháp quyền ở khả năng bảo đảm tính phổ quát và tính tuyệt đối của chủ quyền của nhân dân, chủ quyền của quốc gia và dân tộc. Về phương diện pháp lý, Hiến pháp với tính cách là bản khế ước của nhân dân, là cơ sở pháp lý cao nhất và đầy đủ nhất bảo đảm sự khẳng định đó. Trong tư cách đó, Hiến pháp có khả năng kết nối các lợi ích xã hội, tạo nên một trật tự hiến định, theo đó sự đồng thuận, giao thoa lợi ích trên nên tảng pháp quyền là đặt trưng chủ đạo nhất của đời sống xã hội và chính trị. Mặt khác, về phương thức điều chỉnh, với tính chất đặc trưng của mình, các quy định mang tính cơ bản và nền tảng của Hiến pháp, những yêu cầu chặt chẽ của quá trình bổ sung, sửa đổi Hiến pháp là điều kiện cho một trật tự pháp lý ổn định cao vốn là đặc trưng của Nhà nước pháp quyền. Về mặt thực tiễn, sự bền vững của trật tự hiến định là nền tảng cho sự vận hành một xã hội ổn định - xã hội của các quan hệ bình đẳng, tự do giữa các chủ thể trong các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội. Sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội đồng thuận là yếu tố không thể thiếu được cho sự vận hành hệ thống chính trị trên cơ sở thừa nhận, ủng hộ của các lực lượng xã hội (tính chính đáng của quyền lực), cho phép loại bỏ đến mức thấp nhất những yếu tố phủ định hoặc chống đối trật tự hiện hữu.
- Chủ nghĩa lập hiến là sự nhận thức về vai trò của Hiến pháp, là sự hiện hữu của Hiến pháp và sự tác động tích cực của nó đến đời sống chính trị và đời sống xã hội. Hiến pháp và trật tự hiến định thực tiễn là hai mặt của chủ nghĩa lập hiến. Khẳng định ở mức cao nhất về mặt pháp lý và bảo đảm thực hiện trong thực tiễn cuộc sống các lợi ích cao nhất, trường tồn và bền vững nhất của đất nước, của dân tộc, chủ nghĩa lập hiến được coi là yếu tố đầu tiên trong thang giá trị của Nhà nước pháp quyền. Bởi vậy, bảo hiến là bảo vệ lợi ích cao nhất, trường tồn nhất, bền vững nhất của đất nước và dân tộc, lợi ích của mỗi cá nhân và của mọi cá nhân, của mỗi giai cấp, tầng lớp. Nói khác đi, đó là bảo vệ chủ quyền của nhân dân.
- Nhà nước pháp quyền khác với Nhà nước không pháp quyền ở việc xử lý mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, giữa quyền lực công với quyền con người. Các tư tưởng về chế độ pháp trị, những hệ thống pháp luật đồ sộ trước đó dù có hoàn hảo đến mấy vẫn chưa vượt qua được logic của sự tùy tiện. Nhà nước pháp quyền đặt quyền con người trong tầm ngắm bảo hộ của nó và ở vị trí chủ đạo, từ đó đặt ra yêu cầu về trách nhiệm bảo đảm, bảo vệ quyền con người từ phía Nhà nước, đòi hỏi sự tự ràng buộc, tự hạn chế của quyền lực trước yêu cầu bảo vệ quyền con người. Là bản khế ước của mọi người, Hiến pháp có hai khả năng quan trọng: một là, những quy định của Hiến pháp về quyền con người là đầy đủ nhất, toàn diện nhất so với những quy định của các đạo luật; hai là, chính sự chế ước và hạn chế quyền lực đã trở thành lá chắn hữu hiệu chống lại sự tùy tiện của quyền lực đối với quyền con người. Vì vậy, Nhà nước pháp quyền cần có Hiến pháp để bảo đảm được cốt cách đặc trưng của nó. Bởi thế, bảo hiến là bảo vệ quyền con người, là thực hiện mục tiêu và đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền.
Trên đây là logic của mối quan hệ: Nhà nước pháp quyền - chủ nghĩa lập hiến - bảo hiến.
IV. Đặc trưng của bảo hiến trong thể chế chính trị tập quyền 
Tư tưởng về bảo hiến bao gồm khía cạnh về một cơ chế hữu hiệu để bảo vệ phần thiểu số trong cơ chế chính trị và bảo vệ lợi ích toàn cục (quốc gia). Điều đó là bởi ở các quốc gia theo chế độ đại nghị, dường như cơ chế giải quyết xung đột giữa lập pháp và hành pháp đã hình thành những công cụ pháp lý khá hữu hiệu, đó là hình thức giải tán Nghị viện trước thời hạn và hình thức giải tán Chính phủ. Bằng những cách đó, thế cân bằng lợi ích luôn được duy trì khi sự cân bằng tỏ ra có vấn đề. Tuy nhiên, khi quyền lập pháp được đặt ở thế thượng phong, nhất là khi lập pháp được đặt ở vị trí tối thượng thì nguyên tắc phân quyền bị phá vỡ. Về hình thức, dường như trong trường hợp này vị thế nghiêng về lập pháp, nhưng thực chất từ khi đó “cơ chế đảng phái” đã bắt đầu xuất hiện. Cơ chế quyền lực nhà nước đã chuyển hóa thành cơ chế quyền lực chính trị. Đa số trong nghị viện thuộc về đảng đa số cầm quyền và nghị viện lúc đó trở thành công cụ thực hiện lợi ích của đảng hoặc liên minh các đảng cầm quyền mà thực chất là sự liên kết giữa lập pháp và hành pháp. Như vậy, nguyên tắc đa số của chế độ đại nghị gắn liền và thể hiện sự lệ thuộc của nghị viện vào chính phủ và đảng chính trị. Phe đối lập chỉ chỉ còn một cách duy nhất là dựa vào một cơ chế bảo vệ là tài phán hiến pháp. Bảo đảm sự cân bằng vốn có của cơ chế phân quyền là chức năng quan trọng của cơ chế tài phán hiến pháp. Nó còn có trách nhiệm bảo vệ lợi ích của thiểu số trong hệ thống đa đảng trong cơ chế phân quyền.
Từ phân tích ở trên, có thể suy ra được vì sao cơ chế quyền lực nhà nước tập trung, không phân quyền, hay còn gọi là tập quyền, lại không cần đến hoặc coi nhẹ vấn đề tài phán hiến pháp. Bởi lẽ, theo cơ chế này, toàn bộ quyền lực về mặt hình thức thuộc về các cơ quan đại biểu cao nhất là Quốc hội. Quốc hội vừa là cơ quan lập hiến, vừa là cơ quan lập pháp, vừa có quyền giải thích, sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Trong bối cảnh đó, nếu nảy sinh những cáo buộc, chỉ trích về một đạo luật nào đó là vi hiến, Quốc hội có thể làm cho nó hợp hiến bằng cách đưa ra giải thích, hoặc sửa đổi hay bãi bỏ nó - tất cả đều nhằm mục đích ‘nắn sửa” đạo luật đó cho phù hợp với Hiến pháp. Một cách khác, Quốc hội thậm chí có thể sửa đổi Hiến pháp để bảo đảm tính hợp hiến của một đạo luật nhất định. Rõ ràng là, trong bối cảnh quyền lực tập trung như vậy, không thực sự xuất hiện nhu cầu bức thiết về một công cụ là tài phán hiến pháp mà thiên chức của nó là bảo đảm cho sự vận hành một cơ chế kiểu khác - cơ chế phân quyền.

(1) Trong bài này, các tác giả sử dụng thay thế các thuật ngữ “bảo hiến”, “bảo vệ hiến pháp”, “tài phán hiến pháp”, mặc dù các khái niệm này đều chưa hoàn toàn phù hợp xét trong ngữ nghĩa pháp lý do chúng có phạm vi quá rộng và không xác định. Ở đây, một điều dễ hiểu đó là, mọi cá nhân, mọi thiết chế, tổ chức, mọi hoạt động đều có nghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ hiến pháp. Từ cách tiếp cận này, khái niệm thích hợp hơn về mặt pháp lý có thể là “kiểm tra, giám sát Hiến pháp”. Kiểm tra, giám sát Hiến pháp có thể hiểu là một chức năng đặc biệt của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo đảm vị trí tối thượng của Hiến pháp và sự thượng tôn Hiến pháp; bảo đảm để Hiến pháp thực hiện một cách trực tiếp trong các quan hệ hiện hữu.

(2)Xem http://www.britannica.com/EBchecked/topic/307542/judicial-review,http://legal-dictionary.thefreedictionary. com/judicial+review
(3) Xem http://www.britannica.com/EBchecked/topic/307542/judicial-review.
(4) Arne Mavčič, Historical Steps in the Development of Systems of ConstitutionalReview and Particularities of Their Basic Models, tại http://www.concourts.net/introen.php.
(5) Arne Mavčič, Historical Steps in the Development of Systems of Constitutional Review and Particularities of Their Basic Models, tại http://www.concourts.net/introen.php
(6) Tuy nhiên, một số học giả nước ngoài dường như không thừa nhận có cơ chế bảo hiến ở các nước theo mô hình XHCN, bởi họ cho rằng, bảo hiến chỉ có thể được xác lập trong các thể chế chính trị tam quyền phân lập - nơi mà tính độc lập của Tòa án được bảo đảm.
GS,TSKH. Đào Trí ÚcChủ tịch Hội đồng ngành Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội; Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương Đảng; Vũ Công Giao - Giảng viên, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.